Thứ Sáu, 22/6/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao
Một vụ án do Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao Công an thành phố Hà Nội đấu tranh triệt phá

Hiện nay, các loại tội phạm truyền thống sử dụng hoặc lợi dụng công nghệ thông tin (CNTT), viễn thông làm phương tiện thực hiện các hành vi phạm tội ngày càng phổ biến với nhiều phương thức, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Nổi lên là các hành vi trộm cắp thông tin thẻ tín dụng; lừa đảo chiếm đoạt tài sản qua mạng Internet, viễn thông bằng hình thức kinh doanh, bán hàng đa cấp; lừa đảo thông qua các giao dịch, bán hàng trực tuyến, trộm cắp tài khoản các trang mạng xã hội (như Facebook, Zalo…). Các biểu hiện khác như trộm cắp, gian lận cước viễn thông quốc tế; phát tán tin nhắn rác, tin nhắn lừa đảo, kinh doanh trái phép các loại tiền điện tử… đều diễn biến rất phức tạp.

Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát Phòng chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (PCTPSDCNC), Bộ Công an, từ 2012 - 2017, lực lượng Cảnh sát PCTPSDCNC trên cả nước đã phát hiện và xác minh 1.664 đầu mối vụ việc với 2.903 đối tượng có dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến yếu tố sử dụng công nghệ cao. Cơ quan điều tra đã khởi tố 302 vụ việc phạm tội với 1.116 bị can, chuyển ngành khác 347 vụ và xử lí hành chính là 467 vụ. Trong đó, số vụ phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản được phát hiện là 1.362 vụ chiếm tới 81,89%, số vụ khởi tố, điều tra về hành vi sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản là 247 vụ với 655 bị can.

Qua nghiên cứu phân tích tình hình thực tế công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao, chúng tôi đưa ra một số điểm nổi bật về nguyên nhân, điều kiện của tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao như sau:

- Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao nói chung, tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nói riêng còn nhiều bất cập, thiếu tính bao quát, đồng bộ.

- Mặc dù công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và nâng cao kỹ năng bảo vệ thông tin đã được triển khai song nhận thức của quần chúng nhân dân, của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân trong vấn đề bảo mật thông tin còn hạn chế, ý thức cảnh giác của người dân trước thủ đoạn trộm cắp, lừa đảo của tội phạm còn thấp.

- Việc triển khai thực hiện các biện pháp phòng ngừa nghiệp vụ đã được quan tâm, nhưng còn chưa đảm bảo sự thống nhất, đồng bộ, trên thực tế nhiều nơi, nhiều lúc còn mang tính hình thức, làm chống đối, qua loa, chưa thực sự đi sâu sát nắm thông tin, quản lý địa bàn, lĩnh vực, đối tượng có điều kiện, khả năng hoạt động phạm tội về sử dụng công nghệ cao. Tại một số đơn vị chuyên trách vẫn còn tình trạng giao khoán chỉ tiêu nghiệp vụ cơ bản, chỉ chú trọng đến công tác đấu tranh triệt phá mà xao nhãng hoạt động phòng ngừa.

- Trình độ và năng lực của lực lượng Cảnh sát PCTPSDCNC ở giai đoạn hiện tại chưa xứng tầm yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm. Trình độ, năng lực của hệ lực lượng chưa đồng nhất. Tại Công an các địa phương, cán bộ chuyên trách PCTPSDCNC chưa được đào tạo kỹ năng, được đào tạo không đúng chuyên ngành. Bên cạnh đó, cơ sở vật chất, công cụ phương tiện thiếu và không đồng bộ cũng là một trong những trở ngại lớn để lực lượng trên tiến hành các hoạt động nghiệp vụ phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi phạm tội.

Trong thời gian tới, cùng với sự phát triển từng ngày của công nghệ thông tin, viễn thông thì tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao sẽ có những diễn biến mới khó lường, xuất hiện nhiều phương thức thủ đoạn mới tinh vi hơn, gây ra hậu quả to lớn cho kinh tế, xã hội nước ta. Do đó, công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cần phải được quan tâm, tăng cường hơn nữa, tập trung vào các nội dung sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao hiểu biết và ý thức pháp luật của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và công dân về phòng, chống tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức trách nhiệm xã hội và hướng dẫn các tổ chức, đoàn thể xã hội, người sử dụng tham gia phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về sử dụng công nghệ cao. Để phòng ngừa tội phạm sử dụng công nghệ cao có hiệu quả, cần tuỳ theo đối tượng để có nội dung hình thức tuyên truyền, giáo dục phù hợp.

Hai là, tăng cường công tác cán bộ, cần quan tâm đầu tư đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ Cảnh sát PCTPSDCNC có bản lĩnh vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt; đặc biệt cần có kiến thức sâu về chuyên môn - kỹ thuật trong các lĩnh vực công nghệ cao, đồng thời phải có trình độ pháp luật, nắm vững và vận dụng được các nguyên tắc, biện pháp, chiến thuật hoạt động nghiệp vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm. Tiếp tục có phương hướng bồi dưỡng tin học, ngoại ngữ thường xuyên đối với đội ngũ cán bộ nhằm kịp thời cập nhật các kiến thức CNTT đang thay đổi từng ngày, từng giờ. Tăng cường đào tạo chuyên ngành đấu tranh PCTPSDCNC theo chương trình đào tạo kỹ sư hoặc cử nhân tại Học viện Cảnh sát nhân dân, Học viện An ninh nhân. Cần có chính sách hợp lý để khuyến khích, thu hút, tuyển dụng những cán bộ có trình độ cao về khoa học - công nghệ và năng lực đấu tranh chống tội phạm sử dụng công nghệ cao phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân. Cập nhật và trang bị đầy đủ, kịp thời những phương tiện, công nghệ hiện đại phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới trên lĩnh vực CNTT viễn thông.

Ba là, tăng cường phối hợp với các ngành triển khai các giải pháp phòng ngừa tội phạm sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong kinh doanh đa cấp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức tham gia hoạt động kinh doanh đa cấp. Trong đó, tập trung phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước về công nghệ thông tin và truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Cục quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương. Sử dụng các công cụ kỹ thuật để ngăn chặn tấn công mạng, phòng ngừa, bảo vệ cho các máy chủ, trang tin điện tử, cơ sở dữ liệu. Tiếp tục cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, các lực lượng liên quan để phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm sử dụng mạng máy tính thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản trong kinh doanh đa cấp đạt hiệu quả cao hơn, trong đó, chú ý sự phối hợp với các cơ quan Nhà nước như: Bộ thông tin và Truyền thông, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, dịch vụ Internet (ISP), ngân hàng, các doanh nghiệp thương mại điện tử, các doanh nghiệp kinh doanh đa cấp. Trong thời gian tới cần tăng cường phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, xây dựng các quy định, quy chuẩn đối với công tác quản lý thuê bao của các nhà mạng, yêu cầu ghi logfile dữ liệu, đảm bảo truy nguyên người sử dụng cuối cùng, tăng cường công tác quản lý đối với thuê bao Internet 3G.

Bốn là, hoàn thiện hệ thống pháp lý về đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Hoàn thiện các quy định pháp luật hình sự gồm các quy định của Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành. Cần nghiên cứu pháp luật hình sự của các nước có nền công nghệ thông tin, viễn thông phát triển và các quốc gia có tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này phức tạp để hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về tội phạm sử dụng công nghệ cao. Hiện so sánh quy định của Luật Hình sự Việt Nam với một số nước vẫn còn một số hành vi chưa được xác định một cách rõ ràng là tội phạm chẳng hạn như các hành vi thu thập thông tin riêng không qua các phần mềm hoặc thâm nhập trái phép, hay các hành vi sử dụng mạng thông tin để bôi nhọ, phỉ đáng, đe doạ người khác... Cùng với việc hoàn thiện quy định của Bộ luật Hình sự cần ban hành hệ thống văn bản đồng bộ giải thích, hướng dẫn thực hiện các tình tiết được được quy định trong Bộ luật hình sự như xác định các mức độ hậu quả... Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về tội phạm sử dụng công nghệ cao. Theo kinh nghiệm các nước, một trong những vấn đề quan trọng là cần có những quy định thừa nhận chứng cứ điện tử, đồng thời có những quy định riêng điều chỉnh việc thu thập, phục hồi, phân tích chứng cứ điện tử trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự; có các quy định bắt buộc các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông phải có trách nhiệm lưa trữ và cung cấp các dữ liệu điện tử phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử....

Nguyễn Thị Xuân Thu

Trung tâm Bồi dưỡng chức danh và giáo viên - Học viện CSND

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi