Thứ Hai, 25/6/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Mặc dù, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần với các mức độ khác nhau, trong đó có lần sửa đổi cơ bản là ban hành BLHS năm 1999, nhưng những bất cập trong các quy định của BLHS về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân vẫn chưa được khắc phục triệt để. Trong bài viết này, chúng tôi muốn đưa ra những hạn chế, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân; trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của BLHS về loại tội phạm này.

1. Khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

Khi quy định trách nhiệm hình sự cũng như nghiên cứu về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, vấn đề cơ bản và đầu tiên cần được giải quyết là phải đưa ra khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Tuy nhiên, BLHS nước ta quy định về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nhưng lại không nêu định nghĩa về loại tội phạm này. Theo chúng tôi, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là một loại tội phạm được quy định trong BLHS. Do vậy, khái niệm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân cũng bao gồm các những dấu hiệu chung của khái niệm tội phạm. Theo đó, các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách có lỗi và phải chịu hình phạt.

Khách thể loại của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là các quan hệ xã hội tồn tại trong quân đội hoặc khi có hoạt động quân sự. Mặt khách quan của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII BLHS và những hành vi nguy hiểm này chỉ có thể xảy ra trong các hoạt động quân sự. Đó không chỉ bao gồm các hành vi xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà còn cả những hành vi: vi phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của những người không phải là quân nhân như dân quân tự vệ, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội; vi phạm pháp luật quốc tế về chiến tranh như hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh, hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự. Chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân bao gồm quân nhân và những người không phải là quân nhân (như dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu, công dân được trưng tập vào phục vụ trong quân đội) thực hiện. Việc đặt tên Chương XXIII BLHS “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” là không bao quát hết các hành vi khách quan được đề cập tại Chương này cũng như chủ thể của loại tội phạm này. Để khắc phục bất cập này, chúng tôi đề nghị đổi tên Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của BLHS thành “Các tội xâm phạm hoạt động quân sự”. Mặt khác, theo quy định tại Điều 315 BLHS thì những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân không chỉ là quân nhân mà còn là những người không phải là quân nhân. Việc quy định người không phải là quân nhân nhưng phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân theo tên gọi của Chương này (Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân) là phi lô gích về mặt ngôn ngữ.

Điều 315 BLHS mới trả lời được câu hỏi ai và khi nào thì phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân mà chưa trả lời được câu hỏi các tội xâm phạm nghĩa vụ trách nhiệm của quân nhân là gì? Để khắc phục những hạn chế, bất cập này chúng tôi đề nghị đổi tên Điều 315 BLHS “Những người phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” thành “Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự”. Nội dung của Điều luật này phải trả lời được các câu hỏi: các tội xâm phạm hoạt động quân sự là gì? được quy định ở đâu? do ai thực hiện? có lỗi hay không?

Ngoài việc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, thì hàng năm dân quân, tự vệ còn được Chỉ huy các đơn vị quân sự địa phương (Ban chỉ huy quân sự huyện, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh) điều động đi học tập chính trị, huấn luyện quân sự tại các trường quân sự. Trong thời hạn đó, dân quân, tự vệ phải thực hiện đầy đủ các chế độ quy định như quân nhân nhưng chưa bị Điều 315 BLHS quy định là chủ thể của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân. Hệ quả là những người này không phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân trong thời gian được điều động vào phục vụ trong quân đội mặc dù theo quy định của Luật dân quân tự vệ, thì họ phải thực hiện các nghĩa vụ và được hưởng đầy đủ các chế độ của quân nhân tại ngũ[1]. Từ những lý do nêu trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi nội dung Điều 315 BLHS và xây dựng khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự như sau:

“Điều … Khái niệm các tội xâm phạm hoạt động quân sự

Các tội xâm phạm hoạt động quân sự là những hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định tại Chương XXIII Bộ luật hình sự, do quân nhân tại ngũ; quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, công dân được điều động hoặc trưng tập vào phục vụ trong quân đội; dân quân, tự vệ trong thời gian huấn luyện hoặc phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu, có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm chế độ hoạt động trong quân đội. 

2. Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng

Các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng bao gồm tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh và tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm được quy định tại các Điều 316, 317 và 318 BLHS.  Với quy định về tên tội danh và mô tả trong điều luật, thì đối tượng tác động của tội chống mệnh lệnh và tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh là “mệnh lệnh” của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền. Theo hướng dẫn thì “mệnh lệnh” là lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng tín hiệu lệnh và bắt buộc cấp dưới phải chấp hành.[2] Vậy chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có phải là đối tượng tác động của các tội phạm này hay không? Hành vi chống lại hoặc chấp hành không nghiêm chỉnh chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm này?

Theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội thì nghĩa vụ của quân nhân là phải “tuyệt đối phục tùng lãnh đạo, chỉ huy, chấp hành nghiêm mệnh lệnh, chỉ thị của cấp trên... [3]. Do đó, “mệnh lệnh” và “chỉ thị” của người chỉ huy hoặc cấp trên là hai khái niệm khác nhau. Xét về nội dung và yêu cầu thì mệnh lệnh và chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền đều có tính bắt buộc cấp dưới phải thi hành. Nhưng về hình thức pháp lý thì chỉ thị của cấp trên chưa chắc đã phải là mệnh lệnh (như chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là văn bản quản lý hành chính), không chỉ bắt buộc đối với các đơn vị quân đội, mọi quân nhân mà cả những người không phải là quân nhân nhưng có liên quan. Ví dụ: Chỉ thị về việc tuyển quân hàng năm là văn bản có giá trị bắt buộc không chỉ đối với những quân nhân làm nhiệm vụ tuyển quân mà còn có giá trị bắt buộc với Hội đồng nghĩa vụ quân sự địa phương và thanh niên trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự. Có những chỉ thị chỉ có giá trị bắt buộc đối với một nhóm quân nhân (là thủ trưởng các đơn vị quân đội) như “Chỉ thị của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng về việc cấm không cho bộ đội đi làm kinh tế...” Chúng tôi cho rằng, chỉ thị của cấp trên có thẩm quyền cũng là đối tượng tác động của tội chống mệnh lệnh và tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh. Việc quy định đối tượng tác động của các tội phạm quy định tại các Điều 316, 317 BLHS chỉ là “mệnh lệnh” là chưa chính xác mà phải làmệnh lệnh, quyết định và chỉ thị của người chỉ huy và cấp trên có thẩm quyền” mới đúng.

Tội chống mệnh lệnh là hành vi công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh hoặc cố ý không thực hiện mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền. Mặt khách quan của tội chống mệnh lệnh thể hiện bởi hành vi: công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh; cố ý không thực hiện mệnh lệnh được giao. Hai hành vi này tuy có điểm chung là hành vi được thực hiện một cách cố ý nhưng có sự khác nhau về hình thức biểu hiện. Hành vi công khai từ chối chấp hành mệnh lệnh thể hiện ở việc người nhận mệnh lệnh công khai từ chối hoặc có hành vi khác làm cho người giao mệnh lệnh biết ngay là mệnh lệnh của mình sẽ không được thực hiện. Còn hành vi cố ý không thực hiện mệnh lệnh được biểu hiện dưới dạng: không thực hiện những hành động được quy định trong mệnh lệnh; thực hiện những hành vi mà mệnh lệnh cấm; thực hiện mệnh lệnh không chính xác về mặt thời gian, địa điểm hoặc tính chất của hành động được ghi trong mệnh lệnh. Cho nên, mặc dù mệnh lệnh không được thực hiện nhưng người giao mệnh lệnh không biết, thậm chí còn tin là mệnh lệnh của mình sẽ được thực hiện như GS.TS. Axmetsina X.M khẳng định.[4] Việc Điều 316 BLHS chỉ quy định “Người nào chống mệnh lệnh của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt...” mà không mô tả hành vi chống mệnh lệnh là gì, theo chúng tôi là chưa chặt chẽ về kỹ thuật lập pháp, chưa khắc phục được bất cập tại Điều 250 BLHS. Chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung các quy định về các tội xâm phạm quan hệ chỉ huy, phục tùng như sau:

- Tội chống mệnh lệnh cần được hoàn thiện theo hướng: bổ sung thêm các đối tượng tác động của tội phạm làquyết định, chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền;”và mô tả hành vi khách quan của tội phạm này là “công khai từ chối chấp hành hoặc cố ý  không thực hiện quyết định, chỉ thị hoặc mệnh lệnh của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền.” Theo đó, tên tội danh cần được sửa đổi là “Tội chống mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền” và nội dung khoản 1 Điều 316 BLHS cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều…. Tội chống mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền

1. Người nào công khai từ chối chấp hành hoặc cố ý  không thực hiện mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền, thì bị phạt...”

- Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh cũng cần được hoàn thiện theo hướng bổ sung thêm đối tượng tác động của tội phạm là “quyết định, chỉ thị của người chỉ huy hoặc cấp trên có thẩm quyền.” Tên tội danh cần được sửa đổi là “Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền”. Nội dung khoản 1 Điều 317 BLHS cần được sửa đổi, bổ sung như sau:

Điều… Tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc cấp trên có thẩm quyền

1. Người nào chấp hành mệnh lệnh, quyết định hoặc chỉ thị của người chỉ huy trực tiếp hoặc của cấp trên có thẩm quyền một cách lơ là, chậm trễ, tùy tiện gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...”

3. Các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ quân đội

Các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ quân đội bao gồm: tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên; tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới; tội làm nhục, hành hung đồng đội được quy định tại các Điều 319, 320 và 321 BLHS. Về mặt khách quan, thì các tội xâm phạm quan hệ đoàn kết nội bộ được thể hiện bởi các hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự; hành hung; dùng nhục hình. Trong đó: xúc phạm nhân phẩm, danh dự là hành vi khách quan của cả ba tội phạm thuộc nhóm này; hành hung là hành vi khách quan của các tội phạm quy định tại các Điều 319 và 321 BLHS; dùng nhục hình chỉ là hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm quy định tại Điều 320 BLHS. Về bản chất và theo giải thích của Từ điển luật học, thì “nhục hình” là ph­ương pháp tra tấn, gây đau đớn về thể xác ng­ười bị điều tra, xét hỏi hoặc bị giam giữ  cải tạo nh­ư đánh đập, bắt nhịn đói, ăn cơm nhạt, không cho uống nư­ớc, bắt nằm lạnh.v.v...”[5] Đây là khái niệm đ­ược dùng để chỉ hành động thuộc lĩnh vực t­ư pháp hình sự trái với quy định của pháp luật về điều tra, xét hỏi, cải tạo, giam giữ. Dùng nhục hình đối với cấp dưới là hàng vi hành hung cấp dưới do người chỉ huy hoặc cấp trên thực hiện bằng cách lợi dụng chức vụ, quyền hạn.[6] Hoạt động quản lý, chỉ huy bộ đội là hoạt động quản lý hành chính quân sự. Như vậy, việc nhà làm luật sử dụng khái niệm “dùng nhục hình” để chỉ hành vi của người chỉ huy hoặc cấp trên hành hung cấp dưới là không chính xác về thuật ngữ.

Việc định tội danh đối với các hành vi nêu trên phụ thuộc vào hoàn cảnh thực hiện hành vi và mối quan hệ quân nhân giữa người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với người bị hại. Cụ thể:

“- Nếu giữa người thực hiện hành vi nêu trên với người bị hại có quan hệ công tác, thì hành vi làm nhục, hành hung bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung chỉ huy hoặc cấp trên theo quy định tại Điều 319 BLHS khi người phạm tội là cấp dưới của người bị hại;

- Nếu người phạm tội là cấp trên của người bị hại, thì hành vi làm nhục, dùng nhục hình bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới theo quy định tại Điều 320 BLHS;

- Nếu giữa người thực hiện hành vi nêu trên với người bị hại không có quan hệ công tác, thì hành vi làm nhục, hành hung bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung đồng đội theo quy định tại Điều 321 BLHS.”[7]

Theo chúng tôi, thì việc quy định một loại hành vi nguy hiểm cho xã hội (làm nhục, hành hung) thành ba tội phạm khác nhau là không cần thiết, không bảo đảm sự bình đẳng trách nhiệm hình sự giữa các quân nhân, những người có nghĩa vụ, trách nhiệm như quân nhân và không bảo đảm thống nhất trong áp dụng pháp luật. Về kỹ thuật lập pháp, thì quy định tại các điều luật nêu trên cũng không thống nhất với quy định tại Điều 8, Điều 20 BLHS “Tội phạm là hành vi...”và “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm”. Xin nêu một ví dụ để chứng minh:

Nguyễn Văn A là Tiểu đội trưởng Tiểu đội 1 Trung đội 1. Khi Nguyễn Văn A đang thực hiện hành vi làm nhục, hành hung Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2 thì Nguyễn Văn B là quân nhân thuộc Tiểu đội 2 đến bênh đồng hương và cùng với Nguyễn Văn A làm nhục, hành hung Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2. 

Trong trường hợp nêu trên, tuy Nguyễn Văn B chỉ là người đồng thực hành (hành vi làm nhục, hành hung) với Nguyễn Văn A nhưng mỗi người lại bị truy cứu trách nhiệm về một tội khác nhau. Nguyễn Văn A bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung đồng đội theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Còn Nguyễn Văn B bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục, hành hung người chỉ huy theo quy định tại khoản 1 Điều 319BLHS. Nguyễn Văn B có thể bị phạt nặng hơn Nguyễn Văn A vì chế tài quy định tại khoản 1 Điều 319 nặng hơn chế tài quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.

Hơn nữa, về lý thuyết thì tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên, tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới và tội làm nhục hành hung đồng đội có thể xảy ra trong chiến đấu hoặc khi không chiến đấu. Hành vi phạm các tội nêu trên được thực hiện trong chiến đấu có tính nguy hiểm cao hơn nên cần trừng trị nghiêm khắc hơn nhưng “phạm tội trong chiến đấu” không được quy định là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội phạm này là một hạn chế của BLHS.

Do đó, cần thiết phải sửa đổi các tội làm nhục, hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên, tội làm nhục hoặc dùng nhục hình đối với cấp dưới và tội làm nhục, hành hung đồng đội bằng hai tội độc lập là tội làm nhục đồng đội và tội hành hung đồng đội. Trong đó:

- Tội làm nhục đồng đội là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự người chỉ huy, cấp trên, cấp dưới hoặc đồng đội. Như vậy, đối tượng tác động của tội phạm này là người chỉ huy, cấp trên, cấp dưới hoặc đồng đội. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi thì: hành vi làm nhục đồng đội ít nghiêm trọng hơn hành vi làm nhục người chỉ huy hoặc cấp trên do đối tượng bị tác động là người chỉ huy hoặc cấp trên; hành vi làm nhục đồng đội cũng ít nghiêm trọng hơn hành vi làm nhục cấp dưới do người thực hiện hành vi này là người chỉ huy hoặc cấp trên. Cho nên, có thể quy định “hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự đồng đội” là dấu hiệu định tội; còn phạm tội đối với người chỉ huy, cấp trên hoặc cấp dưới là dấu hiệu định khung hình phạt. Cụ thể như sau:

“Điều...Tội làm nhục đồng đội

1. Người nào trong quan hệ công tác mà xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự đồng đội, thì bị phạt...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt...:

a) Đối với người chỉ huy trực tiếp, cấp trên hoặc cấp dưới...”

- Tội hành hung đồng đội là hành vi xâm phạm sức khỏe của đồng đội. Trong đó, hành vi xâm phạm sức khỏe của đồng đội (của người ngang cấp, ngang chức) ít nguy hiểm hơn hành vi xâm phạm sức khỏe người chỉ huy, cấp trên hoặc cấp dưới. Chính sách hình sự đối với từng trường hợp nêu trên cũng khác nhau và đã từng được thể hiện tại khoản 2 các Điều 319, 320 và 321 BLHS. Mặc dù tại khoản 2 của các điều luật nêu trên đều quy định 3 tình tiết định khung hình phạt là phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nhưng chế tài được quy định (loại và mức hình phạt) với từng tội phạm có sự khác. Sự khác nhau này là cần thiết về đường lối xử lý khi cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Để khắc phục những bất cập của việc quy định thành ba tội độc lập nêu trên mà vẫn đảm bảo có sự khác nhau cần thiết về đường lối xử lý khi cá thể hóa trách nhiệm hình sự đối với từng chủ thể, chúng tôi đề nghị: thay cụm từ “dùng nhục hình đối với cấp dưới” bằng cụm từ “hành hung cấp dưới” tại Điều 320 BLHS; gộp các tội hành hung người chỉ huy hoặc cấp trên, tội dùng nhục hình đối với cấp dưới và tội hành hung đồng đội quy định tại các Điều 319, 320 và 321 BLHS thành một điều luật với một tội danh mới “Tội hành hung đồng đội”; quy định “hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho đồng đội chưa đến mức cấu thành tội cố ý gây thương tích” là dấu hiệu định tội; còn phạm tội đối với người chỉ huy, cấp trên hoặc cấp dưới là dấu hiệu định khung hình phạt. Điều luật quy định về tội phạm này có thể là:

“Điều ... Tội  hành hung đồng đội

1. Người nào trong quan hệ công tác mà cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của đồng đội mà tỷ lệ thương tật chưa đến 11%, thì bị phạt...  

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt...:

a) Phạm tội đối với người chỉ huy,  cấp trên hoặc cấp dưới…”.

4. Các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu

Các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: tội đầu hàng địch, tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu, tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm và tội ngược đãi tù binh, hàng binh; được quy định tại các Điều 322, 323, 324, 336, 337 và 340 BLHS. Các tội phạm này được quy định trong pháp luật hình sự của tất cả các nước có tổ chức quân đội không phụ thuộc vào chế độ chính trị của Nhà nước. BLHS Vương quốc Thụy Điển quy định các hành vi sau đây thuộc nhóm các tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu: khai báo tin tức cho địch; ở lại lãnh thổ của kẻ thù; giao nộp cho kẻ thù vị trí chiến đấu, phương tiện chiến tranh; nộp mạng chính mình hoặc đơn vị mình cho địch; không thực hiện nhiệm vụ trong chiến đấu.[8] Theo quy định của BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, thì các hành vi phạm tội xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu bao gồm: tự động bỏ vũ khí đầu hàng; tháo chạy khi lâm trận; khi ở trong chiến trường biết chiến sỹ ở đơn vị khác gặp nguy hiểm yêu cầu cứu viện, có khả năng mà không cứu viện; khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu, rời bỏ vị trí phản bội chạy ra nước ngoài hoặc ở nước ngoài làm những việc gây nguy hại đến lợi ích quân sự của Nhà nước; khi thi hành nhiệm vụ chiến đấu, điều khiển máy bay, chiến thuyền phản bội, bỏ chạy; cố ý bỏ rơi quân nhân bị bệnh trong chiến trường; không cứu chữa quân nhân bị thương trong chiến trường; tàn sát người dân vô tội hoặc cướp bóc tài sản trong khu vực có chiến sự; ngược đã tù binh.[9]BLHS Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga trước đây cũng quy định trách nhiệm hình sự đối với một loạt hành vi xâm phạm chế độ kỷ luật chiến đấu như: bỏ vị trí chiến đấu, giao nộp hoặc để lại cho địch phương tiện chiến đấu; bỏ trận chiến hoặc từ chối thực hiện hành động chiến đấu; tự nguyện làm tù binh; tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh; chiếm đoạt tài sản của người bị thương hoặc bị chết trong trận chiến; tàn sát hoặc cướp bóc tài sản của dân thường trong khu vực có hành động quân sự; đối xử tàn ác với tù binh.[10]

Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm kỷ luật chiến đấu, chúng tôi thấy:

- Tội bỏ vị trí chiến đấu là hành vi bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu. Trong đó: bỏ vị trí chiến đấu là hành vi tự ý bỏ vị trí chiến đấu đã được phân công mà không được phép của người chỉ huy có thẩm quyền; không làm nhiệm vụ trong chiến đấu là hành vi của người đang làm nhiệm vụ chiến đấu tuy vẫn có mặt ở vị trí chiến đấu nhưng không làm nhiệm vụ được phân công. Như vậy, tên tội danh là “bỏ vị trí chiến đấu” không bao quát hết các hành vi khách quan được mô tả tại khoản 1 Điều này.

- Về tội đầu hàng địch và tội bỏ vị trí chiến đấu, thì tại điểm b khoản 2 của các Điều 322 và 324 BLHS quy định “Giao nộp tài liệu quan trọng cho địch, bỏ tài liệu quan trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2003/ TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP-BQP ngày 11/8/2003 của TAND tối cao, VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Quốc phòng hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XXIII “Các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân” của BLHS năm 1999, thì Tài liệu quan trọng" được hiểu là tài liệu bí mật công tác quân sự hoặc tuy không phải là tài liệu bí mật công tác quân sự nhưng ảnh hưởng lớn đến việc đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị. Ví dụ: tài liệu về tổ chức, biên chế, trang bị, kế hoạch công tác của đơn vị, các tài liệu đảm bảo cho hoạt động của đơn vị v.v...[11] Cho nên, không thể áp dụng điểm b khoản 2 của các Điều 322 và 324 BLHS đối với trường hợp giao nộp cho địch tài liệu bí mật nhà nước khi đầu hàng địch hoặc bỏ tài liệu bí mật nhà nước khi bỏ vị trí chiến đấu. Nhưng tại Điều 263 BLHS lại chưa quy định là tội phạm trường hợp giao nộp cho địch tài liệu bí mật nhà nước khi đầu hàng địch hoặc bỏ tài liệu bí mật nhà nước khi bỏ vị trí chiến đấu.

- Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu được quy định tại Điều 336 BLHS như sau:

“1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người nào chiếm đoạt di vật của tử sĩ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.”

Như vậy, tại Điều 336 BLHS quy định hai nhóm hành vi phạm tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu là: cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh; và chiếm đoạt di vật của tử sĩ. Chủ thể của nhóm hành vi bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là người có trách nhiệm trong việc: chuyển hoặc tổ chức vận chuyển thương binh, tử sỹ ra khỏi trận địa; chăm sóc, cứu chữa hoặc tổ chức chăm sóc, cứu chữa thương binh. Còn chủ thể của hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ là bất cứ người nào được quy định tại Điều 315 BLHS có năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi không chăm sóc, cứu chữa thương binh có thể xảy ra cả trong chiến đấu, trên trận chiến và trong quá trình phục vụ chiến đấu ở hậu cứ nhưng tên tội danh quy định tại Điều 336 BLHS chỉ giới hạn không gian hành vi bị truy cứu trách nhiệm hình sự là “trong chiến đấu”. Đối tượng tác động của hành vi bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là tính mạng, sức khỏe thương binh và thi hài tử sỹ. Trong khi đối tượng tác động của hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ là “những vật của tử sỹ để lại tuy không có giá trị về tài sản hoặc giá trị về tài sản không đáng kể, nhưng lại có giá trị về tinh thần đối với thân nhân của tử sỹ như ảnh, huân chương, huy chương, nhật ký...”[12]

Trách nhiệm hình sự đối với hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh được quy định tại khoản 1, 2 và 3; còn trách nhiệm hình sự đối với hành vi chiếm đoạt di vật của tử sĩ được quy định tại khoản 4 Điều luật này. Như vậy, về kỹ thuật lập pháp thì việc quy định hai nhóm hành vi nguy hiểm cho xã hội có đối tượng tác động và chủ thể khác nhau vào cùng một điều luật với cùng một tên tội danh là không hợp lý. Sự bất hợp lý này còn dẫn tới hệ quả không đồng bộ với quy định tại Điều 47 BLHS về việc quyết định hình phạt nhẹ hơn. Bởi vì, tại Điều 336 BLHS quy định bốn khung hình phạt, trong đó khoản 1 là tình tiết định tội “vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” đối với hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sỹ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng; khoản 2 và 3 là những tình tiết tăng năng định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội nêu trên; khoản 4 là tình tiết định tội “vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu” đối với hành vi chiếm đoạt di vật của tử sỹ. Hình phạt quy định tại khoản 3 nặng hơn hình phạt quy định tại khoản 4. Vậy, khi xử phạt bị cáo về tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu theo quy định tại khoản 4 Điều 336 và trong trường hợp áp dụng Điều 47 BLHS thì có thể quyết định hình phạt theo mức quy định tại khoản 3 điều luật này hay không? Nếu có, thì đây là trường hợp quyết định hình phạt nặng hơn quy định của BLHS chứ không phải là “quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS” như quy định tại Điều 47 BLHS. 

- Tại Điều 340 BLHS cũng chỉ mới quy định “Người nào ngược đãi tù binh, hàng binh, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm” mà không mô tả hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh. Trong khi đó, Công ước Geneve ngày 12/8/1949 về cách đối xử với tù binh quy định: “Trong mọi trường hợp, bản thân và danh dự của tù binh phải được quyền tôn trọng. Mọi hành vi hoặc mọi bất động bất hợp pháp của quốc gia giam giữ làm thiệt mạng hoặc làm phương hại trầm trọng đến sức khỏe của một tù binh thuộc quyền họ đều bị cấm chỉ và coi như là một sự vi phạm nặng nề đối với Công ước này. Đặc biệt là không được hủy hoại thân thể một tù binh hoặc dùng họ để  thí nghiệm về y học hay khoa học, dưới bất cứ hình thức nào nếu cuộc thí nghiệm đó không phải là để điều trị cho tù binh đương sự hoặc vì lợi ích của chính bản thân họ. Các tù binh lúc nào cũng phải được bảo vệ, nhất là đối với những hành vi bạo hành hay đe dọa và đối với sự lăng nhục và sự hiếu kỳ của dân chúng. Cấm thi hành những biện pháp trả thù đối với tù binh.[13]. Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước, thấy: BLHS nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quy định “ngược đãi tù binh, có tình tiết xấu thì bị phạt đến 3 năm tù.[14]; BLHS Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga quy định “Nhiều lần ngược đãi hoặc đối xử tàn ác hoặc hành vi chống lại tù binh ốm, bị thương, cũng như không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh bị ốm, bị thương nếu không có dấu hiệu của tội nặng hơn, thì bị phạt tù từ một năm đến ba năm.[15] Theo chúng tôi, BLHS nước ta cũng nên mô tả hành vi ngược đãi tù binh, hàng binh là gì. Hình phạt đối với người phạm tội ngược đãi tù binh cũng cần được quy định tương đồng với quy định của pháp luật hình sự các nước trên thế giới.

Để khắc phục những bất cập nêu trên, theo chúng tôi, cần hoàn thiện dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội bỏ vị trí chiến đấu, tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu, tội ngược đãi tù binh, hàng binh. Cụ thể như sau:

Tội bỏ vị trí chiến đấu cần hoàn thiện theo hướng: đặt tên tội danh là “Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu”; quy định “hành vi tự ý rời bỏ hoặc không có mặt ở vị trí chiến đấu một cách trái phép hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu” là dấu hiệu định tội. Điều luật quy định về tội phạm này có thể là:

“Điều... Tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu

1. Người nào tự ý rời bỏ vị trí chiến đấu một cách trái phép hoặc không có mặt ở vị trí chiến đấu đã được phân công mà không có lý do chính đáng hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, thì bị phạt....”

Tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sĩ trong chiến đấu cần tách thành hai tội là: tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh và tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh. Trong đó:

+ Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh là hành vi cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh do những người có trách nhiệm trong việc chuyển hoặc tổ chức vận chuyển thương binh, tử sỹ ra khỏi trận địa hoặc chăm sóc, cứu chữa thương binh thực hiện. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

“Điều... Tội cố ý bỏ thương binh, tử sĩ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh  

1. Người nào có trách nhiệm mà cố ý bỏ thương binh, tử sĩ tại trận địa hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt....”

+ Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh là hành vi chiếm đoạt hoặc hủy hoại đồ vật của thương binh, tử sỹ không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Chương “Các tội xâm phạm sở hữu”. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

 “Điều... Tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu 

1. Người nào chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu nếu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại Chương “Các tội xâm phạm sở hữu” thì bị phạt...”

Tội ngược đãi tù binh là hành vi xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; hành hung hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh bị ốm, bị thương gây hậu quả nghiêm trọng. Cho nên, tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

“Điều… Tội ngược đãi tù binh, hàng binh

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự; hành hung hoặc không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc cứu chữa, chăm sóc tù binh, hàng binh bị ốm, bị thương gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt...”

Nước ta đã gia nhập các Công ước Gieneve ngày 12/8/1949 (bao gồm: Công ước về việc cải thiện số phận của những thương nhân và bệnh nhân của các lực lượng vũ trang trên chiến trường; Công ước về cải thiện số phận của những thương nhân, bệnh nhân và các người bị đắm tầu thuộc các lực lượng vũ trang trên mặt biển; Công ước về cách đối xử đối với tù binh; Công ước về việc bảo vệ các thường dân trong thời kỳ chiến tranh; và Nghị định thư (số I) bổ sung các Công ước nêu trên về bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang mang tính chất quốc tế). Theo quy định tại Pháp lệnh về ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, thì: “Trong trường hợp việc thực hiện điều ước quốc tế đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thì cơ quan nhà nước hữu quan có trách nhiệm tự mình hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hoặc ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật”[16]; theo thông lệ quốc tế thì các nước tham gia các Công ước Gieneve ngày 12/8/1949 đều quy định là tội phạm quân sự đối với những hành vi vi phạm những điều cấm của các Công ước nêu trên (như Liên bang Nga và Cộng hòa nhân dân Trung Hoa…). Việc quy định trách nhiệm hình sự đối với hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản trong khu vực có chiến sự không những thể hiện trách nhiệm pháp lý của Nhà nước ta trong việc tham gia các Công ước quốc tế nêu trên mà còn có ý nghĩa răn đe, phòng ngừa tội phạm. Do vậy, chúng tôi đề nghị cần tội phạm hóa hành vi tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản trong khu vực có chiến sự. Theo đó, tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản trong khu vực có chiến sự là hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có hoạt động quân sự. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội phạm này có thể như sau:

Điều... Tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự

1. Người nào cố ý gây thương tích, giết hại, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của dân thường trong khu vực có chiến sự gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt…”

5. Các tội xâm phạm chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.

Các tội xâm phạm chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ gồm tội đào ngũ và tội trốn tránh nhiệm vụ được quy định tại các Điều 325, 326 BLHS.   

- Điều 325 BLHS quy định tội đào ngũ là “hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến”. Theo chúng tôi, rời bỏ hàng ngũ quân đội bao gồm: rời bỏ đơn vị một cách trái phép, không có mặt tại đơn vị theo quy định. Rời bỏ đơn vị một cách trái phép là tự ý đi khỏi đơn vị, nơi công tác hoặc nơi điều trị, điều dưỡng một cách trái phép nhằm trốn tránh việc tiếp tục phục vụ trong quân đội. Không có mặt tại đơn vị một cách trái phép là hành vi không đến đơn vị, không đến nơi công tác, nơi điều trị, điều dưỡng một cách trái phép nhằm trốn tránh việc tiếp tục phục vụ trong quân đội; đây là hành vi rời bỏ đơn vị một cách hợp pháp khi những người này được chuyển đơn vị, chuyển nơi công tác nhưng không đến đơn vị mới hoặc nơi được cử đến công tác hoặc sau khi ra viện, sau điều dưỡng, nghỉ phép, tranh thủ, sau đợt công tác không trở lại đơn vị với mục đích trốn tránh việc tiếp tục phục vụ trong quân đội. Việc dùng thuật ngữ “rời bỏ hàng ngũ quân đội” để mô tả hành vi khách quan của tội đào ngũ là quá khái quát và dễ nhầm với hành virời bỏ đơn vị.”

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 325 BLHS thì về lý luận có ba trường hợp phạm tội đào ngũ như sau: (1) Phạm tội đào ngũ do đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm. Đây là trường hợp người phạm tội đã thực hiện nhiều lần hành vi bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép và có ít nhất một lần đã bị xử lý kỷ luật, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị kỷ luật nay lại thực hiện hành vi đào ngũ. (2) Phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép gây hậu quả nghiêm trọng. (3) Phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép trong thời chiến. Để truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội đào ngũ trong trường hợp này chỉ cần có hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt ở đơn vị một cách trái phép nhằm trốn tránh nghĩa vụ mà không cần có một trong hai điều kiện: đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng.

Bản chất của tội đào ngũ là hành vi tự ý rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép với mục đích trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Tội đào ngũ là tội phạm kéo dài nên tội phạm đã hoàn thành, nhưng hoạt động phạm tội đào ngũ vẫn chưa chấm dứt. Do đó, trong ba trường hợp phạm tội đào ngũ theo quy định tại khoản 1 Điều 325 BLHS, chỉ có trường hợp thứ hai “phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong Quân đội gây hậu quả nghiêm trọng” và trường hợp thứ ba “phạm tội đào ngũ do thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị hoặc không có mặt tại đơn vị một cách trái phép trong thời chiến nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong Quân đội” thỏa mãn các dấu hiệu thuộc về bản chất của tội đào ngũ. Còn trường hợp thứ nhất “phạm tội đào ngũ do đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi phạm” không thỏa mãn các dấu hiệu thuộc về bản chất của tội đào ngũ. Đây chỉ là trường hợp rời bỏ đơn vị một thời gian sau đó lại có mặt và bị xử lý kỷ luật, chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị kỷ luật nay lại thực hiện hành vi rời bỏ đơn vị. Hành vi này không không thể hiện mục đích trốn tránh nghĩa vụ tiếp tục phục vụ trong Quân đội. Bởi lẽ, nếu trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong Quân đội thì người thực hiện hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội sẽ không trở lại đơn vị nữa. Do vậy, có thể kết luận, bản chất hành vi rời bỏ đơn vị quân đội sau đó lại trở về đơn vị là hành vi vắng mặt trái phép. Mặt khác, theo Điều lệnh quản lý bộ đội, thì thủ tục xử lý kỷ luật quân nhân được thực hiện theo các bước như sau:

“- Quân nhân có sai phạm tự kiểm điểm trước tập thể và nhận hình thức xử phạt;

- Tập thể đơn vị phân tích, phê bình, tham gia ý kiến vào việc xử phạt;

- Trước khi kết luận người chỉ huy phải kiểm tra, xác minh và gặp quân nhân có sai phạm để họ trình bày ý kiến;

- Báo cáo cấp ủy Đảng thông qua;

- Ra quyết định hoặc đề nghị cấp trên quyết định xử phạt theo phân cấp;

- Tổ chức công bố quyết định xử phạt, báo cáo lên cấp trên và lưu trữ hồ sơ ở đơn vị."[17]

Như vậy, theo quy định của Điều lệnh quản lý bộ đội, thì chỉ có thể kỷ luật được người thực hiện hành vi vắng mặt trái phép mà không thể kỷ luật được quân nhân đào ngũ vì sau khi đảo ngũ họ không quay trở lại đơn vị. Với quy định như Điều 325 BLHS, nhà làm luật gọi “người vắng mặt trái phép” là “người đào ngũ”. Việc áp dụng Điều 325 BLHS xử phạt “người vắng mặt trái phép” về tội đào ngũ là đúng người nhưng không đúng tội. Để khắc phục những bất cập nêu trên, chúng tôi cho rằng, cần tội phạm hóa hành vi vắng mặt trái phép và thiết kế lại dấu hiệu cấu thành tội đào ngũ, theo hướng:

- Đối với tội đào ngũ cần mô tả “hành vi tự ý rời bỏ đơn vị một cách trái phép hoặc không có mặt tại đơn vị theo quy định nhằm trốn tránh nghĩa vụ phục vụ trong quân đội” là dấu hiệu định tội và chỉ truy cứu trách nhiệm trường hợp đã bị kỷ luật hoặc xử phạt hành chính mà còn vi phạm. Theo đó cần sửa đổi khoản 1 Điều 325 BLHS như sau:

Điều… Tội đào ngũ

1.Người nào tự ý đi khởi đơn vị hoặc không đến đơn vị đúng hạn định nhằm trốn tránh nghĩa vụ, đã bị kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt...”

- Tội vắng mặt trái phép là hành vi tự ý đi khỏi đơn vị, nơi công tác hoặc nơi điều trị, điều dưỡng hoặc không trở lại đơn vị, không đến đơn vị mới, nơi công tác, nơi điều trị, nơi điều dưỡng đúng thời hạn quy định. Theo chúng tôi, chỉ nên truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực hiện hành vi vắng mặt trái phép trong các trường hợp: vi phạm nhiều lần, đã bị xử phạt kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm, hoặc gây hậu quả nghiêm trọng. Tên tội danh và cấu thành cơ bản của tội vắng mặt trái phép có thể như sau:

“Điều ... Tội vắng mặt trái phép

1. Người nào không được phép mà đi khỏi đơn vị hoặc không đến đơn vị đúng thời hạn quy định nhiều lần, đã bị xử lý kỷ luật hoặc bị xử phạt hành chính mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt…”

6. Các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân  

Các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân bao gồm: tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự; tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự; tội báo cáo sai; tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, tội vi phạm các quy định về bảo vệ; tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện; được quy định tại các Điều 326, 327, 328, 329, 330, 331 và 332 BLHS. Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm chế độ công tác hàng ngày của quân nhân, chúng tôi thấy:

- Tại Điều 327 BLHS quy định hai tội là: tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự. Trong đó:

+ Đối tượng tác động của tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự là bí mật công tác quân sự; đối tượng tác động của tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự là tài liệu bí mật công tác quân sự.

+ Mặt khách quan của tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự thể hiện bởi hành vi làm cho người khác biết về những bí mật công tác quân sự. Hành vi cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự có thể được thực hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hành động cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự được thể hiện ở việc nói, giới thiệu, cho hoặc cho xem, cho sao chụp hoặc cho người khác ghi, chép những nội dung thuộc bí mật công tác quân sự. Không hành động phạm tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự là việc không thực hiện những qui định về việc bảo quản, giữ gìn, cất giữ, che đậy như trường hợp đang sử dụng tài liệu bí mật công tác quân sự mà có người khác tới nhưng không cất, che đậy... với mục đích để cho người khác biết được nội dung bí mật đó. Tội phạm hoàn thành từ thời điểm người thứ hai không có trách nhiệm biết được bí mật đó. Còn mặt khách quan của tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự được thể hiện bởi các hành vi chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự. 

+ Chủ thể của tội cố ý làm lộ bí một công tác quân sự là những người có trách nhiệm nên được biết bí mật công tác quân sự (được quy định tại Điều 315 BLHS); còn chủ thể của tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự không phải là người có trách nhiệm và được biết bí mật công tác quân sự (được quy định tại Điều 315 BLHS). Do vậy, theo chúng tôi, chính sách hình sự đối với người thực hiện từng tội phạm cụ thể này cũng cần có sự khác nhau. Theo đó, người phạm tội cố ý làm lộ bí một công tác quân sự cần phải bị xử phạt nặng hơn người phạm tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự.

Như vậy, tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự là hai tội phạm khác nhau về đối tượng tác động, hành vi khách quan, chủ thể của tội phạm. Cho nên, về chính sách hình sự thì việc quy định tại cùng một điều luật hai tội phạm khác nhau về bản chất là chưa phù hợp.

- Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự và làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự cũng là hai tội phạm khác nhau về đối tượng tác động và hành vi khách quan của tội phạm; việc quy định hai tội phạm này tại cùng một điều luật cũng là một bất cập về kỹ thuật lập pháp. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng, phải quy định tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự  trong cùng một điều luật và cùng chung một hình phạt với lý do: trường hợp thu lại được tài liệu đã bị mất, thì chỉ có hành vi “làm lộ” mà không có hành vi “làm mất” tài liệu bí mật công tác quân sự.[18] Chúng tôi không đồng tình với quan điểm nêu trên, bởi vì khi định tội danh với hành vi làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự phải căn cứ vào hành vi khách quan và thời điểm hoàn thành của tội phạm. Việc thu lại được tài liệu đã bị mất (sau khi tội phạm đã hoàn thành) không ảnh hưởng tới việc định tội danh.

Để khắc phục các bất cập nêu trên, chúng tôi đề nghị:

- Quy định hai tội phạm độc lập là tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự và tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự tại hai điều luật độc lập như sau:

“Điều ...  Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự

1. Người nào cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 80 và Điều 263 của Bộ luật này, thì bị phạt…

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt…”

“Điều ... Tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự

1. Người nào chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định ở Điều 263 của Bộ luật này, thì bị phạt...

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt...”

- Quy định hai tội phạm độc lập là tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; và tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự tại hai điều luật khác nhau như sau:

 “Điều... Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự

1. Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 264 của Bộ luật này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

Điều... Tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự

1. Người nào làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 264 của Bộ luật này, thì bị phạt…

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt…”

7. Các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự

Các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự bao gồm: tội vi phạm quy định về sử dụng vũ khí quân dụng; tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; tội làm mất hoặc vô ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự; được quy định tại các Điều 333, 334 và 335 BLHS. Nghiên cứu quy định của BLHS về các tội xâm phạm chế độ, quy tắc bảo quản, sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, chúng tôi thấy:

- Điều 334 BLHS quy định “Người nào hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 và Điều 231 Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Cho nên, mặt khách quan của tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thể hiện bởi hành vi hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Cụ thể, đó là hành vi đập phá, đốt cháy, dùng hóa chất, ngâm nước... làm mất hoàn toàn (không thể khôi phục lại) giá trị sử dụng của vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Như vậy, BLHS hiện hành không quy trách nhiệm hình sự của hành vi “cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự”.  Trong khi BLHS một số nước như Liên bang cộng hòa Xô viết Nga trước đây, Liên bang Nga hiện nay quy định trách nhiệm hình sự của hành vi “cố ý hủy hoại hoặc làm hư hỏng vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự là hoàn toàn chính xác về kỹ thuật lập pháp.[19] Để khắc phục bất cập đó, chúng tôi đề nghị sửa đổi, bổ sung tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo hướng đổi tên tội danh là “Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự” và bổ sung hành vi “cố ý làm hư hỏng…” vào khoản 1 Điều 334 BLHS như sau:

“Điều... Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự 

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 và Điều 231 của Bộ luật này, thì bị phạt …”

8. Hoàn thiện các tình tiết định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân

- Theo quy định tại các điều từ Điều 316 đến Điều 340 BLHS, thì các tình tiết sau đây được coi là những tình tiết định khung hình phạt của một số tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân: là chỉ huy hoặc sỹ quan; phạm tội trong chiến đấu; phạm tội trong khu vực có chiến sự; phạm tội trong thời chiến; phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác; lôi kéo người khác phạm tội; dùng vũ lực; giao nộp, vứt bỏ hoặc mang theo vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu quan trọng; đối xử tàn ác với tù binh khác; chiến lợi phẩm có giá lớn hoặc rất lớn; phạm tội trong khu vực đã có lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp; gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Nghiên cứu quy định của BLHS về các tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nêu trên chúng tôi thấy:

+ Sỹ quan là cán bộ quân đội được Nhà nước phong quân hàm cấp úy, cấp tá, cấp tướng; chỉ huy là cán bộ quân đội có chức vụ từ trung đội trưởng và tương đương trở lên. Do vậy, việc sỹ quan hoặc người chỉ huy cố ý thực hiện tội phạm sẽ nguy hiểm hơn việc hạ sỹ quan, binh sỹ, quân nhân chuyên nghiệp, công dân được điều động hoặc trưng tập vào phục vụ trong quân đội, dân quân, tự vệ phối thuộc với quân đội trong chiến đấu hoặc phục vụ chiến đấu thực hiện. Nhưng theo quy định tại Chương XXIII BLHS thì “Là chỉ huy hoặc sỹ quan” mới chỉ được coi là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội đầu hàng địch, tội khai báo hoặc tự nguyện làm việc cho địch khi bị bắt làm tù binh, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ, tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại chiến lợi phẩm và tội quấy nhiễu nhân dân. Chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết này là tình tiết định khung hình phạt của một số tội cố ý xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân sau đây: tội làm nhục đồng đội; tội hành hung đồng đội (là những tội được tách ra và thay thế các tội phạm quy định tại Điều 319, 320 và 321 BLHS); tội vắng mặt trái phép (là tội mới được tội phạm hóa); tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự; tội báo cáo sai, tội vi phạm các quy định về bảo vệ; tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc cứu chữa thương binh; tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu (hai tội phạm này được đề nghị tách ra từ tội vi phạm chính sách đối với thương binh, tử sỹ trong chiến đấu); tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự (là tội phạm mới được đề nghị).

+ “Phạm tội trong chiến đấu” là phm tội trong thời gian người phạm tội đang trực tiếp chiến đấu hoặc trực tiếp phục vụ chiến đấu; được quy định là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban, tội vi phạm các quy định về bảo vệ và tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự. Theo chúng tôi, thì hành vi làm nhục, hành hung đồng đội và hành vi đào ngũ trong khi đang làm nhiệm vụ chiến đấu cũng rất nguy hiểm. Tuy nhiên, cân nhắc việc quy định “phạm tội trong chiến đấu” hay “phạm tội trong khu vực có chiến sự” là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của tội làm nhục đồng đội, tội hành hung đồng đội (mà chúng tôi sẽ trình bày dưới đây), thì chúng tôi chọn tình tiết “phạm tội trong khu vực có chiến sự”. Do vậy, chúng tôi chỉ đề nghị bổ sung tình tiết “phạm tội trong chiến đấu” là tình tiết định khung hình phạt của tội đào ngũ.

+ “Phạm tội trong khu vực có chiến sự” là phạm tội trong khu vực đang có các hoạt động tác chiến quân sự giữa ta và địch; được quy định là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh, tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, tội hủy hoại vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và tội quấy nhiễu nhân dân. Theo chúng tôi, hành vi phạm các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân sau đây trong khu vực có chiến sự rất nguy hiểm cần xử phạt nghiêm khắc hơn: tội làm nhục đồng đội; tội hành hung đồng đội; tội đào ngũ; tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội chiếm đoạt, mua bán hoặc tiêu hủy tài liệu bí mật công tác quân sự; tội báo cáo sai, tội vi phạm các quy định về trực chiến, trực chỉ huy, trực ban; tội vi phạm các quy định về bảo vệ. Để có căn cứ pháp lý xử phạt nghiêm khắc hành vi phạm các tội nêu trên trong khu vực có chiến sự và đồng thời với việc tội phạm hóa hành vi vắng mặt trái phép, chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết “phạm tội trong khu vực có chiến sự” làm tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội phạm này.

+ “Lôi kéo người khác phạm tội” là hành vi dụ dỗ, thuyết phục, mua chuộc, đe dọa... người khác cùng phạm tội với mình; được quy định là tình tiết định khung hình phạt của tội chống mệnh lệnh, tội cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm, tội đầu hàng địch, tội bỏ vị trí chiến đấu, tội đào ngũ, tội trốn tránh nhiệm vụ, tội quấy nhiễu nhân dân. Theo chúng tôi, thì khi thực hiện các hành vi vắng mặt trái phép, vi phạm các quy định về bảo vệ, hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, người thực hành tội phạm vẫn có thể lôi kéo người khác cùng phạm tội. Khi đó tính chất nguy hiểm của hành vi sẽ tăng lên và có thể sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn. Do vậy, đồng thời với việc quy định “tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự”, chúng tôi đề nghị bổ sung tình tiết “lôi kéo người khác phạm tội” làm tình tiết định khung hình phạt của: tội vắng mặt trái phép; tội vi phạm các quy định về bảo vệ; tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự.

- Đối với các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân quy định tại các Điều Điều 317, 325, 329, 330, 331, 332, 333, 335, 336, 338, 339 BLHS thì: “gây hậu quả nghiêm trọng” được coi là tình tiết định tội và “gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt. CònGây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân quy định tại các Điều 318, 319, 320, 321, 322, 323, 324, 326, 327, 328, 334, 337 BLHS. Về cơ bản, chúng tôi đồng tình với việc quy định “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định tội hoặc tình tiết định khung hình phạt của các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân nêu trên. Tuy nhiên, xuất phát từ việc tội phạm hóa một số hành vi nguy hiểm cho xã hội, hoàn thiện cấu thành tội phạm và tình tiết định khung hình phạt đố với một số tội phạm cụ thể xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, chúng tôi đề nghị:

+ Quy định “gây hậu quả nghiêm trọng” là tình tiết định tội và “gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội vắng mặt trái phép, tội cố ý bỏ thương binh, tử sỹ hoặc không chăm sóc, cứu chữa thương binh, tội tàn sát, chiếm đoạt hoặc hủy hoại tài sản của nhân dân trong khu vực có chiến sự và tội ngược đãi tù binh, hàng binh;

+ Quy định “gây hậu quả nghiêm trọng, gây hậu quả rất nghiêm trọng, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là những tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đối với tội làm nhục đồng đội, tội hành hung đồng đội, tội bỏ vị trí chiến đấu hoặc không làm nhiệm vụ trong chiến đấu, tội đào ngũ, tội chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sỹ hoặc tài sản của thương binh trong chiến đấu.

Về kỹ thuật lập pháp, chúng tôi đề nghị gộp hai tình tiết định khung khung hình phạt “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng” và “phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” quy định tại khoản 3 và 4 Điều 334 BLHS vào cùng một khoản như sau: “Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt...”.

TS. Nguyễn Mai Bộ - Phó Chánh án Tòa án quân sự Trung ương

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao


[1] Xem: Luật Dân quân tự vệ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr 29-32.

[2] Xem: Tòa án nhân dân tối cao, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 6.

[3] Xem: Bộ Quốc phòng, Điều lệnh quản lý bộ đội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 14.

[4] Xem: GS. TS. Ãmetsina  X.M, Bình luận khoa học Bộ luật hình sự Liên bang Nga (Bảng tiếng Nga), Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1986, tr 14.

[5] Xem: Từ điển Luật học, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, 1999, tr 356.

[6] Xem: ThS. Mai Bộ, Trách nhiệm hình sự đối với hành vi làm nhục, hành vi và dùng nhục hình đối với đồng đội, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 24/2008, tr 27.

[7] Xem: Tòa án nhân dân tối cai, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 10-11.

[8] Xem: Bộ luật hình sự Vương quốc Thụy Điển do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) dịch, Hà Nội, 1999, tr 76-77.

[9] Xem: Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) dịch,  Hà Nội, 1999, tr 68-70.

[10] Xem: Bộ luật hình sự nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga năm (Bản tiếng Nga), Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1987, tr 130-138.

[11] Xem: Tòa án nhân dân tối cai, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 9.

[12] Xem: Tòa án nhân dân tối cai, Các văn bản về hình sự, dân sự, kinh tế, hành chính, lao động và tố tụng, Hà Nội 2004, tr 11.

[13] Xem: Bộ Ngoại giao Việt Nam cộng hòa, Công ước Geneve ngày 12/8/1949, Sài Gòn, 1968, tr 71-72.

[14] Xem: Bộ luật hình sự nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự (sửa đổi) dịch,  Hà Nội, 1999, tr 70.

[15] Xem: Bộ luật hình sự nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga năm (Bản tiếng Nga), Nxb Pháp lý, Matxcơva, 1987, tr 438.

[16] Xem: Pháp lệnh ký kết và thực hiện điều ước quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 23.

[17] Bộ Quốc phòng, Điều lệnh quản lý bộ đội, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 129.

[18] Lê Đức Tiết, Lê Thanh Trung, Nguyễn Hữu Hùng, Nguyễn Văn Hợp, Tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân, Nxb Pháp lý, Hà Nội, 1987, tr 92.

[19]  Xem: Bộ luật hình sự Liên bang Nga do Ban soạn thảo Bộ luật hình sự sửa đổi dịch, Hà Nội, 1999, tr 132-133.

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi