Thứ Sáu, 22/6/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Đăng ký lễ hội dưới góc độ cấp phép hành chính cùng một số vấn đề pháp lý liên quan của dự thảo Nghị định về quản lý và tổ chức lễ hội

 

 Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên

Nhằm cơ bản khắc phục những vấn đề tồn đọng, phát huy những giá trị văn hóa - tinh thần tốt đẹp của dân tộc, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (Bộ VHTT&DL) đã dự thảo Nghị định về quản lý và tổ chức lễ hội trình Chính phủ xem xét ký ban hành. Dự thảo gồm 4 chương, 20 điều là sự luật hóa và kế thừa tinh thần của những văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về công tác lễ hội; đồng thời cũng “quy tụ” và hoàn chỉnh rất nhiều những quy định điều chỉnh hoạt động tổ chức và quản lý lễ hội còn rải rác, tản mạn trong nhiều văn bản pháp quy. Tuy nhiên, qua dự thảo Nghị định được công bố trên cổng thông tin điện tử của Bộ Tư pháp, tác giả cho rằng bản thân Dự thảo này vẫn còn một số điểm bất cập về khía cạnh pháp lý cần tiếp tục được làm rõ và bổ khuyết.

- Thứ nhất, đăng ký lễ hội - dưới góc nhìn cấp phép hành chính

Tham chiếu Điều 8 dự thảo Nghị định quy định vấn đề đăng ký lễ hội, thể hiện rõ nét phương thức cấp phép hành chính trong hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa:

+ Một là, đối sánh với quy định tại Nghị định 103/2009/NĐ-CP về tổ chức lễ hội hiện hành, rõ ràng hình thức “đăng ký lễ hội” về nội hàm không khác gì “cấp phép lễ hội” tại Nghị định 103 mà chỉ khác biệt ở phương diện ngoại diên từ ngữ. Điểm b, Khoản 1, Điều 9 khẳng định: Chỉ được tổ chức lễ hội khi có văn bản chấp thuận của Bộ VHTT&DL. Như vậy, “sự chấp thuận” của các cơ quan hành chính là sự không mặc nhiên thừa nhận quyền tổ chức lễ hội. Đăng ký lễ hội là một hoạt động cấp phép hành chính, là bản chất của hoạt động “tiền đăng - hậu kiểm”.

+ Hai là, các lễ hội được tổ chức định kỳ không áp dụng hình thức “đăng ký” mà chuyển sang hình thức “thông báo”. Đối với thủ tục này, có thể hiểu nhà nước hàm ý không áp dụng cơ chế “xin phép - cho phép” mà được tiến hành một cách mặc nhiên. Nhà nước bỏ qua khâu “tiền đăng”, tiến hành “hậu kiểm” để giám sát quá trình diễn ra lễ hội. Tuy vậy, dường như có sự bất minh định trong những quy định về thủ tục thông báo, Điểm b, Khoản 1; Điểm b, Khoản 2, Điều 13 quy định nếu Cục Văn hóa cơ sở hay Sở VHTT&DL sau khi thẩm định nội dung văn bản thông báo tổ chức lễ hội: “Trường hợp nếu không đồng ý với nội dung thông báo, phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do”. Với quy định nêu trên, trở ngược lại vấn đề: Nếu cơ quan nhà nước không đồng ý với văn bản thông báo tổ chức lễ hội thì lễ hội có được tổ chức hay không? Bởi, vấn đề “không đồng ý” trong thực tiễn có thể tồn tại ở nhiều khía cạnh. Có thể không đồng ý với một số trình tự tổ chức lễ hội, số lượng thành phần khách mời… hay thậm chí không đồng ý với cách đặt tên lễ hội. Tuy nhiên, những điểm này không ảnh hưởng nhiều tới tính an toàn, an ninh hay thuần phong mỹ tục của lễ hội. Nếu chỉ là những điểm “nhỏ nhặt” kể trên mà “không đồng ý” rất có thể sẽ làm gia tăng thời gian giải quyết của thủ tục hành chính. Vậy sự “không đồng ý” của cơ quan nhà nước cần phải được hiểu đến độ nào, trong trường hợp nào? Nếu “không đồng ý” có nghĩa là “không được tổ chức” thì bản chất của hoạt động này có khác gì với “hoạt động đăng ký” hay không?

Trong xu thế của cải cách hành chính, nhà nước dần thu hẹp vai trò quản lý và gia tăng vai trò phục vụ nhằm thỏa mãn đến mức cao nhất những nhu cầu của cộng đồng, xã hội, trong đó, phương thức “hậu kiểm” được đề cao, với phương thức này, Nhà nước nới rộng “đầu vào” nhưng giám sát, thanh tra chặt chẽ “đầu ra”. Theo đó, vấn đề tổ chức lễ hội cần thiết phải được kiểm soát bằng một phương thức mang bản chất cấp phép hành chính (nhất là đối với những lễ hội được tổ chức lần đầu) nhằm tạo ra môi trường văn hóa lành mạnh, đảm bảo trật tự xã hội.

Mặt khác, một quy định rất thiết thực của Thông tư 15/2015/TT-BVHTT&DL không được tái hồi hoàn chỉnh trong dự thảo Nghị định này, chế độ báo cáo (áp dụng với các lễ hội tổ chức định kỳ). Theo quy định tại Điều 7, Thông tư 15 thì việc báo cáo trải qua hai công đoạn: Báo cáo trước và sau khi tổ chức lễ hội. Khoản 9, Điều 6 của Dự thảo chỉ quy định vấn đề báo cáo sau khi tổ chức lễ hội. Chế định về báo cáo tổ chức lễ hội có phần tỏ ra ưu việt hơn “văn bản thông báo” tại dự thảo Nghị định cả về ý nghĩa cũng như hình thức thực hiện thủ tục hành chính. Bởi lẽ, báo cáo có nghĩa là mặc nhiên được thực hiện. Nội dung bản báo cáo trước khi tổ chức cũng rất đơn giản, bao gồm: Thời gian, địa điểm, nội dung, chương trình kịch bản lễ hội (nếu có); quyết định thành lập và danh sách Ban Tổ chức lễ hội”. Và sau khi tiếp nhận, cơ quan nhà nước không ra văn bản “đồng ý hay không đồng ý” mà có trách nhiệm: … chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện” (Điểm c, Khoản 1, Điều 7 của Thông tư 15).

Tuy nhiên, vấn đề cốt lõi trong tổ chức lễ hội là hoạt động thanh tra, kiểm tra, quản lý của cơ quan chức năng - cơ chế “hậu kiểm”, điều đó quan trọng hơn cấp phép hay đăng ký, báo cáo… Thực tế cho thấy, có rất nhiều các lễ hội dù đã được tổ chức định kỳ hằng năm vẫn không sao khắc phục được những hạn chế và bất cập như đã nêu. Tiêu biểu phải kể đến những hình ảnh chen lấn phản cảm trong lễ hội phát ấn ở Đền Trần (Nam Định) hay việc nhét tiền công đức vào gốc cây, tượng thánh la liệt ở Đền Bà chúa Kho (Bắc Ninh…

Từ những phân tích trên cho thấy “cấp phép” hay “đăng ký lễ hội” gần như không có nhiều ý nghĩa với thực tế tổ chức của lễ hội mà việc quản lý và kiểm tra quá trình tổ chức mới thực sự là điều đáng để đề cập. Nên chăng, cần chuyển dần hình thức xin cấp phép, đăng ký mang bản chất cấp phép này sang chế độ báo cáo và bổ sung chế tài cho việc thực hiện các quy định về báo cáo tổ chức lễ hội đối với những cá nhân có trách nhiệm liên quan.

- Thứ hai, những vấn đề pháp lý khác tại dự thảo Nghị định

Bên cạnh vấn đề đăng ký lễ hội cần phải được tham luận thêm, Dự thảo Nghị định về tổ chức và quản lý lễ hội của Bộ VHTT&DL còn một số điểm cần được tiếp tục hoàn thiện. Cụ thể như:

+ Một là, Khoản 1, Điều 64 Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013 quy định: “Việc tổ chức lễ hội và các hoạt động khác có sử dụng nguồn lực đóng góp của cộng đồng phải bảo đảm tiết kiệm, đúng mục đích, hiệu quả, công khai, minh bạch…”. Cũng với tinh thần đó, Khoản 8, Điều 7 dự thảo Nghị định quy định một trong những nguyên tắc của tổ chức và quản lý lễ hội: Tổ chức lễ hội phù hợp với điều kiện, khả năng của địa phương, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí.”. Chính vì vậy, cơ sở ban hành Nghị định cần bổ sung Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí 2013 nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ.

+ Hai là, dự thảo Nghị định cũng tồn tại một số điểm bất tương thích với các đạo luật hiện hành. Theo Khoản 1, Điều 14 Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 quy định lễ hội tín ngưỡng được tổ chức lần đầu, lễ hội tín ngưỡng sau nhiều năm gián đoạn: "… thì người đại diện hoặc ban quản lý cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm gửi văn bản đăng ký đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi tổ chức lễ hội”. Tham chiếu Khoản 1, Điều 8 của Dự thảo đã trích dẫn, thẩm quyền giải quyết thủ tục đăng ký lễ hội thuộc về Bộ VHTT&DL. Vậy, Nghị định này có loại trừ lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hay không? Nói cách khác, nội hàm khái niệm “lễ hội truyền thống” và các lễ hội khác trong Dự thảo có bao trùm lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hay không?

+ Ba là, một số lỗi diễn đạt, chính tả cần phải được chỉnh sửa nhằm thống nhất cách hiểu, tránh trùng lặp, dài dòng. Ví dụ, Điểm a, Khoản 2, Điều 7: “Chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật; nội quy thực hiện nếp sống văn minh trong lễ hội”. Với quy định này, việc đặt dấu chấm phẩy “;” ngăn cách cụm “… các quy định của pháp luật” với cụm “nội quy thực hiện...” là không hợp lý về mặt chính tả, cần phải thay bằng dấu phẩy “,”. Đây không phải hai cụm từ tương đương nhau. Cùng một hành vi “chấp hành” hướng tới những đối tượng được liệt kê để chấp hành là “quy định của pháp luật”, “nội quy” phải dùng dấu phẩy “,” mới chính xác. Vì vậy, Dự thảo cần xem xét biên tập lại theo hướng ngắn gọn, cô đọng hơn hoặc giao cho Bộ VHTT&DL nghiên cứu xây dựng và văn bản hướng dẫn về những hành vi ứng xử văn hóa cụ thể trong lễ hội.

+ Bốn là, cần bổ sung thêm quy định về khen thưởng bên cạnh quy định về xử phạt (Điều 18 của Dự thảo) nhằm tạo thế cân bằng giữa chế tài với biện pháp khuyến khích, động viên theo tinh thần của pháp luật về thi đua khen thưởng. Đặc biệt, cần nghiên cứu quy định điều khoản khen thưởng dành cho các tổ chức, cá nhân có nhiều đóng góp cho việc bản tồn và phát huy giá trị lễ hội truyền thống (ví dụ: Các nghệ nhân và đội ngũ học trò…); có giải pháp, sáng kiến hữu hiệu góp phần bảo đảm an ninh, trật tự; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong tổ chức lễ hội.

+ Năm là, thực tế những năm gần đây, nhiều cán bộ, công chức, viên chức ngang nhiên sử dụng xe công để đi lễ hội trong giờ hành chính vào những dịp lễ hội đầu năm gây phản cảm trong cộng đồng, dư luận. Chính vì vậy, nguyên tắc của Dự thảo cần bổ sung quy định: “Cán bộ, công chức, viên chức, người lao động không được sử dụng xe công để đi lễ hội; không được đi lễ hội trong giờ làm việc” nhằm đề cao trách nhiệm công vụ và tránh lặp lại hiện trạng “nhức nhối” kể trên.

Qua những phân tích trên có thể thấy, dù có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quá trình xây dựng các quy định nhưng dự thảo Nghị định về tổ chức và quản lý lễ hội vẫn có những vấn đề tồn tại cả trong nội dung cũng như hình thức. Song, không thể phủ nhận giá trị của Nghị định nếu được thông qua đối với công tác tổ chức, chấn chỉnh hoạt động tổ chức lễ hội trên phạm vi cả nước; khắc phục về cơ bản những tồn tại và góp phần xây dựng đời sống văn hóa lành mạnh, trật tự, văn minh, hướng tới những giá trị tinh thần cao đẹp của cộng đồng, xã hội. Hy vọng rằng, những tham góp nhỏ này sẽ cung cấp thêm những góc nhìn mới từ khía cạnh pháp lý cho các cơ quan, ban, ngành trong quá trình thẩm định, hoàn thiện và ban hành văn bản quy phạm./.

Đỗ Hải Yến - Khoa Luật - T32 

Nguyễn Vũ Phương Linh - L1K1 -  Hệ TPHS - T32

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi