Thứ Tư, 14/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Tội phạm về hối lộ - Những quy định mới trong Bộ luật Hình sự phù hợp với công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc

Những năm qua, công tác đấu tranh đối với các tội phạm về hối lộ còn nhiều hạn chế nhất định, hàng năm công tác phát hiện, điều tra, xử lý các tội phạm về hối lộ chiếm tỷ lệ thấp so với các loại tội phạm khác. Một trong các nguyên nhân của tình trạng trên là do các quy định của pháp luật nước ta thời điểm đó (Điều 279: Tội nhận hối lộ; Điều 289: Tội đưa hối lộ; Điều 290: Tội môi giới hối lộ) Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009) mới chỉ tập chung quy định các hành vi hối lộ trong khu vực công, tức là khi nói tới hành vi hối lộ (đặc biệt là tội nhận hối lộ) là gắn liền với hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức chính trị xã hội. Hối lộ được coi là một hành vi tham nhũng phổ biến và chỉ tồn tại trong hoạt động hành chính công, trong hoạt động gắn liền với quyền lực của nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, của các loại hình doanh nghiệp liên doanh, liên kết, các quan hệ kinh tế đan xen giữa tài sản công và tài sản của tư nhân, thì việc quy định hành vi tham ô giới hạn bó hẹp trong khu vực công tạo ra một số khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật. Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế tư nhân đang ngày càng phát triển và giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, để giải quyết được những bất cập trong quy định về hành vi chiếm đoạt tài sản trong các tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước, cũng như nhằm đáp ứng những đòi của Việt Nam hiện nay trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, phản ánh được tinh thần của hiến pháp năm 2013 và bảo đảm sự tương thích với Công ước chống tham  nhũng của Liên hợp quốc thì việc quy định các hành vi tham nhũng trong khu vực tư là hết sức cần thiết, theo đó người có chức vụ, quyền hạn thuộc các thành phần ngoài nhà nước mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi phạm tội vì vụ lợi (ví dụ hành vi nhận tiền hối lộ của người có thẩm quyền trong lĩnh vực tư nhân) phải được xác định là hành vi tham nhũng để có chính sách xử lý thống nhất và phù hợp.

Do đó, để thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác phòng, chống tham nhũng, khắc phục những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước. Đồng thời để đảm bảo thực thi các nghĩa vụ theo Công ước chống tham nhũng mà Việt Nam là thành viên, trong quá trình xây dựng Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã quy định một số điểm mới đối với các tội phạm về hối lộ (Điều 354: Tội nhận hối lộ; Điều 364: Tội đưa hối lộ; Điều 365: Tội môi giới hối lộ) so với Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009, cụ thể:

Thứ nhất, mở rộng phạm vi khái niệm về chức vụ đối với tội phạm nhận hối lộ, bao gồm cả một số hành vi tội phạm về chức vụ xảy ra trong lĩnh vực tư

Theo quy định của Bộ luật năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2019 chỉ quy định chủ thể trong tội nhận hối lộ phải là người có chức vụ, quyền hạn trong lĩnh vực công; hành vi đưa hối lộ cho người có chức vụ, quyền hạn trong cơ quan, tô chức nhà nước. Tuy nhiên, do tính chất nghiêm trọng và mức độ ảnh hưởng ngày càng lan rộng của tham nhũng trong khu vực tư, là hệ quả việc việc tư nhân hóa mạnh mẽ các hoạt động trước đây vốn thuộc chức năng công như: giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội… Công ước chống tham nhũng yêu cầu các quốc gia thành viên cần thiết phải tăng cường các biện pháp đấu tranh chống tham nhũng không chỉ trong lĩnh vực công mà trong cả lĩnh vực tư. Theo quy định tại Điều 21 Công ước chống tham nhũng thì các quốc gia cần áp dụng các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác để hình sự hóa hành vi hối lộ trong khu vực tư. Vì thế, Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã mở rộng định nghĩa người có chức vụ quyền hạn phạm vi áp dụng của tội phạm về hối lộ (Điều 352: Khái niệm tội phạm về chức vụ). Qua đó xóa bỏ các tranh cãi còn tồn tại về việc áp dụng các tội về hối lộ trong khu vực tư và trong các doanh ngiệp có vốn Nhà nước. Mặc dù chỉ thay đổi không lớn về mặt từ ngữ, song việc bổ sung cụ từ “nhiệm vụ” (tại các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước), bên cạnh “công vụ” (đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống các cơ quan Nhà nước) theo quy định cũ tại BLHS 1999 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh của BLHS đến một nhóm chủ thể lớn hơn. Nhiệm vụ là một khái niệm mở, có phạm vi lớn và có thể sử dụng trong tất cả các lĩnh vực, đó không chỉ là mở rộng lĩnh vực áp dụng sang lĩnh vực ngoài công vụ mà còn mở rộng phạm vi áp dụng đối với những người làm việc trong cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ tạm thời, không ổn định. BLHS năm 2015 đã giới hạn phạm vi các tội phạm về chức vụ trong khu vực ngoài nhà nước chỉ đối với 04 tội danh, trong đo có 3 tội danh về hối lộ: tội nhận hối lộ, tội đưa hối lộ và tội môi giới hối lộ. Cụ thể là: khoản 6 Điều 354 (tội nhận hối lộ) quy định "Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này"; khoản 6 Điều 364 (tội đưa hối lộ) quy định "Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này"; khoản 7 Điều 365 (tội môi giới hối lộ) quy định "Người nào mà môi giới hối lộ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này". Với các quy định như trên, phạm vi áp dụng không chỉ dừng lại với các doanh nghiệp ngoài nhà nước mà còn áp dụng cho cả người nước ngoài hoặc người của tổ chức quốc tế theo quy định của Công ước chống tham nhũng. Vì thế việc một người nào đó vì vụ lợi mà đưa hối lộ cho công chức nước ngoài hay tổ chức quốc tế công để giành những ưu thế trong các hoạt động cũng được coi là hành vi hối lộ. Các quy định này đảm bảo được sự cạnh tranh lành mạnh, sự công bằng trong xã hội và giữ gìn được mối quan hệ giữa các nước với nhau.

Sự thay đổi định nghĩa người có chức vụ đã dẫn đến những thay đổi lớn, căn bản về phạm vi áp dụng của các tội phạm về chức vụ nói chung. Với một phạm vi áp dụng mang tính khái quát như vậy sẽ cần có văn bản hướng dẫn trong thời gian tới, song việc giải thích hướng dẫn sẽ không bị gò bó do quy định của luật gốc, rõ ràng, dễ hiểu và có thể quy định phù hợp với thực tiễn cũng như yêu cầu phòng chống tội phạm, dễ dàng thay đổi theo tình hình thực tế. Mặt khác, phạm vi áp dụng rộng sẽ tránh bỏ lọt tội phạm, xóa bỏ các quan điểm về phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, hạn chế việc xuất hiện các quan điểm trái chiều.

Thứ hai, bổ sung của hối lộ không chỉ là lợi ích vật chất mà còn bao gồm lợi ích phi vật chất

Bộ Luật hình sự năm 1999 có quy định, để có thể xử lý được người phạm tội thì của hối lộ trong các cấu thành tội phạm phải là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá được bằng tiền. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy bên cạnh việc dùng tiền hay lợi ích vật chất khác để hối lộ người có chức vụ quyền hạn thì lợi ích tinh thần bao gồm nhiều hình thức khác nhau có thể mang lại giá trị về mặt tinh thần cho người thụ hưởng cũng được các đối tượng sử dụng để hối lộ nhằm đạt được mục đích của mình. Đây cũng là yêu cầu của Công ước chống tham nhũng, các quốc gia thành viên phải quy định rõ ràng về của hối lộ hoặc những thiệt hại do tham nhũng gây ra là những lợi ích bất chính, tồn tại dưới bất kỳ hình thức nào, vô hình hoặc hữu hình, vật chất hoặc tinh thần, tiền tệ hoặc phi tiền tệ. Do đó, để đáp ứng nhu cầu thực tiễn cũng như bảo đảm thực thi các quy định của Công ước, Bộ Luật hình sự năm 2015 đã bổ sung của hối lộ bao gồm: “lợi ích vật chất” và “lợi ích phi vật chất” vào các cấu thành định tội đối với các tội phạm về hối lộ.  Như vậy “lợi ích phi vật chất” có thể là hối lộ tình dục, hối lộ thông tin, hối lộ thành tích, hối lộ điểm thi…, thậm chí là lời hứa làm hay không làm một việc nào đó để có lợi cho người khác, nhưng lại gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội, thì  sẽ bị xử lý hình sự và mức phạt cao nhất có thể là tử hình.

Thứ ba: bổ sung, sửa đổi một số dấu hiệu định khung của các tội phạm về hối lộ.

Theo quy định của Bộ Luật hình sự năm 1999 thì giá trị tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác là một trong các tình tiết định tội, định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự cơ bản của hầu hết các chức vụ. Tuy nhiên, có thể thấy Bộ Luật hình sự năm 1999 chưa có sự phân hóa phù hợp về giá trị tài sản và mức hình phạt trong khung, cũng như chưa bảo đảm mức độ tương xứng giữa giá trị tài sản và mức hình phạt trong khung, cũng chưa phù hợp với tình hình phát tiển kinh tế - xã hội ở Việt Nam cũng như thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm. Do đó, để phù hợp với thực tiễn của nước ta hiện nay, cần phải bảo đảm mức độ tương xứng giữa hình phạt với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội khi căn cứ vào giá trị tiền, tài sản của hành vi. Chính vì vậy, Bộ Luật hình sự 2015 có quy định giá trị tài sản bị chiếm đoạt lớn hơn quy định tại Bộ Luật hình sự 1999, BLHS năm 2015 đã nâng mức định lượng về giá trị tiền, tài sản tại các điều khoản có liên quan (từ 500.000 đồng lên đến 2.000.000 đồng). Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 354: Tội nhận hối lộ của Bộ Luật hình sự 2015 thì tài sản nhận hối lộ có giá trị từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc gây thiệt hại từ 5 tỷ trở lên mới bị áp dụng khung hình phạt có hình phạt cao nhất là tử hình (theo quy định tại Bộ Luật hình sự 1999 là 500 triệu đồng).

Như vậy, việc mở rộng các quy định về tội phạm hối lộ trong Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã thể chế hóa được chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng. Khắc phục được những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm về hối lộ nói riêng phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước. Mặt khác nó còn có ý nghĩa quan trọng giúp cho lực lượng chức năng trong công tác đấu tranh cả về nhận thức và thực tiễn, góp phần từng bước hoàn thiện khung pháp lý trong đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng nói chung, tội phạm về hối lộ nói riêng, cũng như thực hiện các cam kết theo các công ước, điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, tham gia.

 Tài liệu tham khảo:

1. Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Hà Nội, năm 2015

2. Công ước chống tham nhũng của Liên hợp quốc, năm 2003

Thượng úy, Ths Trần Văn Nam -Khoa Cảnh sát kinh tế - Học viện CSND

Trung úy, Triệu Đức Tâm - Khoa Cảnh sát kinh tế - Học viện CSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi