Thứ Hai, 15/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoạt động đánh giá chứng cứ của điều tra viên trong việc đề xuất Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Quyết định khởi tố bị can là cơ sở pháp lý xác định một con người cụ thể thực hiện hành vi phạm tội, là cơ sở để áp dụng các biện pháp ngăn chặn cần thiết và tiến hành các biện pháp điều tra đối với người phạm tội nhằm làm rõ các tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị can gây ra. Để có căn cứ khởi tố bị can đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật bên cạnh việc thu thập chứng cứ có liên quan đến hành vi phạm tội của bị can, thì đánh giá chứng cứ để xem xét xác định căn cứ ra quyết định khởi tố bị can có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động điều tra các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho thấy việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm căn cứ xem xét ra quyết định khởi tố bị can cũng gặp một số khó khăn như:

- Số lượng thông tin thu thập được ban đầu làm căn cứ ra quyết định khởi tố còn chưa đầy đủ, chưa nhiều chứng cứ để so sánh, đối chiếu, trong khi đó yêu cầu kiểm tra, đánh giá chứng cứ cần được tiến hành một cách khẩn trương, kịp thời để phục vụ việc xem xét quyết định khởi tố bị can, và áp dụng các biện pháp ngăn chặn hành vi phạm tội của đối tượng.

- Trong một số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người bị hại nghi ngờ kết quả giám định và yêu cầu giám định lại. Nhưng pháp luật tố tụng hình sự chưa quy định việc giám định lại được thực hiện bao nhiêu lần. Chính vì vậy dẫn đến việc tùy tiện trong trưng cầu giám định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Khi đánh giá chứng cứ điều tra viên không biết căn cứ vào kết quả giám định nào để xử lý vụ án.

- Đối với các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đông đối tượng tham gia, hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ để xác định hành vi thực hiện tội phạm, làm rõ trách nhiệm hình sự của từng đối tượng của vụ án gặp nhiều khó khăn.

Những tồn tại này, dẫn đến tình trạng quá trình đánh giá chứng cứ Điều tra viên kéo dài thời hạn điều tra, lúng túng trong việc đánh giá chứng cứ làm căn cứ xét đề nghị ra quyết định khởi tố bị can. Vì vậy, để việc xét ra quyết định khởi tố bị can trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản kịp thời, có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Điều tra viên cần thực hiện tốt một số yêu cầu sau đây:

Thứ nhất, việc thu thập, tổng hợp đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng là nhằm chứng minh một con người có thực hiện hành vi phạm tội hay không, phạm tội gì, được quy định tại Điều nào, Điểm nào, Khoản nào trong Bộ luật Hình sự, nhân thân của bị can; tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; có hay không các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự hoặc miễn trách nhiệm hình sự… Vì vậy, khi nghiên cứu đánh giá chứng cứ, Điều tra viên cần nắm chắc các dấu hiệu pháp lý và yếu tố cấu thành tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản, những đặc điểm hình sự và phương thức thủ đoạn của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản để xem xét các yếu tố cấu thành tội phạm, đề xuất thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

- Thứ hai, quá trình nghiên cứu hồ sơ, tài liệu ban đầu thu thập về vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm căn cứ để đề xuất ra quyết định khởi tố bị can, Điều tra viên cần nghiên cứu, đánh giá từng nguồn chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (như đơn tố giác tội phạm; lời khai của bị can; người bị hại, người làm chứng, người liên quan; vật chứng thu giữ; kết luận giám định; biên bản nhận dạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án…), có phương pháp đánh giá chứng cứ một cách khoa học, đầy đủ các thuộc tính của chứng cứ, tổng hợp được ‘đủ’’ chứng cứ để đề xuất thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.

+ Đối với vật chứng: Vật chứng là những vật được dùng làm công cụ phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng tác động của tội phạm hay tiền và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Trong hoạt động điều tra các vụ án lừa đảo nói chung, và hoạt động khởi tố vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng, vật chứng là nguồn chứng cứ đặc biệt quan trọng giúp cho Điều tra viên nhận định được tính chất vụ án, đối tượng gây án, phương thức thủ đoạn thực hiện hành vi phạm tội, đề xuất các biện pháp ngăn chặn kịp thời. Vật chứng trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường là các loại như điện thoại, xe ô tô, xe máy, tiền, giấy biên nhận tiền, bản cam kết, hợp đồng kinh tế…Khi kiểm tra vật chứng đã thu được trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Điều tra viên cần kiểm tra tỉ mỉ các vật chứng để xem xét chữ ký, chữ viết trên các hợp đồng kinh tế, giấy biên nhận tiền…có phải chính do bị can viết và ký không? Thời điểm viết có phù hợp với các lời khai của những người tham gia tố tụng có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm? Nội dung ghi trên các hợp đồng, giấy biên nhận có liên quan, phù hợp với tình tiết diễn biến của vụ án? Vật chứng là điện thoại, ôtô, xe máy đã thu thập được được có liên quan tới vụ án không? Vật chứng đó do ai thu thập? Thời gian, quy trình thu thập và chủ thể thu thập có đảm bảo tính hợp pháp hay không?

+ Đối với biên bản hỏi cung bị can; biên bản ghi lời khai của người làm chứng, người bị hại, người liên quan… là những nguồn chứng cứ quan trọng để chứng minh hành vi phạm tội của bị can. Khi nghiên cứu đánh giá các nguồn chứng cứ này, Điều tra viên cần lưu ý về tính hợp pháp của những nguồn chứng cứ trên, quan tâm đến tâm lý khai báo của những người tham gia tố tụng (nhân chứng, bị can, bị hại, người liên quan….). Qua thực tiễn cho thấy tâm lý khai báo của các bị can thường là quanh có chối tội hoặc khai nhận có mức độ không đầy đủ để trốn tránh hoặc giảm nhẹ tội; người bị hại sẽ có tâm lý khai báo với ý thức chủ quan theo hướng có lợi cho mình và quy kết đối với bị can... Do đó, phải có phương pháp đánh giá chứng cứ một cách khoa học, mang tính khách quan, tổng hợp và đầy đủ, tìm ra mâu thuẫn trong lời khai của chính họ hoặc mâu thuẫn giữa lời khai của họ với nhau, tìm ra điểm đồng nhất mang đầy đủ tính khách quan và liên quan trong vụ án. Không được chỉ coi trọng lời khai của người bị hại mà không xem xét kỹ đến lời khai của bị can, người làm chứng, người liên quan... và ngược lại. Khi thấy nghi ngờ một tình tiết nào đó trong hồ sơ vụ án, cần xem xét đầy đủ lý lẽ của các bên tham gia tố tụng qua lời khai của họ và đối chiếu với các biên bản xác minh trong vụ án, vật chứng đã thu giữ được trong hồ sơ vụ án… tìm ra chứng cứ trong mỗi lời khai của các bên tham gia tố tụng đặt mỗi chứng cứ tìm được trong sự liên hệ với nhau.

+ Đối với kết luận giám định, đây là nguồn chứng cứ được sử dụng để chứng minh những tình tiết liên quan đến vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản và được coi là chứng cứ gián tiếp có trong hồ sơ vụ án vì kết luận giám định có thể thay đổi được trong trường hợp Cơ quan tiến hành tố tụng không đồng ý với kết luận giám định. Tuy nhiên, trên thực tế kết luận giám định trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản lại có giá trị chứng minh rất cao và là cơ sở pháp lý để kết luận những những vấn đề liên quan trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản, như việc xác định chữ ký, chữ viết là của chính bị can; các tài liệu là thông tin bị can đưa cho bị hại để tạo lòng tin là tài liệu giả vv... Vì vậy, kết luận giám định hợp pháp có giá trị là chứng cứ để buộc tội hoặc gỡ tội đối với bị can...

Trong thực tế, vấn đề trưng cầu giám định tài liệu, chữ ký, chữ viết... của bị can trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản được CQĐT làm trước khi ra quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên, không phải trong vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản nào cũng cần thiết phải trưng cầu giám định. Chỉ trưng cầu giám định tài liệu, giám định chữ viết chữ ký... của bị can khi xét thấy kết luận giám định sẽ là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can. Kết luận giám định chỉ được coi là chứng cứ khi nó phản ánh rõ ràng, đầy đủ nội dung cần giám định và do chủ thể được quy định trong Điều 8, Pháp lệnh giám định tư pháp.

+ Đối với các biên bản hoạt động điều tra như biên bản đối chất, nhận dạng, biên bản xác minh… là nguồn chứng cứ được thiết lập bởi các cơ quan tiến hành tố tụng được lưu giữ trong hồ sơ vụ án. Các biên bản trên được coi là chứng cứ khi chúng được thiết lập theo quy định của Bộ luật TTHS với nội dung mang tính khách quan và liên quan với các nguồn chứng cứ khác có trong hồ sơ. Ví dụ: Kết quả xác minh đối với lời khai của bị can cho thấy lời khai của bị can tại CQĐT và thông tin bị can đưa ra đối với bị hại nhằm  tạo lòng tin với bị hại là những thông tin giả, không đúng với thực tế. Hoặc kết quả nhận dạng cho thấy đối tượng bị nhận dạng chính là đối tượng người bị hại tố cáo đã có hành vi lừa đảo, phù hợp với lời khai của nhân chứng, người liên quan... trong vụ án về đối tượng này. Khi kiểm tra các biên bản hoạt động điều tra, Điều tra viên cần lưu ý đến hình thức văn bản như ngày tháng ghi trên biên bản, thời gian lập biên bản, chủ thể tiến hành lập biên bản…

Như vậy, để việc đề xuất quyết định khởi tố bị can trong các vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản được kịp thời chính xác, đảm bảo đúng người, đúng tội, tránh oan, sai bỏ lọt tội phạm thì mỗi Điều tra viên cần nâng cao ý thức trách nhiệm của mình về trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói chung cũng như lý luận về chứng cứ, phương pháp đánh giá chứng cứ nói riêng. Đây cũng là một trong những giải pháp nhằm nâng cao hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.

Thượng úy, ThS. Đỗ Thị Mai Hương

Khoa Cảnh sát điều tra - T32

Tài liệu tham khảo:

- Trần Đại Quang và Nguyễn Xuân Yêm (2013), Khoa học hình sự Việt Nam tập 4, Chương XXII: Điều tra tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

- Quốc hội nước Cộng hòa XHCNVN (2015), Bộ luật hình sự

- Quốc hội nước Cộng hòa XHCNVN (2015), Bộ luật tố tụng hình sự

- Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (2015), Luật tổ chức cơ quan điều tra hình sự.

- Sách chuyên khảo “Thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ của Cơ quan Cảnh sát điều tra phục vụ yêu cầu tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự””, GS.TS Đỗ Đình Hòa - NXB Công an nhân dân


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi