Chủ Nhật, 19/8/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Thực trạng và một số kiến nghị hoàn thiện các quy định của bộ luật tố tụng hình sự về vật chứng

1. Đặt vấn đề

Để chứng minh một người có tội và làm rõ các tình tiết khác trong vụ án hình sự (VAHS) cơ quan, người tiến hành tố tụng (NTHTT) phải tiến hành thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ (ĐGCC). Trong số các nguồn chứng cứ (NCC), vật chứng được xem như là một trong những nguồn chứng cứ quan trọng đã được quy định trong các văn bản về tố tụng hình sự (TTHS) trước khi Bộ Luật tố tụng hình sự (BLTTHS) được ban hành và cụ thể, chi tiết trong BLTTHS 2003, đã tạo hành lang pháp lý giúp cho hoạt động thu thập, bảo quản và xử lý vật chứng của cơ quan, NTHTT trong thực tiễn được tiến hành nhanh chóng và thuận lợi, góp phần quan trọng trong công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.

Tuy nhiên, trong thời gian qua, việc vận dụng các quy định về vật chứng bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót nhất định như: có sự lẫn lộn giữa vật chứng trong tố tụng hình sự với vật chứng trong tố tụng dân sự, các tài liệu đồ vật khác bị thu giữ trong quá trình giải quyết vụ án; thu thập chứng cứ không kịp thời, đầy đủ dẫn đến vật chứng bị mất, hư hỏng không thể phục hồi; hay việc xử lý vật chứng (XLVC) của chủ thể có thẩm quyền ở giai đoạn tố tụng trước không đúng, dẫn đến các chủ thể có thẩm quyền ở giai đoạn sau ra các quyết định thiếu căn cứ, không có sức thuyết phục. Điều này có nguyên nhân xuất phát từ sự hạn chế về trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; thiếu tinh thần trách nhiệm, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật của một số cán bộ thi hành công vụ. Bên cạnh đó, ngay chính các quy định trong BLTTHS 2003 về vật chứng cũng thể hiện nhiều bất cập dẫn đến việc áp dụng pháp luật tùy tiện, không thống nhất như thời điểm, cách thức chuyển giao vật chứng để bảo quản, một số khái niệm liên quan đến tài sản được xác định là vật chứng, biện pháp XLVC…

Chính vì lý do đó mà việc nghiên cứu, làm rõ chế định “Vật chứng” trong tố tụng hình sự là một vấn đề có tính cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm trong tình hình hiện nay ở nước ta. Tuy nhiên do phạm vi bài viết có hạn, nên chúng tôi chỉ đề cập đến một số vấn đề cơ bản và thực tiễn áp dụng các quy định của PLTTHS Việt Nam về vật chứng trong các hoạt động thu thập, xử lý vật chứng của các cơ quan tiến hành tố tụng; trên cơ sở đó đề xuất những kiến nghị, nhằm hoàn thiện chế định vật chứng trong BLTTHS Việt Nam hiện hành.

2. Khái niệm vật chứng

Để tìm hiểu khái niệm vật chứng, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu một số quy định về vật chứng trong pháp luật tố tụng hình sự (PLTTHS) nước ta và một số nước trên thế giới. Trong Công văn số 98-NCPL ngày 02/3/1974 của TAND tối cao gửi các Tòa án địa phương lần đầu tiên đề cập đến khái niệm vật chứng một cách gián tiếp: “Biên bản thu thập vật chứng: Biên bản này ghi lại những vật mà kẻ phạm tội đã dùng để thực hiện tội phạm như: hung khí dùng để giết người, búa kìm dùng phá cửa, cạy tủ, … "[1]. Quy định này được hiểu vật chứng là vật mà kẻ phạm tội dùng để thực hiện hành vi phạm tội.

Tiếp đó, Thông tư số 03.TT.LB ngày 23/4/1984 của VKSND tối cao, TAND tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ quy định về chế độ bảo quản, xử lý vật chứng và tài sản tạm giữ trong các vụ án hình sự (VAHS) cũng có nêu lên khái niệm vật chứng ở khoản 1 mục A phần I: “Vật chứng là những vật dùng vào việc phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật có liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như tiền bạc hay tài sản khác có được bằng con đường phạm tội…”. Khái niệm vật chứng cũng được quy định trong Bộ Luật tố tụng hình sự (BLTTHS) Việt Nam năm 1988 và năm 2003: "Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội"[2].

Theo quy định tại Điều 81 BLTTHS của Liên bang Nga thì "Vật chứng được coi là bất kỳ vật nào: 1. Là công cụ phạm tội hoặc mang dấu vết của tội phạm; 2. Là đối tượng tác động của tội phạm; 3. Là những vật hoặc tài liệu khác có thể được coi là phương tiện để phát hiện tội phạm và xác định những tình tiết của VAHS"[3]. Tuy nhiên, các quan điểm này chỉ mang tính liệt kê về các loại vật chứng chứ chưa đi sâu xác định vật chứng là cái gì đúng như bản chất của khái niệm.

Theo từ điển tiếng Việt, khái niệm “vật” được hiểu là “cái có hình khối, tồn tại trong không gian, có thể nhận biết được[4]. Thông qua khái niệm về “vật”, ta có thể hiểu cái có hình khối tức có kích thước, có trọng lượng mà con người có thể nhận biết được thông qua các giác quan như mắt nhìn, tay sờ, cầm, nắm; thông qua các giác quan đó chúng ta cảm giác được nặng, nhẹ, to, nhỏ. Như vậy, các sự vật mang tính hữu hình cụ thể đều thuộc khái niệm "vật" và có thể là vật chứng trong VAHS.

Về nội hàm của khái niệm vật chứng, có quan điểm cho rằng: “Vật chứng là vật có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án[5]. Tuy nhiên, khái niệm này chưa nêu được cách thức thu thập vật chứng để đảm bảo giá trị pháp lý của nó. Trong khi đó, theo Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội lại đưa ra khái niệm vật chứng như sau: “vật chứng là vật thể được thu thập theo thủ tục do PLTTHS quy định chứa đựng các thông tin có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án[6]. Tuy nhiên, khái niệm này có nêu được bản chất của vật chứng nhưng chỉ dừng ở việc có ý nghĩa mà không thể hiện vật chứng được sử dụng để làm gì sẽ không thấy được giá trị chứng minh của vật chứng trong các VAHS.

Do đó, từ các phân tích nêu trên, chúng tôi đưa ra khái niệm vật chứng như sau: Vật chứng là những vật được thu thập theo trình tự, thủ tục do PLTTHS quy định, chứa đựng các thông tin được xác định là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

3. Thực trạng áp dụng các quy định pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về vật chứng

3.1. Hoạt động thu thập vật chứng (TTVC)

Thực tiễn thời gian qua, các CQ, NTHTT đã vận dụng tốt các thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt động TTVC nên đã phát hiện được các loại vật chứng khác nhau như các vật chứng chứa đựng các dấu vết mà tội phạm phản ánh, các vật chứng dạng bột và các loại vật chứng khác mà mắt thường khó phát hiện được như lông, sợi, dấu vân tay … Bên cạnh đó, việc kết hợp tốt giữa CQ, NTHTT với các nhà chuyên môn thuộc các tổ chức giám định đã xác định ra đúng bản chất của vật chứng thu thập được góp phần quan trọng vào việc giải quyết vụ án như giám định các chất bột là herôin, giám định dấu vân tay, giám định vết máu tại hiện trường hoặc tại vật chứng … Chẳng hạn, nhờ việc thu thập được vật chứng liên quan đến vụ án đã truy tìm ra được người đã thực hiện hành vi phạm tội. Vụ án Lê Văn Trê giết hại cô gái ở cùng nhà trọ tại phường Hiệp Tân, quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2008 chứng minh cho vai trò của vật chứng trong việc phá án. Nhờ thu thập được vật chứng của vụ án là bao tay, dây dù, con dao mà bị cáo dùng để cắt cổ hai nạn nhân ở cùng khu nhà trọ mà Công an Quận 12 đã bắt được hung thủ[7]. Thêm vào đó, trong thực tiễn hoạt động giải quyết các VAHS, có vụ án nhờ thu giữ đầy đủ các vật chứng kết hợp với các hoạt động điều tra liên quan như giám định hình sự mà CQĐT đã truy tìm ra thủ phạm như vụ án "giết người” và “hiếp dâm” ở tỉnh Quảng Ninh vào năm 2002. Nhờ thu giữ được một số vật chứng quan trọng như: một điếu thuốc lá hút dở, một sợi lông màu đen, kết hợp với thu giữ mẫu máu nạn nhân, mẫu tinh dịch trong âm đạo khi khám nghiệm tử thi, CQĐT đã vạch ra hướng điều tra nên tiến hành lấy lời khai, lấy mẫu máu, lấy lông bộ phận sinh dục của người bị tình nghi, đem giám định ADN. Kết quả, giám định đó là những chứng cứ mà bị can không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, quy định của BLTTHS 2003 về chủ thể có thẩm quyền thu thập vật chứng  còn thể hiện sự bất cập. Các chủ thể được TTVC là những CQTHTT được giao nhiệm vụ giải quyết vụ án là CQĐT, VKS, TA. Tuy nhiên, đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 65 với Điều 111 BLTTHS 2003 thấy rằng, giới hạn chủ thể tiến hành hoạt động TTCC nói chung, vật chứng nói riêng là chưa đầy đủ. Bởi vì, ngoài  hoạt động của các CQTHTT còn một số cơ quan khác là Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của CAND, QĐND được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Khi thực hiện nhiệm vụ, các cơ quan này phải tuân thủ các trình tự, thủ tục do BLTTHS 2003 quy định và họ có quyền khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu hay được khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với tội ít nghiêm trọng; khởi tố vụ án, tiến hành những hoạt động điều tra ban đầu đối với các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng hay tội ít nghiêm trọng nhưng có những tình tiết phức tạp. Hiển nhiên, các cơ quan này phải tiến hành các hoạt động TTCC nói chung, vật chứng nói riêng khi họ tiến hành các hoạt động điều tra. Do đó, việc BLTTHS 2003 không quy định cho những chủ thể này quyền thu thập chứng cứ nói chung, vật chứng nói riêng là thiếu sót.

Bên cạnh đó, hoạt động TTVC trong thời gian qua cũng còn nhiều sai sót cần được khắc phục, sửa đổi kịp thời. Đó là:

Thứ nhất, không tuân thủ nguyên tắc kịp thời, đầy đủ khi TTVC.

Một trong những nguyên tắc cần phải quán triệt khi TTVC mà Điều 75 BLTTHS quy định là vật chứng phải được thu thập kịp thời, đầy đủ. Trong thực tiễn, do không tuân tủ nguyên tắc này nên dẫn đến việc truy tố, xét xử oan sai. Vấn đề này được minh chứng qua vụ án Nguyễn Thị Lâm giết người ở Bình Thuận. Khi khám nghiệm hiện trường phát hiện một con dao quắm nhưng CQĐT không thu giữ, trong khi vết thương trên mặt, đầu người bị hại rất phù hợp với con dao quắm. Trong vụ án này, con dao quắm là vật chứng của vụ án nhưng không được thu thập[8]. Điều này thể hiện hoạt động điều tra không đảm bảo được tính khách quan của chứng cứ do vật chứng chứa đựng khi thực hiện việc chứng minh tội phạm. Sai lầm này dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là việc điều tra bị lệch hướng, đối tượng không phát hiện được dẫn đến việc truy tố, xét xử oan sai.

Thứ hai, vật chứng được thu thập không đúng trình tự, thủ tục (TT, TT) do pháp luật quy định.

Việc TTVC phải theo đúng TT, TT do BLTTHS quy định, nếu vật chứng được thu thập không đúng TT, TT của pháp luật thì sẽ không có giá trị chứng minh. Vụ án Nông Văn Quảng phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ở Sơn La vào năm 2004 là một điển hình cho sai phạm này. Quảng và Lê Trọng Thịnh bị công an bắt quả tang khi đang vận chuyển trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, lời khai của các bị cáo, biên bản bắt người phạm tội quả tang có mâu thuẫn về tang vật thu giữ được. Vấn đề mấu chốt là túi vải đựng 5 bánh heroin có phải được thu giữ khi Thịnh đang khoác hay do công an đeo vào người Thịnh chưa được làm rõ. Vụ án này có tính chất đặc biệt nghiêm trọng nhưng việc điều tra có nhiều sai sót, đặc biệt là vấn đề thu giữ vật chứng và các chứng cứ xác định về sự tồn tại của vật chứng có mâu thuẫn nhưng quá trình điều tra không được làm rõ, dẫn đến việc bản án phúc thẩm tuyên hủy bản án sơ thẩm[9].

Thứ ba, TTVC không đầy đủ, bỏ sót những vật chứng quan trọng nhưng lại thu thập các tài liệu, đồ vật khác không phải là vật chứng.

Các sai sót này thường xảy ra khi CQĐT tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi không cẩn thận. Chẳng hạn, trong vụ án Trương Ngọc Minh bị giết chết tại thành phố Hồ Chí Minh. Khi điều tra vụ án, CQĐT đã không thu giữ một số vật chứng quan trọng như chiếc thang tre được cho là bị can dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên không thể thực nghiệm hiện trường. Bên cạnh đó, khi tiến hành thu lượm các chất gây cháy làm ông Minh chết, CQĐT có thu phía sau phòng bị can 01 lon loại 0,8 lít còn dính dầu và loại 01 lít còn dính xăng, thu bên phòng ông Minh một lon thiếc, dung tích 1 lít bị cháy ám khói. Nhưng bị can lại khai nhà bị can chỉ có 01 chiếc lon loại 01 lít đựng dầu mà công an đã thu giữ. Cách thu lượm này đã không xác định được chiếc lon loại 0,8 lít có hay không; chiếc lon loại 01 lít thực chất đựng dầu hay xăng. Cho nên, vụ án càng điều tra càng bế tắc do không xác định được chất gây cháy trong vụ án này là chất gì. Đây là những mâu thuẫn mà quá trình điều tra mất rất nhiều thời gian, công sức nhưng không giải quyết được[10].

3.2. Hoạt động xử lý vật chứng

Việc XLVC tuân thủ đúng các quy định của pháp luật góp phần quan trọng vào việc tước đoạt quyền sở hữu đối với các tài sản đối với người thực hiện hành vi phạm tội nhằm xóa bỏ điều kiện phạm tội; khôi phục lại quyền sở hữu cho chủ sở hữu, quyền chiếm hữu cho người quản lý hợp pháp, … BLTTHS 2003 và một số văn bản hướng dẫn thi hành đã có quy định khá chi tiết và đầy đủ về việc XLVC và trên thực tế đã giúp hoạt động giải quyết VAHS của các CQTHTT đạt được hiệu quả tốt và mang tính thuyết phục cao.

Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng cũng đã phát sinh một số sai sót cần được khắc phục. Chẳng hạn, đối với công tác xét xử của ngành Tòa án, vấn đề sai sót trong việc XLVC hầu như năm nào cũng có[11]. Các sai sót thường gặp là:

Thứ nhất, XLVC không đúng quy định. Vật chứng là vật cấm lưu hành theo điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS 1988 (nay là điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003) đáng lẽ phải thu giữ, tịch thu, sung quỹ nhà nước nhưng Tòa án lại giao cho cơ quan khác giải quyết. Sai sót này được thể hiện qua vụ án Cao Tỷ Phú và đồng bọn bị xử phạt về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" khi Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đã quyết định giao cho Bộ Tài chính xử lý theo thẩm quyền 38 xe ôtô và 4 xe môtô mà đáng lẽ ra phải tịch thu, sung quỹ Nhà nước các xe ôtô và môtô đó vì chúng là vật chứng của vụ án. Chính vì lẽ đó mà HĐTP TAND tối cao đã tuyên hủy phần XLVC này của 02 bản án đó[12].

Bên cạnh đó, điểm a khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003 quy định, vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội thì có thể áp dụng hình thức tịch thu sung quỹ. Đối với những vật chứng nhỏ, gọn và có giá trị nhỏ thì việc áp dụng như quy định này không có gì phải bàn cãi nhưng đối với vật có giá trị lớn như nhà cửa, công trình kiến trúc lớn và chỉ xác định một phần giá trị trong vật đó là công cụ phạm tội, phương tiện phạm tội, do phạm tội mà có thì tịch thu cả vật hay chỉ phần giá trị đó. Có ý kiến cho rằng, phải tịch thu cả vật đó bởi vật đó đã tham gia vào việc đổi chác. Nhưng có ý kiến cho rằng chỉ tịch thu phần giá trị tài sản được tham gia vào việc phạm tội[13]. Tuy nhiên, theo quy định về các loại tài sản tại Chương XI, Bộ luật dân sự, tài sản được chia thành vật chính, vật phụ, vật chia được và vật không phân chia được, vật đồng bộ. Nếu vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội là vật chính hoặc vật phụ và vật phân chia được thì chỉ cần tịch thu sung quỹ phần được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội là vật chính, vật phụ hay phần được phân chia từ vật chung vì bản chất của các vật này đều có thể tách ra so với các bộ phận khác mà chúng vẫn giữ được công dụng hoặc giá trị. Còn nếu vật đó là vật không phân chia được hay vật đồng bộ thì nếu một phần của nó được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì ta phải tịch thu toàn bộ vật đó.

Ngoài ra, việc XLVC là công cụ, phương tiện phạm tội cũng có nhiều sai sót. Chẳng hạn, bị cáo dùng xe mô tô đã nhận chuyển nhượng của người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên làm phương tiện phạm tội nhưng Tòa án lại trả cho người đứng tên sở hữu. Có trường hợp, bị cáo dùng xe mô tô của mình làm phương tiện cướp tài sản thay vì tịch thu sung quỹ nhưng Tòa án lại nhận định bị cáo có hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp khó khăn, giá trị tài sản không lớn nên trả lại tài sản cho bị cáo; hay bị cáo bị xét xử về tội “vận chuyển trái phép tiền tệ qua biên giới” theo Điều 154 BLHS 1999 nhưng số tiền thu giữ là vật chứng của vụ án lại được giao trả lại cho bị cáo[14].

Thứ hai, trong thực tiễn có trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp thay cho biện pháp XLVC. Chẳng hạn, trong thực tiễn hoạt động xét xử, có trường hợp CQĐT thu giữ tài sản bị hư hỏng làm vật chứng trong vụ án mà người phạm tội bị truy tố, xét xử về tội cố ý làm hư hỏng tài sản. Khi người bị hại và người phạm tội đã thỏa thuận bồi thường toàn bộ giá trị tài sản thì Tòa án đã tuyên trả tài sản cho bị cáo. Hay trong vụ án bị cáo bị xét xử về tội phá hủy công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia cũng gặp vướng mắc tương tự, có vụ án HĐXX đã tuyên buộc bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại và giao trả tài sản bị xâm phạm là vật chứng của vụ án cho bị cáo[15]. Xét việc xử lý sai này xuất phát từ việc chưa phân biệt rõ được hai nội dung là bồi thường thiệt hại và XLVC. Trong đó, bồi thường thiệt hại là biện pháp tư pháp còn XLVC là biện pháp tố tụng của CQTHTT được quy định tại Điều 76 BLTTHS. Cho nên, dù bị cáo đã bồi thường đủ rồi thì tài sản bị hư hỏng là tài sản do phạm tội mà có để tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 2 Điều 76 BLTTHS.

Thứ ba, thực tiễn có vụ án XLVC nhưng còn bỏ sót, tức XLVC này nhưng không XLVC khác; những vật chứng Tòa sơ thẩm không xử lý nhưng Tòa phúc thẩm lại xử lý; những vật chứng có tình trạng pháp lý như nhau nhưng lại xử lý khác nhau. Điều này được thể hiện qua vụ án Nguyễn Văn Hậu và đồng bọn phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Trong phần XLVC, Toà án cấp sơ thẩm và Toà án cấp phúc thẩm quyết định không thống nhất và có nhiều sai sót. Cụ thể, trong 37 xe thu giữ được, Toà án cấp sơ thẩm chỉ xử lý 35 xe, còn bỏ sót 02 xe không xử lý (trong đó 01 xe CQĐT đang tạm giữ; 01 xe người mua đang quản lý). Đối với 35 xe ôtô, Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định tịch thu 21 xe do CQĐT đang tạm giữ (trong đó có 08 xe không có biển kiểm soát) và buộc nộp sung quỹ nhà nước 14 xe do những người mua đang quản lý. Như vậy, sai sót của cấp sơ thẩm về XLVC là bỏ sót không xử lý hết vật chứng của vụ án. Đến giai đoạn phúc thẩm, Toà án cấp phúc thẩm xử lý 20 xe liên quan đến kháng cáo, trong đó quyết định giao cho Bộ Tài chính xử lý 15 xe có biển kiểm soát (gồm 07 xe Toà án cấp sơ thẩm tuyên tịch thu, 06 xe Toà án cấp sơ thẩm buộc nộp sung quỹ Nhà nước, 02 xe Toà án cấp sơ thẩm không xử lý) và tịch thu sung quỹ nhà nước 05 xe (gồm 03 xe không có biển kiểm soát và 02 xe có biển kiểm soát). Như vậy, việc cấp phúc thẩm xử lý 02 xe ôtô mà Toà án cấp sơ thẩm không xử lý là vi phạm nguyên tắc hai cấp xét xử và việc quyết định tịch thu đối với 02 xe ôtô có biển kiểm soát và có tình trạng pháp lý giống như những xe ôtô mà Toà án cấp phúc thẩm giao cho Bộ Tài chính xử lý là không thống nhất về đường lối giải quyết vụ án gây thiệt hại cho những người liên quan. Chính vì có những sai phạm về phần XLVC mà HĐTP TAND tối cao đã tuyên hủy cả hai bản án hình sự phúc thẩm và bản án hình sự sơ thẩm về phần XLVC[16].

Thứ tư, khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2003 quy định tùy theo từng giai đoạn tố tụng nếu vụ án bị đình chỉ thì cơ quan đang giải quyết hồ sơ sẽ ra quyết định đình chỉ nhưng trên thực tiễn có vụ án VKS đã ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nhưng lại không XLVC của vụ án như vụ án “đánh bạc” đối với 17 con bạc do CQĐT Bộ Công an và Phòng PC14 Công an tỉnh Hà Tây triệt phá tại xới bạc lớn trên địa bàn xã Hòa Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình vào năm 1999 minh chứng cho sai phạm này. Ngay sau khi bắt quả tang 17 con bạc, CQĐT Công an tỉnh Hà Tây đã có kết luận điều tra, đề nghị VKSND tỉnh Hà Tây truy tố 16 đối tượng do Lưu Quốc Chiến bỏ trốn. Tuy nhiên, vụ án được Trưởng phòng kiểm sát điều tra án trị an, Viện KSND tỉnh Hà Tây chuyển về VKSND huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình. Sau đó, cả 16 bị can được Viện trưởng VKSND huyện Lương Sơn ký quyết định đình chỉ. Nhưng vật chứng của vụ án là số tiền 8,4 triệu đồng đã không được tịch thu sung quỹ và không tiêu hủy một số tang vật gồm: 4 quân xóc đĩa, bát, đĩa… Khoảng 7 năm sau, đầu tháng 10/2006, VKSND huyện Lương Sơn mới ra quyết định XLVC và sau khi vụ việc bị báo chí phanh khui thì số tiền này mới được nộp sung công quỹ[17].

Thứ năm, sai sót trong việc XLVC không có giá trị hoặc giá trị sử dụng không đáng kể. Điểm đ khoản 2 Điều 76 quy định: “Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ”. Nhưng do chưa có quy định hoặc văn bản hướng dẫn như thế nào là "vật chứng không có giá trị hoặc giá trị sử dụng không đáng kể" để xử lý dẫn đến việc xử lý còn mang tính tùy tiện, không thống nhất. Trên thực tế, có CQĐT đã tự xác định vật chứng không còn giá trị theo ý chí cá nhân của mình như thể hiện qua vụ án Chang A Súa phạm tội “Hiếp dâm”. CQĐT đã tự tiêu hủy mẫu tinh dịch trong âm đạo của người bị hại và lông tóc của Chang A Súa nhưng không cho giám định với lý do mẫu vật không đảm bảo để giám định. Chính hành vi vi phạm nghiêm trọng này mà cấp phúc thẩm đã hủy án sơ thẩm để điều tra lại[18].

Thứ sáu, sai sót trong việc bán vật chứng là hàng hóa mau hỏng, khó bảo quản không đúng quy định của pháp luật.BLTTHS không quy định hình thức bán các hàng hóa mau hỏng, khó bảo quản đó là bán thông thường hay bán đấu giá nhưng theo hướng dẫn tại mục 6 phần I Thông tư số 06/1998/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BCA – BTC – BTP, hình thức XLVC đối với loại tài sản này phải qua hình thức bán đấu giá. Tuy nhiên, trong thực tiễn có nơi không tổ chức bán đấu giá, có nơi có tổ chức bán đấu giá cũng có những vi phạm nhất định. Chẳng hạn, vụ án "vi phạm các quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm" ở Long An. Vật chứng của vụ án là 286 con khỉ đuôi dài đã được CQĐT nhanh chóng đem bán đấu giá cho chính người tố giác bị can với giá giá rất thấp và thời gian thông báo nộp hồ sơ cho đến khi tổ chức bán đấu giá chưa đầy 24 giờ[19]. Sau đó, VKSND huyện lại miễn trách nhiệm hình sự cho bị can và ra quyết định đình chỉ vụ án, đình chỉ điều tra bị can. Nhưng VKS không không ra quyết định XLVC mà có công văn yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Long An xử phạt hành chính đối với bị can và xử lý khoản bán khỉ được gửi tại Kho bạc nhà nước[20].

Nghiêm trọng hơn, có vụ án, vật chứng được bán qua giá tham khảo chứ không qua bán đấu giá. Đó là trường hợp bán tài sản trong vụ án Hùng “Xì tẹc” cùng đồng bọn phạm tội “Buôn lậu” xăng dầu vào năm 2006. Chính việc không bán đấu giá nên giá xăng dầu thực tế bán đã rẽ hơn nhiều so với giá thực tế như giá xăng được bán 4.050 đồng/lít và giá dầu được bán 3.050 đồng/lít, trong khi tại thời điểm đó, giá bán lẻ là 5.300đồng/lít[21].

Bên cạnh đó, các quy định của BLTTHS 2003 về XLVC cũng có những bất cập cần được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế. Đó là:

Thứ nhất, việc quy định biện pháp XLVC không rõ ràng dẫn đến lúng túng khi áp dụng. Điểm a khoản 2 Điều 76 quy định, vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành thì bị tịch thu, sung quỹ nhà nước hoặc tiêu huỷ. Vậy trường hợp nào thì vật chứng bị tịch thu sung quỹ, trường hợp nào thì bị tịch thu tiêu hủy và vật cấm lưu hành được xác định dựa vào đâu. Có ý kiến cho rằng, vật thuộc loại cấm lưu hành bao gồm các lọai hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh theo quy định tại Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Thương mại là vũ khí, quân trang, quân dụng và phương tiện kỹ thuật chuyên dùng của quân sự, công an…; các chất ma túy; các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ nhân cách…[22]. Ý kiến khác cho rằng, vật thuộc loại cấm lưu hành chỉ bao gồm các đồ vật là đối tượng của tội phạm quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 Bộ luật hình sự như: vũ khí, đạn dược, quân trang, …[23]. Thấy rằng, quan điểm thứ hai có tính hợp lý vì theo quy định của BLHS thì hành vi tàng trữ, lưu hành các loại đồ vật theo các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 BLHS là tội phạm và bị xử lý bằng TTHS còn đối với các đồ vật khác thì chỉ có thể bị phạt vi phạm hành chính.

Đối với việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp, điểm b khoản 2 Điều 76 quy định, những vật chứng thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho họ nhưng lại không đề cập đến lỗi của những chủ thể này nên dù họ có lỗi hay không có lỗi khi vật, tiền bạc của họ bị người phạm tội dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì phải trả trả lại cho họ. Tuy nhiên, nếu xử lý như cách hiểu này sẽ không đảm bảo tính thống nhất giữa các quy định pháp luật vì khoản 3 Điều 41 BLHS quy định trường hợp xử lý tương tự nhưng lại loại trừ trường hợp chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp có lỗi. Do đó, cần bổ sung vào điểm b khoản 2 Điều 76 về việc không có lỗi của chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp.

Thứ hai, vấn đề XLVC là vật mang dấu vết tội phạm. Theo quy định tại Điều 74 BLTTHS 2003, vật mang dấu vết tội phạm là một trong các loại vật chứng bên cạnh các vật chứng khác. Tuy nhiên, khoản 2 Điều 76 quy định các loại vật chứng bị xử lý nhưng chưa có quy định việc xử lý loại vật chứng này. Bên cạnh đó, vật mang dấu vết tội phạm được phân thành hai loại là vật thuộc sở hữu của người phạm tội và vật thuộc sở hữu của người khác. Thực tiễn hoạt động tố tụng thời gian qua, không ít trường hợp CQTHTT thu giữ vật chứng là vật mang dấu vết tội phạm thuộc sở hữu của người phạm tội và vật chứng là vật mang dấu vết tội phạm thuộc sở hữu của người khác. Do không có quy định về XLVC thuộc trường hợp này nên trong thực tiễn có vụ án HĐXX áp dụng khoản 2 Điều 76 hay điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003 để XLVC[24]. Tuy nhiên, việc XLVC như hai trường hợp này là không chính xác. Để khắc phục thiếu sót này, cần bổ sung hình thức XLVC là vật mang dấu vết tội phạm vào khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003.

Thứ ba, việc XLVC là “vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”. Việc XLVC này chưa được quy định trong BLTTHS và hướng dẫn đầy đủ nên trong thực tế việc áp dụng việc XLVC đối với loại đối tượng này chưa thống nhất. Để xử lý con dao mà người bị hại chống trả hành vi tấn công, cố ý gây thương tích hoặc giết người của người phạm tội đối với họ; giấy tờ thu giữ trong người bị cáo, hoặc trong các trường hợp mà chủ sở hữu vật chứng hoàn toàn không liên quan đến hành vi phạm tội. Ví dụ như bị cáo lấy chiếc bơm của người bơm xe trên vỉa hè, lấy con dao thái thịt của người bán thịt … để làm hung khí phạm tội, có Tòa án áp dụng điểm b khoản 2 Điều 76 hoặc khoản 3 Điều 76 để xử lý bằng cách giao trả các vật chứng này cho chủ sở hữu[25]. Xét về bản chất thì việc giao trả các tài sản trên cho chủ sở hữu là hợp lý. Tuy nhiên, do không có các quy định viện dẫn nên đã dẫn đến sự lúng túng khi áp dụng.

Thứ tư, về khái niệm tài sản, vật, tiền bạc trong Điều 76 BLTTHS 2003. Các điểm b và c khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003 quy định: “Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước…” và “Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước”. Tuy nhiên, theo Điều 163 Bộ luật dân sự 2005 thì “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Cho nên, quy định như điểm b khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003 là chưa bao quát và quy định như điểm c khoản 2 Điều 76 BLTTHS 2003 trùng lặp và mâu thuẫn không phù hợp. Do đó, cụm từ “vật, tiền bạc” trong điểm b khoản 2 và “tiền bạc hoặc tài sản” trong điểm c khoản 2 cần được sửa đổi thành tài sản để đảm bảo việc thống nhất trong các quy định của pháp luật.

Thứ năm, vướng mắc trong việc xác định thời hạn và cách niêm yết thông báo tìm kiếm chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp. Điểm b khoản 2 Điều 76 quy định: “Vật chứng là những vật, tiền bạc thuộc sở hữu của Nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ Nhà nước”. Trong thực tiễn, để xác định chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp, sau khi xác minh không có kết quả, CQTHTT đã ra thông báo trong một thời gian nhất định để tìm chủ sở hữu của vật chứng. Nhưng do BLTTHS 2003 không quy định hình thức và thời hạn thông báo nên có CQTHTT áp dụng thời gian niêm yết công khai tìm chủ sở hữu là không quá 6 tháng theo Thông tư số 03.TT.LB ngày 23/4/1984[26] hoặc vận dụng thời hạn tìm kiếm chủ sở hữu đối với tài sản có giá trị lớn bị đánh rơi, bỏ quên là 1 năm; đối với bất động sản là năm năm theo Quy chế quản lý và xử lý tài sản được ban hành kèm theo Quyết định số 1766/1998/QĐ-BTC ngày 07/12/1998 của Bộ Tài chính[27]. Tuy nhiên, cả hai quy định này đều được áp dụng hướng dẫn các quy định trước khi BLTTHS 2003 ra đời. Theo quy định tại khoản 4 Điều 76 BLTTHS 2003 thì “trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”. Như vậy, việc xác lập quyền sở hữu và chủ sở hữu mới trong VAHS là những quan hệ mang tính dân sự. Do đó, khi giải quyết việc xác lập quyền sở hữu mới đối với vật chứng có thể áp dụng các quy định về xác lập quyền sở hữu quy định tại Mục I Chương XIV Bộ luật dân sự[28]. Vì vậy, khi thu giữ vật chứng của vụ án nhưng chưa xác định được chủ sở hữu thì CQTHTT thông báo công khai trong thời hạn một năm đối với động sản, năm năm đối với bất động sản.

Về cách thức niêm yết thông báo tìm kiếm, BLTTHS 2003 không quy định nên có thể áp dụng các quy định tương tự trong Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó, việc tìm kiếm có thể áp dụng qua các hình thức niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thu giữ vật chứng, trụ sở cơ quan đang thụ lý hồ sơ hay thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, do luật không quy định cụ thể nên tùy giá trị từng loại tài sản mà ta có sự vận dụng linh hoạt. Chẳng hạn, nếu tài sản có giá trị lớn thì áp dụng thông báo tìm kiếm trên các báo, đài; còn trường hợp tài sản có giá trị nhỏ thì chỉ cần niêm yết tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã nơi phát hiện tài sản và tại trụ sở CQTHTT đang giải quyết vụ án là phù hợp. Tuy nhiên, để đảm bảo tính thống nhất trong việc XLVC trong các VAHS cần đưa quy định này vào BLTTHS hay có văn bản hướng dẫn chính thống.

Thứ sáu, trường hợp xử lý tài liệu, đồ vật được xác định là vật chứng của hai vụ án độc lập. Như phân tích, các quy định về XLVC trong Điều 76 BLTTHS 2003 chỉ áp dụng đối với vật được xác định là vật chứng của một vụ án. Đối với vật được xác định là vật chứng của hai vụ án độc lập thì chưa có quy định nên xảy ra vướng mắc. Chẳng hạn, con dao vừa là công cụ phạm tội trong vụ án giết người, vừa là công cụ phạm tội trong vụ án cố ý gây thương tích. Vụ án giết người được đưa ra xét xử trước. Theo quy định khi xét xử vụ án giết người, do con dao là vật chứng nên phải áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 để tiêu hủy. Tuy nhiên, con dao này lại là vật chứng trong vụ án cố ý gây thương tích và vụ án này chưa được xét xử. Vậy nếu ta tiêu hủy thì trong vụ án cố ý gây thương tích được xét xử sau đó sẽ không có vật chứng để xem xét nên bản án được tuyên sẽ không có tính thuyết phục cao. Có ý kiến cho rằng, cách giải quyết phù hợp nhất là vẫn tạm giữ con dao để phục vụ cho việc giải quyết vụ án sau[29]. Ý kiến này là hợp lý nhưng luật không quy định nên cần bổ sung hình thức xử lý này vào Điều 76 BLTTHS 2003.

Thứ bảy, vướng mắc trong việc XLVC là phương tiện phạm tội nhưng trước đó vật chứng đó đã được thế chấp bảo đảm khoản vay đúng theo quy định của pháp luật. Vướng mắc này được thể hiện qua vụ án Nguyễn Thị A cùng các đồng phạm khác phạm tội “phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia”. Bị cáo A đã dùng ba tàu đánh cá thuộc sở hữu của mình thế chấp đảm bảo khoản vay. Các hợp đồng thế chấp đều được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đúng quy định. Sau đó, bị cáo cùng đồng bọn dùng ba tàu trên đi biển để cắt cáp viễn thông. Hội đổng xét xử sơ thẩm đã tuyên A và đồng bọn phạm tội và xử phạt tù các bị cáo. Trong phần XLVC, bản án đã giao cho Ngân hàng cùng Thi hành án và gia đình bà A thanh lý trước hạn các hợp đồng, xử lý bán ba tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay, phần giá trị còn lại (nếu có) tịch thu sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, HĐXX phúc thẩm đã chấp nhận kháng nghị về việc xử lý tịch thu ba tàu cá là vật chứng vì cho rằng, mặc dù, 3 tàu cá được thế chấp hợp lệ nhưng việc thế chấp không làm mất đi quyền sở hữu nên vẫn đủ điều kiện tịch thu[30].

Qua vụ án này thấy rằng, ba chiếc tàu cá vừa là phương tiện phạm tội, vừa là tài sản được thế chấp hợp pháp đảm bảo các khoản vay. Trong khi, BLTTHS 2003 không quy định trường hợp XLVC là tài sản được thế chấp để đảm bảo nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại tiểu mục a mục 5 Phần I Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT ngày 24/10/1998, đối với vật chứng được thế chấp hợp pháp và đã hết hạn mà bên thế chấp không thực hiện nghĩa vụ thì bên nhận thế chấp có quyền yêu cầu bán đấu giá tài sản thế chấp để thanh toán nợ và phải lập sổ hạch toán để phục vụ cho việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Như vậy, nếu rơi vào quy định này thì số tiền bán đấu giá vật chứng còn lại sau khi thanh toán nợ sẽ được Tòa án xử lý sung quỹ hoặc giao trả cho chủ sở hữu. Tuy nhiên, nếu trong thời gian giải quyết VAHS mà thời hạn trong hợp đồng thế chấp chưa hết thì không có quy định hướng dẫn. Cho nên, trong vụ án nêu trên, nếu áp dụng tương tự pháp luật thì cách XLVC của cấp sơ thẩm là hợp lý hơn vì hợp đồng thế chấp hết hạn hay không hết hạn không ảnh hưởng đến việc XLVC và đảm bảo quyền lợi chính đáng của Ngân hàng; đồng thời đảm bảo các quy định của PLTTHS sẽ không trái, mâu thuẫn với các quy định của pháp luật dân sự. Do đó, cần bổ sung quy định như tiểu mục a Mục 5 Phần I Thông tư trên vào BLTTHS 2003.

Thứ tám, các biện pháp XLVC không được quy định cách loại trừ. Vật chứng có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau. Nếu dựa theo khái niệm thì vật chứng được phân thành vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm… Còn nếu dựa vào giá trị thì vật chứng được phân thành vật có giá trị sử dụng, vật không có giá trị sử dụng hoặc vật không sử dụng được, … Trên cơ sở phân loại vật chứng mà điều luật đưa ra các biện pháp xử lý khác nhau có thể là tịch thu sung công, tịch thu tiêu hủy, bán theo quy định của pháp luật, giao trả lại cho chủ sở hữu, … Tuy nhiên, điều luật lại không áp dụng một cách phân loại vật chứng mà lại áp dụng nhiều cách phân loại để đề ra các biện pháp XLVC nên có thể dẫn đến 01 vật chứng bị xử lý ở 02 điểm khác nhau của khoản 2 Điều 76 khi chúng vừa thỏa mãn quy định tại điểm này vừa thỏa mãn quy định tại điểm khác vì trong điều luật không có quy định loại trừ. Đây có thể là kẽ hở dẫn đến việc XLVC không thống nhất và có thể bị lợi dụng khi XLVC vì mục đích cá nhân.

Thứ chín, vướng mắc khi giao trả lại tài liệu, đồ vật không phải là vật chứng của vụ án. Trong quá trình điều tra, ngoài việc thu giữ vật chứng, CQ, NTHTT còn thu giữ các tài liệu, đồ vật khác không phải là vật chứng. Tuy nhiên, khi cần trả lại các tài liệu, đồ vật này thì lại không có điều luật nào trong BLTTHS quy định về hình thức xử lý. Có ý kiến cho rằng, ở giai đoạn xét xử, nếu Tòa án xác định vật, tiền mà CQĐT thu giữ không phải là vật chứng của vụ án thì bằng quyết định có trong bản án, HĐXX hoàn trả lại vật, tiền … không phải là vật chứng cho CQĐT để cơ quan này giải quyết[31]. Ý kiến khác lại cho rằng, “trường hợp tài sản không liên quan đến tội phạm hoặc người phạm tội thì tùy từng trường hợp theo giai đoạn tố tụng, CQĐT, VKS, TA căn cứ vào kết quả ĐT, TT, XX quyết định trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 76 BLTTHS[32]. Tuy nhiên, việc xử lý như hai ý kiến này là không phù hợp. Bởi vì, khoản 3 Điều 76 chỉ quy định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 76 chứ không phải "tài sản không liên quan đến tội phạm, người phạm tội" như ý kiến thứ hai. Bên cạnh đó, Thông tư liên tịch số 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTC-BCA quy định, CQTHTT đang thụ lý, giải quyết vụ án được trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp các tài sản không phải là vật chứng của vụ án[33]. Như vậy, trong trường hợp này Tòa án phải ra quyết định trả lại có thể bằng quyết định riêng cũng có thể được ghi trong phần quyết định của bản án nên ý kiến thứ nhất cũng không phù hợp. Tuy nhiên quy định này chỉ được thể hiện trong Thông tư liên tịch và đây là vấn đề quan trọng, thường gặp trong quá trình giải quyết các VAHS nên cần bổ sung quy định này vào BLTTHS 2003 để tránh gặp lúng túng khi xử lý các loại tài sản này.

4. Những kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLTTHS về vật chứng

Từ phân tích các quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật về vật chứng nêu trên, chúng tôi nêu lên một số kiến nghị như sau:

Thứ nhất, đối với khái niệm vật chứng, kiến nghị bổ sung nội hàm khái niệm vật chứng vào Điều 74 BLTTHS 2003 để đảm bảo tính thống nhất giữa nội hàm và ngoại diên của khái niệm vật chứng:

1. Vật chứng là vật được thu thập theo TT, TT do PLTTHS quy định, chứa đựng các thông tin được xác định là chứng cứ có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án.

2. Vật chứng bao gồm: vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”.

Thứ hai, về chủ thể có nghĩa vụ TTVC, kiến nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 65 BLTTHS 2003 một số cơ quan được giao nhiệm vụ thực hiện hoạt động điều tra ban đầu như: Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Cụ thể, khoản 1 Điều 65 BLTTHS được bổ sung như sau: “Để TTCC, CQĐT, VKS, Toà án và Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển, các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra theo quy định tại Điều 111 BLTTHS 2003 có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án”.

Thứ ba, đối với quy định bảo quản vật chứng là hàng hóa mau hỏng, khó bảo quản, cần bổ sung vào điểm d khoản 2 Điều 75 nội dung như sau: “Đối với vật chứng là hàng hoá mau hỏng hoặc khó bảo quản nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 76 của Bộ luật này thì cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 76 của Bộ luật này trong phạm vi quyền hạn của mình quyết định bán đấu giá theo quy định của pháp luật và chuyển tiền đến tài khoản tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền đã ra quyết định bán đấu giá tại kho bạc nhà nước để quản lý”.

Ngoài ra, để có sự phân biệt rõ giữa quy định về hoạt động thu thập và BQVC cũng như tạo cơ sở pháp lý cho việc giao trả đồ vật, tài liệu không phải là vật chứng của vụ án, kiến nghị sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 75 BLTTHS 2003 như sau:

“Vật chứng cần được thu thập kịp thời, đầy đủ, được mô tả đúng thực trạng vào biên bản và đưa vào hồ sơ vụ án. Trong trường hợp vật chứng không thể đưa vào hồ sơ vụ án thì phải chụp ảnh và có thể ghi hình để đưa vào hồ sơ vụ án.

Đối với tài sản không phải là vật chứng, thì CQTHTT không được thu giữ, tạm giữ; nếu đã thu giữ, tạm giữ thì cơ quan đang thụ lý, giải quyết vụ án phải trả lại ngay cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp các tài sản đó. Trong trường hợp thật cần thiết để bảo đảm thi hành án đối với các hình phạt tiền, tịch thu tài sản, bồi thường thiệt hại, thì CQTHTT có thẩm quyền huỷ bỏ quyết định thu giữ, tạm giữ và ra quyết định kê biên đối với tài sản đó”.

Thứ tư, để quy định về chủ thể bảo quản vật chứng không mâu thuẫn với quy định khác của BLTTHS 2003 và Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004, điểm đ khoản 2 Điều 75 BLTTHS 2003 cần được sửa đổi, bổ sung như sau: “Đối với vật chứng đưa về CQTHTT, CQTHA bảo quản thì CQĐT có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố; CQTHA có trách nhiệm bảo quản vật chứng trong giai đoạn xét xử và thi hành án”.

Thứ năm, để khắc phục các vướng mắc trong hoạt động XLVC, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Điều 76 BLTTHS 2003 với các nội dung sau:

“1. Việc XLVC do CQĐT quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do VKS quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Toà án hoặc HĐXX quyết định ở giai đoạn xét xử. Việc thi hành các quyết định về XLVC phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý bằng một trong các cách thức sau đây và không được sử dụng biện pháp tư pháp thay thế các cách thức xử lý vật chứng:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm lưu hành bao gồm các đồ vật là đối tượng của tội phạm quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 BLHS thì bị tịch thu sung quỹ nhà nước nếu chúng còn giá trị sử dụng hoặc tịch thu tiêu huỷ nếu chúng không còn giá trị sử dụng. Đối với vật chứng được xác định là bộ phận tách bạch với phần khác của vật thì chỉ tịch thu phần tách bạch mà không tịch thu toàn bộ vật;

b) Vật chứng là tài sản thuộc sở hữu của nhà nước, tổ chức, cá nhân bị người phạm tội chiếm đoạt; dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; mang dấu vết tội phạm hoặc những vật khác có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu họ không có lỗi; trong trường hợp không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì sung quỹ nhà nước. Thời gian truy tìm chủ sở hữu và hình thức truy tìm được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự;

c) Vật chứng là tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước;

d) Vật chứng là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán đấu giá theo quy định của pháp luật;

đ) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu huỷ. Việc xác định vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được do cơ quan tài chính quyết định.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền quyết định trả lại những vật chứng quy định tại điểm b khoản 2 Điều này cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án. Nếu vật được xác định là vật chứng của hai vụ án thì vụ án đầu vẫn áp dụng các hình thức xử lý như quy định tại khoản 2 Điều này nhưng phải tạm giữ vật chứng chờ vụ án có liên quan giải quyết xong thì mới thi hành việc XLVC.

4. Trong trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối với vật chứng thì giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự”

Tóm lại, từ việc nghiên cứu, phân tích làm rõ một số sai sót, bất cập trong quá trình thu thập, xử lý vật chứng của các cơ quan tiến hành tố tụng trong thời gian qua, chúng tôi nêu lên một số kiến nghị nhằm sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTHS năm 2003, góp phần hạn chế các sai sót, phục vụ cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu của tiến trình cải tư pháp hiện nay.

 

ThS. Trần Duy Bình - TAND tỉnh An Giang

Nguồn: Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao


[1] Tòa án nhân dân tối cao, tlđd, 13, tr.75.

[2] Điều 56 BLTTHS 1988 và Điều 74 BLTTHS năm 2003.

[3] Trần Quang Tiệp, tlđd, 09, tr.50.

[4] Viện ngôn ngữ học, tlđd, 10, tr.1106.

[5] Đặng Văn Quý (2010), “Bàn về khái niệm vật chứng trong luật tố tụng hình sự Việt Nam” - Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 1 (số 2) , tr.9.

[6] Trường Đại học luật Hà Nội, tlđd, 18, tr.185.

[7] http://www.tin247.com/hung_thu_sat_hai_hai_co_gai_o_nha_tro_sa_luoi-6-54984.html.

[8] Dương Thanh Biểu, tlđd, 97, tr.189.

[9] Dương Thanh Biểu (2008), Tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.112-113.

[10] Dương Thanh Biểu, tlđd, 97, tr.84-85; Dương Thanh Biểu, tlđd, 100, tr.282.

[11] Báo cáo tham luận về công tác xét xử các VAHS các năm 2003, 2004, 2005, 2006 của Tòa hình sự, Tòa án nhân dân tối cao.

[12] “Quyết định Giám đốc thẩm số 08/2005/HĐTP-HS ngày 25/4/2005”- TAND tối cao, tlđd, 31, tr.340-44.

[13] Vũ Văn Tiếu (2009), "Thực tiễn áp dụng biện pháp tư  pháp tịch thu vật, tiền bạc trực tiếp liên quan đến tội phạm", Tòa án nhân dân, kỳ I tháng 7 (số 13), tr.29.

[14] Tiểu mục 5.3, mục 5 phần I Báo cáo tham luận về công tác xét xử các vụ án hình sự trong năm 2004 và một số kiến nghị của Tòa Hình sự, Tòa án nhân dân tối cao.

[15] Nguyễn Văn Trượng (2009), “Một số vướng mắc khi xử lý vật chứng trong vụ án hình sự", Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 11 (số 22), tr.29-30.

[16] Tòa án nhân dân tối cao (2008), “Quyết định Giám đốc thẩm số 25/2006/HS-GĐT ngày 02/8/2006”, Quyết định Giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao năm 2006, Hà Nội, tr.114-148.

[17] http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Xu-ly-tang-vat-sau-7-nam-dinh-chi-vu-an-Sai-pham-nghiem-trong-trong-to-tung/70067276/218/ http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Xu-ly-tang-vat-sau-7-nam-dinh-chi-vu-an/70066833/218/.

[18] Dương Thanh Biểu, tlđd, 100, tr.113-114.

[19] http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nhung-chuyen-ky-quac-trong-vu-an-khi/65057817/218/.

[20] http://www.baomoi.com/Home/AnNinh/www.phapluattp.vn/Dan -khi-duoi-dai/1682787.epi  http://www.thuvienphapluat.vn/default.aspx?CT=NW&NID=4209.

[21] http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Ban-tang-vat-vu-an-khong-qua-dau-gia/40133482/218/.

[22] Phụ lục I: Danh mục dịch vụ, hàng hóa cấm kinh doanh Ban hành kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6  năm 2006 của Chính phủ.

[23] Nguyễn Mai Bộ (2004), Biện pháp ngăn chặn, khám xét và kê biên tài sản trong Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, tr.193-194.

[24] Nguyễn Văn Trượng, tlđd, 118, tr.29-30.

[25] Quách Thành Vinh (2010), “Một số trường hợp xử lý vật chứng chua có căn cứ việc dẫn”, Tòa án nhân dân, kỳ II, tháng 02 (số 4), tr.35-36.

[26] Mục 1 phần III Thông tư liên tịch số 03.TT.LB ngày 23/4/1984.

[27] Khoản 3 Điều 1 Chương I Quy chế quản lý và xử lý tài sản khi có quyết định tịch thu sung quỹ nhà nước và tài sản được xác lập quyền sở hữu nhà nước.

[28] Điều 239 và Điều 241 Bộ luật dân sự 2005.

[29] Nguyễn Văn Hào (2006), “Nên sửa đổi, bổ sung Điều 76 BLTTHS", TAND, tháng 6 (số 12), tr.4-5.

[30] http://vnecon.com/showthread.php?t=5440.

[31] Nguyễn Mạnh Hà (2005), "Bảo quản và xử lý vật chứng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 2003", Tòa án nhân dân, tháng 1 (số 2), tr.26.

[32] Nguyễn Văn Trượng (2005), “Quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự về việc trả lại tài sản cho chủ sở hữu và thực tiễn áp dụng”, Tòa án nhân dân, tháng 6 (số 12), tr.6.

[33] Mục 1 phần I Thông tư số 06/1998/TTLT/TANDTC-VKSNDTC-BTC-BCA ngày 24/10/1998 Hướng dẫn một số vấn đề về bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình ĐT, TT, XX VAHS.

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi