Thứ Năm, 23/11/2017
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay

Các lĩnh vực chủ yếu xảy ra tội phạm tham nhũng là: Tài chính, ngân hàng, quản lý tài sản công, đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, giải quyết các chính sách xã hội... Quy mô các vụ án tham nhũng bị phát hiện được dư luận quan tâm nhìn chung là lớn, thể hiện ở số" đối tượng liên quan, lượng tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát, nhiều vụ án tham nhũng gây thiệt hại cho Nhà nước hàng nghìn tỷ đồng. Chẳng hạn, năm 2011, vụ án “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại công ty cho thuê tài chính II (ALC II) - Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, đã gây thiệt hại cho Nhà nước trên 10.000 tỷ đồng. Báo cáo cũng cho biết, chỉ riêng năm 2012, tội phạm về tham nhũng đã gây thiệt hại cho Nhà nước 6.122 tỷ đồng, mới thu hồi nộp Ngân sách 383 tỷ đồng, còn thất thoát 5.739 tỷ đồng.

Không chỉ gây thiệt hại về tài sản, tội phạm về tham nhũng còn làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội, làm xói mòn lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, làm ảnh hưởng đến đầu tư của nước ngoài vào Việt nam.

Trong những năm qua, công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, chỉ đạo sát sao. Báo cáo kết quả công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN năm 2011 cho thấy, công tác PCTN đã bám sát và phục vụ tích cực các nhiệm vụ chính trị của đất nước, tiếp tục đạt được những kết quả tích cực trên cả hai mặt là phòng ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi tham nhũng. Ban chỉ đạo đã xác định, việc triển khai thực hiện Nghị quyết trung ương 3 (Khóa X) “Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta hiện nay được tiến hành song song với một nhiệm vụ trọng tâm nữa là sẽ “tăng cường và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm tham nhũng”.

Mặc dù công tác phát hiện, điều tra tội phạm tham nhũng đã đạt được kết quả đáng khen ngợi, nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác PCTN hiện nay. Đặc biệt, việc phát hiện, khởi tố, điều tra tội phạm tham nhũng còn ít so với tình hình thực tế xảy ra, tiến độ điều tra một số vụ án còn chậm, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung vẫn diễn ra, số lượng án tồn đọng cũng như tỷ lệ án bị đình chỉ điều tra khá nhiều... Đây chính là những hạn chế, thiếu sót mà lực lượng CSĐT phòng chống tội phạm nói chung, CSĐT tội phạm về tham nhũng nói riêng cần tháo gỡ, khắc phục trong thời gian tới.

Thực tế cho thấy, công tác điều tra, xử lý tội phạm tham nhũng ở nước ta hiện nay đang phải đối mặt với những khó khăn, vướng mắc sau đây:

Một là, về phía các văn bản pháp luật liên quan.

Hiện nay, một số văn bản pháp luật (VBPL) liên quan đến công tác đấu tranh PCTN còn nhiều bất cập, không thống nhất, gây khó khăn cho việc áp dụng và thực thi có hiệu quả trên thực tế. Cụ thể là:

- Bộ luật hình sự (BLHS) năm 1999, Chương XXI, Mục A - Chương các tội phạm về tham nhũng quy định có 07 hành vi phạm tội nhưng tại Điều 3 Luật PCTN năm 2005 lại quy định 12 hành vi tham nhũng, trong khi đó chưa có Thông tư hướng dẫn cụ thể dẫn đến tình trạng các địa phương vận dụng không thống nhất, gây khó khăn cho việc xác định đối tượng đấu tranh với tội phạm tham nhũng của lực lượng Công an.

- Một số văn bản của các ngành trái với quy định của Luật Tố tụng hình sự (TTHS), cụ thể như: Ngân hàng Nhà nước quy định chỉ khi có Quyết định khởi tố" vụ án hình sự thì mới cung cấp tài liệu cho Cơ quan điều tra (CQĐT) hoặc có những việc báo chí đưa tin sai sự thật nhưng Luật báo chí lại quy định chỉ có Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND), Chánh án Tòa án nhân dân (TAND) cấp tỉnh trở lên mới có quyền yêu cầu cơ quan báo chí cung cấp nguồn tin,... gây khó khăn cho công tác phát hiện tội phạm tham nhũng cũng như việc thu thập tài liệu phục vụ cho khởi tố" vụ án hình sự.

- Một số VBPL về PCTN cũng như quản lý hành chính, kinh tế nhà nước chưa chặt chẽ, bộc lộ nhiều kẽ hở, chồng chéo, đã và đang gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra tội phạm tham nhũng hiện nay. Chẳng hạn, Chỉ thị 15 của Bộ Chính trị (Điều 5 Khoản 1) quy định không được điều tra bí mật đối với Đảng viên trước khi khởi tố" bị can (mà thường những người có chức vụ đều là Đảng viên). Bên cạnh đó, công tác điều tra tội phạm tham nhũng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản gặp rất nhiều khó khăn vì cơ quan giám định cho rằng các hành vi chiếm đoạt tài sản chỉ được coi là tội phạm sau khi đã quyết toán công trình nên tội phạm đã lợi dụng việc này dây dưa không quyết toán công trình nhằm che giấu hành vi phạm tội, trốn tránh pháp luật...

Hai, về phía đối tượng phạm tội tham nhũng. Xuất phát từ các đặc điểm về nhân thân của đối tượng phạm tội tham nhũng. Đối tượng phạm tội tham nhũng là những người có chức vụ quyền hạn, có trình độ chuyên môn cao, quan hệ xã hội rộng, có điều kiện kinh tế để thực hiện hành vi phạm tội và che giấu tội phạm, đồng thời cũng tìm nhiều cách để tác động, mua chuộc cán bộ làm công tác điều tra... Mặt khác, các vụ án tham nhũng thường xảy ra sau một thời gian khá lâu mới bị phát hiện nên đối tượng đã cất giấu, hợp lý hóa hoặc đã tiêu hủy tài liệu dẫn đến việc thu thập tài liệu gặp nhiều khó khăn. Tất cả những yếu tố này đã tạo áp lực tâm lý cho các CQĐT và gây cản trở lớn đến công tác phát hiện, điều tra tội phạm tham nhũng.

Ba là, về phía CQĐT và cán bộ điều tra.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể trực tiếp tiến hành hoạt động điều tra các tội phạm tham nhũng là Cục CSĐT tội phạm về tham nhũng (C48) và cơ quan

CSĐT tội phạm về trật tự quản lý kinh tế và chức vụ (TTQLKT&CV), (Sau đây gọi tắt là lực lượng CSĐT tội phạm về tham nhũng). Tuy nhiên, thực tế cho thấy, lực lượng này hiện còn bộc lộ một số" bất cập sau:

- Quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng CSĐT tội phạm về tham nhũng và lực lượng CSĐT tội phạm về TTQLKT&CV còn trùng dẫm, chồng chéo về địa bàn, lĩnh vực, hệ loại đối tượng trong công tác sưu tra. Mặt khác, các Đội CSĐT tội phạm về tham nhũng trực thuộc PC46 nên việc thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản của Đội được lãnh đạo Phòng PC46 giao cho các Đội trinh sát địa bàn thực hiện, Đội CSĐT tội phạm về tham nhũng chỉ làm công tác điều tra nên nguồn phát hiện án về tham nhũng từ công tác nghiệp vụ cơ bản còn hạn chế.

- Trình độ, năng lực của Lãnh đạo chỉ huy và cán bộ điều tra (chủ yếu là Điều tra viên) trong công tác điều tra còn hạn chế. Đây là một thách thức không nhỏ đối với hoạt động điều tra tội phạm tham nhũng bởi vì đối tượng phạm tội tham nhũng thường là những người có trình độ hiểu biết rất sâu và rộng.

Thực tế cho thấy, cán bộ điều tra tội phạm về tham nhũng phần lớn được điều chuyển từ lực lượng khác đến, có người chưa từng làm công tác điều tra tội phạm nên đã làm ảnh hưởng đến chất lượng điều tra các vụ án, dẫn đến tình trạng trả lại hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung, thời hạn điều tra bị kéo dài hoặc không xử lý được. Đặc biệt, kiến thức về Luật quốc tế, kinh nghiệm trong công tác điều tra các vụ án có yếu tố nước ngoài của các Điều tra viên nhìn chung còn rất hạn chế, dẫn đến việc điều tra, xử lý gặp khá nhiều khó khăn, nhất là các nước mà Việt nam chưa ký Hiệp định tương trợ tư pháp hoặc đã ký Hiệp định nhưng phía nước ngoài không hợp tác. Bên cạnh đó, việc ủy thác điều tra theo quy định phải thông qua VKSND tối cao, Bộ Ngoại giao, Đại Sứ quán dẫn đến thời gian bị kéo dài, làm ảnh hưởng đến tiến độ điều tra các vụ án tham nhũng có yếu tố" nước ngoài hiện nay. Mặt khác, các văn bản ủy thác tư pháp phải được dịch sang tiếng nước ngoài và phải đảm bảo tính pháp lý nên phải làm hợp đồng với các Công ty dịch thuật, do vậy vừa mất thời gian, vừa không đảm bảo bí mật và cần nguồn kinh phí nhất định.

- Trang thiết bị phục vụ công tác chiến đấu của lực lượng CSĐT tội phạm về tham nhũng còn thiếu, chưa đồng bộ. Đặc biệt, công tác giám định tư pháp còn nhiều bất cập như: thời gian giám định quá dài; kinh phí chi trả giám định quá lớn; một số cơ quan được trưng cầu giám định từ chối, né tránh; trình độ chuyên môn của một số giám định viên chưa đáp ứng được yêu cầu... Đây là nguyên nhân chính dẫn đến thời hạn điều tra các vụ án bị quá hạn, bị trả hồ sơ điều tra bổ sung, thậm chí có vụ kéo dài, không xử lý được phải tạm đình chỉ điều tra.

- Chính sách đãi ngộ đối với cán bộ chiến sĩ Công an chuyên trách thực hiện nhiệm vụ PCTN hiện nay vẫn chưa thực sự tương thích. Sự bất cập về chế" độ, chính sách đãi ngộ này đã tác động không nhỏ đến tư tưởng của các cán bộ chiến sĩ làm nhiệm vụ PCTN, gây ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của họ. Chẳng hạn, theo quy định của Thông tư liên tịch 01/2008/TTLT-BNV-BTC ngày 13/3/2008 của Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 19/2008/NĐ-CP ngày 14/02/2008 của Chính phủ thì chế độ phụ cấp trách nhiệm mới chỉ áp dụng đối với cán bộ thuộc biên chế hoạt động chuyên trách tại Văn phòng Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, Ban chỉ đạo PCTN các tỉnh, chứ chưa áp dụng cho đối tượng là cán bộ chiến sĩ Công an chuyên trách thực hiện nhiệm vụ PCTN.

Bốn là, về công tác nghiệp vụ cơ bản.

Nhìn chung, công tác nghiệp vụ cơ bản đã được thực hiện đúng quy trình, các hồ sơ được bổ sung thường xuyên, chất lượng tốt, góp phần quan trọng vào công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với tội phạm tham nhũng. Tuy nhiên, ở rất nhiều địa phương, công tác nghiệp vụ cơ bản vẫn chưa được triển khai sâu rộng...; công tác xác lập chuyên án đấu tranh để phát hiện, khởi tố các vụ án về tham nhũng còn hạn chế, chủ yếu được phát hiện từ nguồn đơn thư, tố giác.

Năm là, về mối quan hệ phối hợp.

Mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (gồm: CQĐT, VKSND và TAND) còn thiếu chặt chẽ và thiếu tính thống nhất, gây khó khăn không nhỏ cho công tác điều tra, truy tố và xét xử tội phạm về tham nhũng hiện nay, đặc biệt là sự phối hợp giữa CQĐT và VKSND trong giải quyết các vụ án tham nhũng. Thực tế cho thấy, có nhiều vụ án, trong quá trình điều tra VKSND yêu cầu khởi tố bị can hoặc phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can, tạm giam nhưng khi bị can được chuyển sang VKSND thì VKSND lại đình chỉ điều tra. Hoặc có vụ án, CQĐT và VKSND đã thống nhất tội danh, tiến hành khởi tố vụ án nhưng khi kết luận điều tra thì VKSND yêu cầu điều tra bổ sung để thay đổi tội danh đã khởi tố, chẳng hạn như: Vụ đưa, nhận hối lộ tại Công ty cổ’ phần Vinaconex 10, thành phố" Đã Nẵng (khởi tố" năm 2009), VKSND đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để chuyển tội danh từ Đưa, nhận hối lộ sang tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trên đây là những khó khăn, vướng mắc trong công tác điều tra, xử lý tội phạm về tham nhũng ở nước ta hiện nay. Thiết nghĩ các cơ quan có thẩm quyền cần phải nhanh chóng khắc phục, tháo gỡ để nâng cao hiệu quả công tác này trong thời gian tới.

 

ThS. HÀ THỊ HỒNG LAN - Bộ môn Pháp luật - T32

Nguồn: Tạp chí Cảnh sát QLHC về TTATXH số 8+9/2013

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi