Thứ Tư, 12/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Thực trạng tội phạm về môi trường trong lĩnh vực khai thác than trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh và giải pháp phòng ngừa

Nghiên cứu tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than ở tỉnh Quảng Ninh thấy nổi lên những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, tình trạng tội phạm, VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than diễn ra ở hầu khắp các địa bàn, nhất là ở những nơi có các mỏ than với trữ lượng lớn.

Thứ hai, thành phần đối tượng vi phạm rất đa dạng và phức tạp

Từ năm 2011 đến năm 2017, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện hơn 35 tổ chức và hơn 90 cá nhân vi phạm pháp luật về môi trường trong khai thác than bị phát hiện, xử lý 25/35 tổ chức (chiếm 71,5%), 80 cá nhân (chiếm 88,9 %), trong đó:

Đối với tổ chức: Theo Luật Khoáng sản, thì đã có hầu hết các thành phần kinh tế như: Doanh nghiệp nhà nước, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... tham gia khai thác khoáng sản. Trong tổng 35 tổ chức VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than có 10 lượt Công ty trách nhiệm hữu hạn vi phạm (chiếm tỷ lệ 28,5%), 5 lượt Công ty cổ phần vi phạm (chiếm tỷ lệ 14,28%) và 20 lượt doanh nghiệp liên doanh (chiếm tỷ lệ 57,22%)

Đối với cá nhân: đã phát hiện, xử lý vi phạm hành chính về môi trường trong lĩnh vực khai thác than với hơn 90 lượt, trong đó đối tượng vi phạm đủ độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Số lượng cá nhân vi phạm nhiều nhất ở độ tuổi từ 31 đến 45 tuổi. Ở độ tuổi này, người phạm tội đã có sự suy nghĩ chín chắn, ý thức được hành vi vi phạm của mình. Họ có trình độ văn hoá, đa số đều học hết phổ thông trung học, nhiều đối tượng có trình độ cao đẳng và đạỉ học. Đối tượng vi phạm chủ yếu là nam giới, chiếm đến trên 95%, điều này xuất phát từ tính chất công việc, khai thác than là công việc nặng nhọc, nguy hiểm nên đòi hỏi con người phải có sức khoẻ. Động cơ mục đích vi phạm chủ yếu vì lợi ích kinh tế.

Thứ ba, phương thứcthủ đoạn của tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than rất tinh vi nhằm đối phó với việc phát hiện, bắt giữ, xử lý của các cơ quan chức năng, trong đó phổ biến là:

- Vi phạm những quy định chung về Báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) như: Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các báo cáo đánh giá tác động môi trường. Đây là cơ sở để các cơ quan chức năng chỉ đạo, tổ chức kiểm tra việc thực hiện các nội dung đã cam kết, các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt. Tuy nhiên, trong quá trình hoạt động, để rút ngắn thời gian và giảm kinh phí trong việc xây dựng, đồng thời để tránh sự giám sát của các cơ quan chức năng, giảm chi phí trong việc thực hiện các biện pháp BVMT, các đối tượng đã không đăng ký cam kết BVMT họặc không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; lập dự án với quy mô sản xuất, kinh doanh dưới mức phải lập báo cáo tác động môi trường hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các nội dung trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Từ năm 2010 đến nay, lực lượng CSMT tỉnh Quảng Ninh đã phát hiện, xử phạt trên 50 vụ VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than do lỗi không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ các báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết BVMT (chiếm tỷ lệ trên 60% tổng số vụ VPPL về môi trường trong khai thác khoáng sản).

- Một số cơ quan doanh nghiệp không xây dựng công trình xử lý nước thải; thực hiện không đúng những nội dung xây dựng công trình xử lý chất thải trong bản đăng ký đạt chuẩn môi trường; xả trực tiếp nước thải vượt quá tiêu chuẩn không qua xử lý ra môi trường vào những thời điểm các lực lựợng chức năng khó có thể kiểm tra được như đêm khuya, ngày nghỉ, trong lúc xả thải bố trí người canh gác, cảnh giới. Một số doanh nghiệp xây dựng hệ thống ống, cống ngầm bí mật chôn sâu dưới lòng đất sau đó xả thẳng nước thải ra môi trường theo hệ thống ống, cống ngầm này; khoan, đưa chất thải vào lòng đất hoặc pha loãng nồng độ nước thải rồi xả ra môi trường. Ngoài ra, một số nhà máy, cơ sở sản xuất không vận hành hệ thống xử lý nựớc thải thường xuyên mà chỉ vận hành đối phó khi có đoàn thanh tra, kiểm tra.

- Vi phạm pháp luật về môi trường trong quản lí chất thải nguy hại, chất thải rắn thông thường trong khai thác than. Thủ đoạn VPPL về quản lí chất thải nguy hại phổ biến là không lập hồ sơ và đáng ký quản lý chất thải nguy hại với cơ quan chuyên môn về BVMT. Bên cạnh đó, một số đối tượng không phân loại, để lẫn chất thải nguy hại với các chất thải, các loại hàng hóa thông thường; lưu giữ chất thải nguy hại không đảm bảo an toàn, cất giấu tại các địa điểm bí mật; lén lút, bí mật đổ trộm chất thải tại nhiều khu vực, địa điểm khác nhau; chôn lấp chất thải nguy hại không đúng quy định.

- Không thực hiện các quy định về phòng, chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường; không phục hồi, hoàn thổ, hoàn nguyên môi trường. Đây là thủ đoạn thường xuyên xảy ra trong quá trình khai thác khoáng sản nhằm trốn tránh trách nhiệm, giảm chi phí trong việc BVMT củà các tổ chức, cá nhân. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp, công tác quy hoạch, thăm dò, đánh giá trữ lượng chưa sát với thực tế dẫn đến một số doanh nghiệp sau khi thực hiện xong các thủ tục xin cấp phép, đền bù, giải phóng mặt bằng, san lấp, làm đường nhưng khi đi vào khai thác trữ lượng quá nhỏ hoặc chất lượng quặng thấp phải dừng việc khai thác, các doanh nghiệp không thực hiện trách nhiệm cải tạo, phục hồi hoàn thổ, hoàn nguyên môi trường gây ra các tác động xấu đến cảnh quan môi trường. Từ năm 2010 đến hết nay, lực lượng CSPCTP về môi trường Quảng Ninh đã phát hiện, xử phạt 10 vụ VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than do lỗi vi phạm các quy định về phòng chống, khắc phục ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường (chiếm tỷ lệ trên 15% tổng số vụ VPPL về môi trường trong khai thác khoáng sản).

Từ diễn biễn tình hình tội phạm và VPPL trong lĩnh vực khai thác than nêu trên, có thể đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng trong lĩnh vực khai thác than, bao gồm:

Một là, do địa hình nhiều khu vực khai thác rộng đi lại khó khăn, khó xác định ranh giới, diện tích nên hạn chế đến công tác trinh sát, nắm tình hình. Các đối tượng vi phạm đã lợi dụng điều kiện này và những khu vực giáp ranh giữa các khai trường, lợi dụng lực lượng quản lý mỏng, công tác quản lý lỏng lẻo để khai thác, kinh doanh  than trái phép, không thực hiện đúng quy định về bảo vệ môi trường, thậm chí cố tình vi phạm, chấp nhận bị xử lý hành chính phạt tiền. Kinh phí, phương tiện nghiệp vụ phục vụ phòng ngừa, phát hiện, xác định hành vi vi phạm Luật BVMT trong lĩnh vực này còn rất hạn  chế, nhất là thiết bị xác định mức độ ô nhiễm không khí, đất, nước, độ ồn, độ rung, xác định ranh giới quản lý, khu vực khai thác...

Hai là, nhận thức của nhân dân về BVMT trong khai thác than còn hạn chế. Thực tế cho thấy, do dân số tăng nhanh, đời sống nhân dân khu vực có các mỏ than còn gặp nhiều khó khăn do thiếu việc làm, thu nhập bấp bênh, trình độ dân trí còn lạc hậu nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo thực hiện hành vi phạm tội và VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than. Mặt khác, nguồn lợi từ việc khai thác than cao hơn nhiều so với sản xuất nông nghiệp, nên người dân tại các địa bàn có trữ lượng than lớn thường bỏ lao động sản xuất để tham gia khai thác than.

Ba là, ý thức chấp hành pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than của các tổ chức và cá nhân chưa cao.

Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác than là những đối tượng am hiểu pháp luật về BVMT trong lĩnh vực khai thác khai thác; hiểu và nắm vững trách nhiệm của mình trong việc BVMT khi tổ chức hoạt động khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, vì lợi ích kinh tế nên phần lớn các tổ chức, cá nhân doanh nghiệp đã cố tình không chấp hành pháp luật BVMT trong quá trình khai thác. Trên thực tế, để chấp hành đúng các quy định pháp luật BVMT, các tổ chức, cá nhân khai thác than phải bỏ tiền chi phí cho các hoạt động quản lý, vận chuyển và xử lý các loại khí thải, chất thải như: Đầu tư xây nhà kho, bãi lưu giữ; đầu tư cơ sở, máy móc, công nghệ xử lý chất thải. Những khoản tiền đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, trang thiết bị nêu trên có thể lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm tỷ đồng. Bên cạnh đó, các tổ chức, cá nhân phải bỏ ra khoản chi phí đáng kể cho việc bảo dưỡng trong quá trình hoạt động, vận hành xử lý nước thải, rác thải hoặc các tổ chức, cá nhân phải thuê các tổ chức cá nhân khác xử lý chất thải... Do vậy, lợi nhuận do không chấp hành pháp luật BVMT trong khai thác khoáng sản mang lại rất lớn là nguyên nhân quan trọng của việc các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp cố tình VPPL về môi trường trong quá trình khai thác khoáng sản.

Bốn là, cán bộ nghiệp vụ của lực lượng CSMT về môi trường chủ yếu được chuyển từ các lực lượng nghiệp vụ khác, chưa có kiến thức sâu về lĩnh vực môi trường nên quá trình tiến hành công tác nghiệp vụ cơ bản còn nhiều lúng túng. Một số nội dung của công tác nghiệp vụ cơ bản trong phòng ngừa tội phạm, VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than chưa được quan tâm đúng mức; việc kiểm tra, đôn đốc chưa thường xuyên; một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trình độ còn hạn chế, chưa thấy hết được vai trò và tầm quan trọng của công tác này. Trong quá trình thu thập thông tin còn có xu hướng lạm dụng các biện pháp công khai, chưa chú ý sử dụng các biện pháp bí mật.

Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ lực lượng CSMT nhận thức chưa đúng về vai trò, tầm quan trọng của quan hệ phối hợp với các lực lượng khác trong phòng ngừa tội phạm, VPPL về môi trường trong lĩnh vực khai thác than; hiểu chưa đầy đủ về vị trí của các bên tham gia phối hợp; chưa có ý thức giữ gìn bí mật. Một số lực lượng tham gia phối hợp chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu tin tưởng lẫn nhau dẫn đến hoạt động đơn lẻ, tách rời; thậm chí không muốn phối hợp vì sợ phải chia sẻ thông tin, lộ bí mật về kinh nghiệm, nghiệp vụ và bất đồng quan điểm khi giải quyết vấn đề.

Thời gian tới, để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng ngừa tội phạm về môi trường trong lĩnh vực khai thác than theo chức năng của lực lượng Cảnh sát Môi trường, tác giả xin đưa ra một số giải pháp sau:

- Chủ động tham mưu cho các cấp, các ngành chức năng cũng như tỉnh ủy, UBND tỉnh Quảng Ninh trong quản lý Nhà nước và thực thi có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác than

- Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường và vận động nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than

- Tiếp tục tham mưu cho lãnh đạo Công an tỉnh, tỉnh ủy, UBND chỉ đạo quyết liệt công tác phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường đối với lĩnh vực khai thác than

- Sớm ban hành văn bản hướng dẫn làm cơ sở pháp lý phục vụ hoạt động phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than

Nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bản trong phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường đối với lĩnh vực khai thác than

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than

- Tăng cường quan hệ phối hợp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường trong lĩnh vực khai thác than

Tài liệu tham khảo

- Báo cáo tổng kết tình hình và công tác phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường, tài nguyên, an toàn thực phẩm từ năm 2011 đến năm 2017, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về Môi trường, Công an tỉnh Quảng Ninh

Lục Thanh Huyền- Khoa Cảnh sát Môi trường, T38

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi