Thứ Hai, 19/8/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Nâng cao hiệu quả quản lý công tác cai nghiện ma túy ở Hà Nội

Thành phố Hà Nội là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế và khoa học của cả nước, với số dân tăng trưởng hàng năm 2%, thành phần dân cư đa dạng, phức tạp, thu hút nhiều lao động ngoại tỉnh đến làm ăn, sinh sống. Bên cạnh đó, với đặc điểm vị trí địa lý, Hà Nội là địa bàn trung chuyển ma túy trong nước và khu vực; tội phạm mua bán, vận chuyển và tổ chức sử dụng ma túy tổng hợp tiếp tục có chiều hướng gia tăng đặc biệt là tuyến từ các tỉnh Đông Bắc như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh qua địa bàn Hà Nội. Các đối tượng mua bán nhỏ lẻ ma túy tổng hợp thường xuyên thay đổi chỗ ở, nơi trọ, phương thức thủ đoạn cất giấu, giao nhận ma túy… nhằm tránh sự phát hiện, bắt giữ của cơ quan chức năng. Đối tượng cầm đầu ít bộc lộ thân phận mà thông qua các phương tiện thông tin, liên lạc để chỉ đạo các đối tượng trong đường dây thực hiện việc giao dịch mua bán hoặc thuê đối tượng khác vận chuyển bằng phương tiện, như taxi, thuê xe tự lái, tuyến xe khách, xe máy… tính chất hoạt động phạm tội manh động, liều lĩnh, các đối tượng tự trang bị vũ khí, sẵn sàng chống trả quyết liệt khi bị phát hiện, bắt giữ.

Tính đến ngày15/3/2018, toàn thành phố có 16.331 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý (chưa kể số người ngoại tỉnh). Trong đó, số có mặt tại cộng đồng: 7.650 người; số vắng mặt tại địa phương: 1.583 người; số đang quản lý tại các trung tâm: 4.550 người; tại các trường giáo dưỡng, trại tạm giam: 2.548 người.

Những kết quả đạt được

Trong công tác cai nghiện ma túy, tính đến ngày 30/12/2017, các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và Trung tâm Quản lý sau cai nghiện ma túy đã tiếp nhận 9.884 người nghiện. Đầu năm 2018, thành phố đã bổ sung nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, theo dõi, chẩn đoán, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe, tư vấn tâm lý cho người nghiện không có nơi cư trú ổn định trong thời gian làm thủ tục, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến nay các Trung tâm đã tiếp nhận được 24 người nghiện vào lưu trú tạm thời; đang quản lý, chữa trị, cai nghiện cho 1.489 người nghiện (trong đó: cai nghiện bắt buộc cho 1.481 người (nam: 1.404, nữ: 77).

Công tác cai nghiện ma túy tự nguyện đang được triển khai tích cực tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội và Trung tâm quản lý sau cai nghiện ma túy. Các Trung tâm đã tiếp nhận cai nghiện tự nguyện cho 2.686 người nghiện, Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội số V, tại Hà Nội hiện đang điều trị Methadone cho 44 người nghiện.

Cơ sở cai nghiện ma túy tự nguyện Bạch Đằng, Viện sức khỏe tâm thần - Bệnh viện Bạch Mai; Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ cai nghiện - Viện châm cứu Trung ương đã tiếp nhận 5.250 lượt người nghiện vào cai nghiện tự nguyện (giai đoạn cắt cơn nghiện ma túy).

Cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng theo Nghị định 94/2010/NĐ-CP, quy định về tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội đã tổ chức tập huấn, triển khai công tác cai nghiện tại gia đình và cộng đồng đến các sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã và phối hợp với các quận, huyện, thị xã tổ chức tập huấn Nghị định số 94/2014/NĐ-CP, Thông tư số 03/2012/TTLT-BLĐTBXH-BCA đến các ban, ngành, đoàn thể tại xã, phường, thị trấn. Đồng thời 100% các xã, phường, thị trấn trên địa bàn đã thành lập Tổ công tác cai nghiện ma túy, đã tổ chức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng được 218 người nghiện.

Trong công tác quản lý sau cai, tính đến ngày 30/12/2017, các Trung tâm Quản lý sau cai nghiện ma túy đã tiếp nhận 7.951 người nghiện. Số học viên đang được quản lý sau cai tại Trung tâm là: 2.394 người nghiện (nam: 2.268 người, nữ: 126 người). Trong đó, số người có hộ khẩu Hà Nội: 1.970 người, ngoại tỉnh: 624 người. Tại cộng đồng, tính đến 30/12/2017 có 5.638 người nghiện thực hiện Quyết định quản lý sau cai tại nơi cư trú. Đồng thời, duy trì hoạt động của 31 Câu lạc bộ B93 tại các xã, phường, thị trấn.

Các đối tượng thực hiện quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú khi trở về địa phương đã được giới thiệu vào sinh hoạt Câu lạc bộ B93, được các đoàn thể, như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Tình nguyện viên Đội hoạt động xã hội tình nguyện quan tâm, giúp đỡ, tư vấn phòng, chống tái nghiện và tạo cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.

Duy trì công tác dạy nghề, tổ chức các lớp học nghề đàn, điện dân dụng, điện công nghiệp, sửa chữa xe máy, tin học… cho 5.290 người cai nghiện và quản lý sau cai.

Duy trì các ngành nghề gia công sản phẩm, đảm bảo hoàn thành tiến độ, chất lượng các đơn hàng; công tác phối hợp với doanh nghiệp và các đối tác cơ bản thuận lợi; đồng thời tiếp tục tìm kiếm việc làm phù hợp, ổn định cho học viên. Duy trì các hoạt động tăng gia sản xuất: Chăn nuôi gia súc, gia cầm, trồng rau xanh đảm bảo nguồn thực phẩm, cải thiện bữa an cho cán bộ và học viên tại trung tâm; tích cực liên hệ tìm việc làm mới tạo thêm thu nhập cho học viên.

Những tồn tại, nguyên nhân

Công tác triển khai cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng còn kém hiệu quả, số lượng người nghiện được cai nghiện bằng hình thức này còn ít. Xuất phát từ một số nguyên nhân, như:

- Theo quy định tại Điểm a Điều 26* Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy thì “Người nghiện ma túy có trách nhiệm tự khai báo về tình trạng nghiện của mình với cơ quan, tổ chức nơi làm việc hoặc UBND cấp xã nơi cư trú và tự mình đăng ký hình thức nghiện ma túy”, trên thực tế 100% người nghiện ma túy không thực hiện nhưng chưa có chế tài xử lý, do vậy việc tổ chức cai nghiện tại gia đình và tự nguyện tại cộng đồng gặp nhiều khó khăn.

- Trong những năm qua, thành phố có nhiều hình thức để thúc đẩy công tác cai nghiện như: Cai nghiện bắt buộc, khuyến khích cai nghiện tự nguyện, mở rộng điều trị thay thế các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone. Do đó, người nghiện ma túy có nhiều cơ hội để lựa chọn các hình thức cai nghiện, nên họ không tích cực đăng ký, tham gia cai nghiện tại gia đình, tại cộng đồng và cấp cơ sở chưa chú trọng tổ chức cai nghiện tại gia đình và cộng đồng.

- Cơ sở vật chất của các xã, phường, thị trấn chưa đáp ứng được yêu cầu, trạm y tế cấp xã không giữ và quản lý được người nghiện để hỗ trợ cắt cơn tại cộng đồng.

- Năng lực của cán bộ làm công tác cai nghiện ma túy tại xã, phường, thị trấn còn hạn chế, không đủ điều kiện để bố trí cơ sở vật chất theo quy định của Thông tư 03 nên khó khăn trong quá trình triển khai. Nhân lực của tổ công tác hầu hết là cán bộ kiêm nhiệm

- Đối tượng sau cắt cơn, giải độc tại các Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội về địa phương chưa được theo dõi, quản lý lâu dài tại gia đình và cộng đồng nên thời gian ổn định bệnh ngắn, tỷ lệ tái sử dụng ma túy cao.

- Hiện nay, theo quy định về phân cấp tài chính, kinh phí chương trình phòng, chống ma túy ngân sách cấp nào do cấp đó tự đảm bảo, các xã, phường, thị trấn chưa quan tâm lập dự toán và bố trí ngân sách cho công tác cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cũng ảnh hưởng tới kết quả thực hiện.

Công tác quản lý sau cai nghiện ma túy còn một số hạn chế còn tồn tại như: Công tác quản lý, giúp đỡ hỗ trợ đối tượng sau cai nghiện còn rất nhiều khó khăn do sự kỳ thị, người nghiện khó có được sự nhìn nhận, cảm thông, chia sẻ, giúp đỡ; đa số hội viên không có việc làm hoặc việc làm là do gia đình tự tạo nên, các tổ chức đoàn thể của địa phương chưa mạnh dạn đứng ra bảo lãnh, hỗ trợ vay vốn cho người sau cai nghiện. Một số tình nguyện viên vẫn còn ngại tiếp xúc với gia đình người nghiện nên rất khó khăn cho công tác quản lý đối tượng, tư vấn giúp đỡ gia đình người nghiện. Bản thân người nghiện cũng không muốn hợp tác với người được phân công tư vấn, giáo dục, giúp đỡ nên việc tiếp cận người sau cai nghiện gặp nhiều khó khăn. Vấn đề tạo việc làm cho người sau cai tại nơi cư trú gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Hiện nay, người nghiện sau cai chủ yếu được giúp đỡ bằng hình thức cho vay vốn để sản xuất kinh doanh, song số tiền cho vay còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Câu lạc bộ B93 (câu lạc bộ những người sau cai nghiện ma túy) chưa thu hút được nhiều hội viên tham gia…

- Môi trường sống trong xã hội còn phức tạp, hiện tượng buôn bán, sử dụng ma túy vẫn còn nhiều, do đó “cung vẫn đáp ứng cầu”, người nghiện bị bạn bè xấu lôi kéo, rủ rê nên người sau cai nghiện dễ tái sử dụng ma túy.      

- Tỷ lệ học viên cai nghiện có tiền án, tiền sự cao (qua các báo cáo hàng năm chiếm tỷ lệ trên 70%), gây khó khăn trong công tác quản lý.

- Tình hình kinh tế thế giới suy giảm, ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước, một số doanh nghiệp thu hẹp sản xuất nên không tạo được nhiều việc làm cho người sau cai nghiện tại trung tâm.

- Hầu hết người nghiện đi cai nghiện nhiều lần, trước khi vào Trung tâm không có việc làm nên khi về địa phương khó có cơ hội tìm việc làm ổn định.

- Đa số gia đình học viên thành phần phức tạp, khó khăn về kinh tế nên thiếu sự hợp tác với Trung tâm trong quá trình đào tạo nghề, chủ yếu học viên được đào tạo bằng kinh phí ngân sách, mức chi hạn chế (2.000.000 đ/người/khóa học nghề) nên kết quả học nghề chưa cao.

 - Nhận thức của một bộ phận cán bộ cơ sở trong việc quản lý sau cai nghiện ma túy chưa đầy đủ, nên việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện còn hạn chế.

Người sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú còn tự kỳ thị, ít tham gia các hoạt động tại cộng đồng, chưa chủ động tìm việc làm.

- Đa số trình độ văn hóa của người nghiện ma túy và sau cai hạn chế, việc học các nghề có kỹ thuật gặp nhiều khó khăn, học các nghề thủ công, lao động phổ thông thì việc làm không ổn định, thu nhập thấp dẫn đến bỏ việc.

- Số lượng người lập phương án sản xuất kinh doanh để vay vốn còn rất thấp, bản thân đối tượng không chủ động tạo việc làm cho chính bản thân mình cho dù các địa phương đã phổ biến, tuyên truyền và triển khai rộng rãi. Bên cạnh đó, qua nắm bắt tại địa phương thì số tiền cho vay (theo Quyết định 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/4/2014 của thủ tướng chính phủ) còn hạn hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế (mức vay cho cá nhân không quá 20 triệu đồng và không quá 30 triệu đồng đối với hộ gia đình) chưa đủ để mở cơ sở sản xuất, kinh doanh.

- Nội dung sinh hoạt Câu lạc bộ B93 nghèo nàn, kỹ năng điều hành, kỹ năng làm việc nhóm, tư vấn và kết nối, chuyển gửi các dịch vụ hỗ trợ người sau cai nghiện ma túy của Ban chủ nhiệm các Câu lạc bộ còn hạn chế nên chưa thu hút hội viên tham gia.

Một số phương hướng, giải pháp nâng cao công tác quản lý cai nghiện

Thời gian tới, để nâng cao công tác cai nghiện tại gia đình, công đồng, trung tâm, cần phải thực hiện các biện pháp tiếp cận đa dạng, toàn diện liên tục; cung cấp có chất lượng hoạt động y tế, tâm lý, xã hội, việc làm, kết hợp với các biện pháp giảm hại của sử dụng ma túy và dự phòng hạn chế lây nhiễm HIV do tiêm chích ma túy, phù hợp với tình hình sử dụng ma túy hiện nay và mô hình hiệu quả đã được chứng minh về cai nghiện, điều trị nghiện ma túy. Cụ thể:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục phòng, chống ma tuý.

Công tác tuyên truyền phòng, chống ma túy phải được các cấp ngành tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, phải đa dạng, phong phú, thường xuyên đổi mới cả về nội dung và hình thức cho phù hợp với đời sống văn hóa, tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân, nhất là trong giới trẻ và phải được lồng ghép với các nội dung kinh tế - xã hội khác ở địa phương, đơn vị.

Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục với nhiều nội dung phong phú, hình thức phù hợp. Đẩy mạnh tuyên truyền bề rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng, tăng cường tuyên truyền bằng hình ảnh trên đài truyền hình, sử dụng có hiệu quả loa, đài truyền thanh, bảng tin, trạm tin xã, phường, thị trấn... Đẩy mạnh tuyên truyền chiều sâu và tuyên truyền trực tiếp thông qua các hoạt động của các Ban ngành, đoàn thể các cấp, các tổ chức xã hội trong việc tổ chức như tọa đàm, hội thảo, tập huấn, nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt Câu lạc bộ...

Tập trung tuyên truyền tại địa bàn dân cư, trong các trường học, cơ quan, doanh nghiệp, trong Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động và Xã hội, Trung tâm Quản lý sau cai nghiện..... Chú trọng vào những người có nguy cơ cao, người nghiện ma tuý ở cộng đồng, học sinh, sinh viên trong các trường học, cán bộ, người lao động trong doanh nghiệp. Phối hợp với các đoàn thể vận động người nghiện tự nguyện đi cai nghiện, giúp đỡ quản lý người sau cai nghiện ma tuý, giảm tỷ lệ tái nghiện.

Hai là, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác cai nghiện phục hồi, giáo dục tại Trung tâm.

Xây dựng tài liệu hướng dẫn công tác cai nghiện tại Trung tâm và cơ sở cai nghiện tự nguyện; hoàn thiện các chương trình chữa trị, giáo dục cho học viên tại các Trung tâm theo hướng dành không dưới 70% thời gian cho các hoạt động tư vấn học văn hóa, học nghề. Rà soát, quy hoạch Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội theo hướng đảm bảo thực hiện quy trình cai nghiện, có khu vực riêng cho cai nghiện tự nguyện; cân đối số lượng Trung tâm Cai nghiện và Trung tâm Quản lý sau cai nghiện, nhằm tận dụng hết công suất các của các Trung tâm. Thí điểm mô hình Trung tâm mở, dựa trên điều kiện sẵn có về cơ sở vật chất, cán bộ với các hình thức nội trú, bán trú; đối tượng tự nguyện tham gia theo nhu cầu, toàn bộ hay một phần của quy trình cai nghiện.

Ba là, đẩy mạnh công tác cai nghiện ma túy tại gia đình, cộng đồng.

Vận động người nghiện cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng. Tổ chức tốt công tác cai cắt cơn, giáo dục, tư vấn, dạy nghề, hỗ trợ tạo việc làm và giúp đỡ người sau cai nghiện tái hòa nhập cộng đồng. Tiếp tục triển khai thực hiện thí điểm Đề án về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone cho người nghiện ma tuý. Tổ chức tổng kết, đánh giá hiệu quả của Đề án và thực hiện nhân rộng ra các địa phương khác.

Bốn là, tăng cường thực hiện các biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy và công tác tái hòa nhập cộng đồng

Phối hợp giữa Trung tâm Quản lý sau cai với cơ sở dạy nghề, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh để tạo điều kiện cho người sau cai nghiện ma tuý thuận lợi trong học nghề và lao động sản xuất, giải quyết việc làm sau cai. Tăng cường hỗ trợ công tác dạy nghề cho người sau cai nghiện tại cơ sở quản lý sau cai và tại nơi cư trú. Tổ chức tạo việc làm cho người sau cai nghiện dưới nhiều hình thức, như giúp người sau cai nghiện tham gia lao động sản xuất, tạo thu nhập ổn định cuộc sống tại Trung tâm Quản lý sau cai nghiện, gia đình và các doanh nghiệp, tạo thu nhập ổn định cuộc sống. Duy trì và phát triển các mô hình quản lý sau cai nghiện, các Câu lạc bộ. Hàng năm, tổ chức đánh giá kết quả và xếp loại của từng Câu lạc bộ, nâng cao chất lượng hoạt động các Câu lạc bộ hiện có. Tổng kết, nhân rộng các mô hình quản lý sau cai nghiện có hiệu quả tại cộng đồng.

Năm là, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý và cán bộ trực tiếp làm công tác cai nghiện, quản lý sau cai.

Xây dựng kế hoạch tiếp tục mở các lớp đào tạo cán bộ làm công tác quản lý, điều trị cai nghiện phục hồi và quản lý sau cai tại Trung tâm và cộng đồng. Tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn nâng cao năng lực quản lý và chuyên môn nghiệp vụ cho cho cán bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên trách làm công tác phòng, chống tệ nạn xã hội, Đội hoạt động xã hội tình nguyện xã, phường, thị trấn và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ tại các Trung tâm và tại cộng đồng.

Sáu là, thực hiện hợp tác quốc tế trong công tác cai nghiện.

Tranh thủ sự tài trợ về tài chính, giúp đỡ về chuyên môn kỹ thuật và kinh nghiệm, sử dụng có hiệu quả các nguồn tài trợ huy động được của các tổ chức quốc tế. Tiếp tục triển khai các dự án được các tổ chức hỗ trợ, phát triển các dự án mới trong lĩnh vực cai nghiện và hỗ trợ quản lý sau cai tại cộng đồng, điều trị cai nghiện giảm hại lây nhiễm HIV/AIDS./.

Thượng úy Phạm Thanh Hưng - Khoa Luật

Học viện Cảnh sát nhân dân

 

 

 


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác