Thứ Tư, 23/10/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra, truy tố đối với tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam hiện nay

Trong quá trình giải quyết, xử lý tội phạm về tham nhũng, với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, VKSND có vai trò rất quan trọng, nhằm đảm bảo không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, đặc biệt trong giai đoạn điều tra, truy tố đối với tội phạm về tham nhũng. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết nguồn tin về tội phạm tham nhũng được thực hiện theo quy định tại các Điều 159 và Điều 160 BLTTHS năm 2015. Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát trong điều tra vụ án hình sự về tội phạm tham nhũng được thực hiện theo Điều 165, Điều 166 BLTTHS năm 2015. Hoạt động của VKSND trong thi hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án tham nhũng thể hiện qua việc VKSND phê chuẩn, hủy bỏ các quyết của Cơ quan điều tra (CQĐT), góp phần đảm bảo công tác này có hiệu quả, tạo ra cơ chế chặt chẽ, hạn chế tối đa tình trạng khởi tố không đúng người, không đúng tội, không đúng căn cứ pháp luật, dẫn đến làm oan người vô tội, đồng thời cũng ngăn ngừa việc bỏ lọt tội phạm tham nhũng và người phạm tội.

Hoạt động của VKSND trong kiểm sát điều tra các vụ án tham nhũng thể hiện qua việc VKSND kiểm sát chặt chẽ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người phạm tội; kiểm sát việc lấy lời khai người tạm giữ, biên bản hỏi cung bị can; kiểm sát chặt chẽ việc tham gia tố tụng của người bào chữa, người đại diện hợp pháp theo quy định của BLTTHS năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến người phạm tội tham nhũng, để bảo đảm đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm về tham nhũng, đồng thời đảm bảo tôn trọng các quyền cơ bản của bị can. Kiểm sát các hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm việc thu thập những tài liệu, chứng cứ được khách quan theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng, trở thành chứng cứ có giá trị chứng minh trong vụ án, qua kiểm sát lời khai của người phạm tội để đối chứng, so sánh với các chứng cứ khác, trên cơ sở đó Kiểm sát viên (KSV) đánh giá một cách toàn diện về những tài liệu, chứng cứ của vụ án và từng vi phạm tội của bị can, giúp cho việc quyết vụ án được nhanh chóng, kịp thời, góp phần chống tội phạm về tham nhũng hiện có hiệu quả.

Nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố và kiểm sát trong giai đoạn truy tố tội phạm về tham nhũng được thực hiện theo quy định tại các Điều 236, Điều 237 của BLTTHS năm 2015. VKSND là cơ quan được Nhà nước trao quyền truy tố người phạm tội ra trước TAND. Do đó, việc quyết định truy tố người phạm tội về án tham nhũng là một quyết định quan trọng, KSV phải thật thận trọng trước khi đề xuất Viện trưởng ra quyết định. Hoạt động của KSV trong giai đoạn truy tố phải nghiên cứu, kiểm tra lại tất cả chứng cứ, tài liệu đã được CQĐT thu thập trong quá trình điều tra, trực tiếp tiếp xúc với người phạm tội về án tham nhũng để kiểm tra lại lời khai và đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác (tiến hành phúc cung) trước khi lập cáo trạng truy tố.

Như vậy, pháp luật đã quy định rất rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các tội phạm về tham nhũng. Bên cạnh những kết quả đạt được trong công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, truy tố tội phạm về tham nhũng, hoạt động của VKSND còn có một số tồn tại, hạn chế nhất định như:

- Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tin báo tội phạm về tham nhũng còn hạn chế, chưa kịp thời, còn hiện tượng bỏ lọt tội phạm.

Trên thực tế, số lượng vụ án tham nhũng bị phát hiện, xử lý rất nhỏ so với thực trạng tội phạm tham nhũng đã xảy ra và phần lớn được phát hiện nhờ nguồn tin báo, tố giác của nhân dân, các phương tiện thông tin đại chúng... Điều này thể hiện việc chưa thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan có thẩm quyền trong đấu tranh, phòng chống tội phạm về tham nhũng, trong đó có VKSND. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc giải quyết án tham nhũng, một số KSV chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ trách nhiệm của mình; chưa kiểm sát chặt chẽ quá trình khởi tố dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm, bỏ lọt người phạm tội hoặc khởi tố không đúng sau đó phải đình chỉ... Tồn tại phổ biến trong công tác này là VKSND chưa nắm được đầy đủ các tin báo, tố giác tội phạm về tham nhũng do Cơ quan điều tra thụ lý, giải quyết, chưa kiểm sát chặt chẽ việc giải quyết của CQĐT đối với các tin báo, tố giác tội phạm về tham nhũng mà nhân dân và các phương tiện thông tin đại chúng đã gửi tới cơ quan này.

Công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra án tham nhũng, còn có những thiếu sót dẫn đến việc thu thập chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ, nhiều trường hợp không chứng minh được hoặc chỉ chứng minh được một phần hành vi phạm tội của các bị can.

Đối với tội phạm về tham nhũng, việc thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm thường gặp nhiều khó khăn. Trong một số trường hợp, chỉ có lời khai nhận tội của người đưa hối lộ và người nhận hối lộ, sau đó lại phản cung chối tội hoặc chỉ có lời khai của người đưa hối lộ nhưng người bị cáo buộc nhận hối lộ không thừa nhận lời khai đó. Nếu CQĐT không thể thu thập được thêm những chứng cứ buộc tội khác thì tùy từng trường hợp, KSV phải yêu cầu CQĐT không tiếp tục truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can về hành vi đó nữa, nếu ngoài hành vi đó bị can còn bị khởi tố về hành vi khác thì phải thay đổi quyết định khởi tố bị can để loại bỏ hành vi đó; nếu bị can chỉ bị khởi tố về một hành vi đó thì phải đình chỉ bị can. Thực tế ở nhiều địa phương, một số KSV đã không thực hiện yêu cầu ĐTV thu thập thêm các chứng cứ khác để chứng minh tội phạm. Kiểm sát viên không chủ động trong việc yêu cầu CQĐT hoặc tự mình thu thập chứng cứ, mà hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả điều tra của ĐTV.

Việc xác định tội danh trong nhiều vụ án chưa chính xác, đường lối xử lý trong nhiều trường hợp còn chưa đúng đắn.

Do có nhiều nguyên nhân khác nhau, như: Sự không thống nhất quan điểm giữa CQĐT và VKSND; KSV không nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án nên chưa nắm bắt đầy đủ và đúng đắn về bản chất vụ án; chưa có đủ văn bản hướng dẫn chi tiết về các tội phạm cụ thể trong nhóm tội phạm về tham nhũng... nên hiện tượng VKSND xác định chưa đúng về tội danh và đường lối xử lý trong một số vụ án tham nhũng vẫn còn xảy ra trên thực tế.

Tình trạng gia hạn điều tra, kéo dài thời hạn tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án tham nhũng vẫn còn khá phổ biến ở VKSND các địa phương.

Do nhiều vụ án tham nhũng có tính chất nghiêm trọng, phức tạp, có nhiều bị can tham gia, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều địa phương, có sự thông đồng, móc nối, che chắn từ nhiều phía nên việc điều tra, xác minh gặp rất nhiều khó khăn dẫn đến tình trạng phải gia hạn điều tra nhiều lần, kéo dài thời hạn điều tra, xử lý đối với vụ án. Bên cạnh đó, cũng có những vụ án tham nhũng phải gia hạn, kéo dài thời gian điều tra vì có nguyên nhân xuất phát từ hoạt động giám định. Trong những vụ án liên quan đến các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, xây dựng..., thường phải tiến hành trưng cầu giám định để có cơ sở xác định mức độ thiệt hại, trách nhiệm của từng cá nhân trong vụ án. Trong khi đó, lượng kinh phí dành cho việc giám định quá nhỏ, số lượng và trình độ của giám định viên chưa đáp ứng yêu cầu, nên trong một số trường hợp nội dung giám định không phù hợp, phải tiến hành trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại, ảnh hưởng lớn đến tiến đô giải quyết vụ án.

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn điều tra, truy tố đối với tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam trong thời gian tới, theo chúng tôi cần thực hiện tốt một số vấn đề sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tiếp nhận giải quyết tin báo, tố giác tội phạm về tham nhũng.

Viện kiểm sát nhân dân cần tổ chức tốt việc tiếp nhận đơn thư khiếu tố và tin báo tố giác tội phạm; cần bố trí các cán bộ, công chức có ý thức, trách nhiệm cao, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt để kịp thời xử lý các tin báo tố giác về tội phạm tham nhũng. Khi phát hiện hành vi tham nhũng, cần xử lý kịp thời, nghiêm minh, đúng pháp luật, không lệ thuộc vào cương vị của người có hành vi tham nhũng thì mới tạo được niềm tin của nhân dân, mới thực sự thu hút nhân dân tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm về tham nhũng.

Viện kiểm sát nhân dân cũng cần nắm chắc, quản lý đầy đủ, kịp thời các nguồn tin báo, tố giác tội phạm về tham nhũng, thông qua hoạt động của CQĐT cùng cấp, của các cơ quan khác được giao tiến hành một số hoạt động điều tra; qua các phương tiện thông tin đại chúng; qua phản ánh của các cơ quan, tổ chức và nhân dân.

Sau khi nhận được tin báo về tội phạm về tham nhũng, VKSND cần kịp thời phân loại các tin báo tội phạm để có biện pháp xử lý thích ứng, chính xác đối với hành vi vi phạm pháp luật. Nếu việc nắm tin báo, tố giác về tội phạm không kịp thời, cơ quan, tổ chức đã xử lý người có hành vi vi phạm bằng các biện pháp khác, như: hành chính, kỉ luật... thì việc yêu cầu khởi tố và xử lý bằng hình sự sẽ gặp nhiều vướng mắc. Bên cạnh đó, do vụ việc không được thụ lý, giải quyết kịp thời, nên việc thu thập củng cố chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội sẽ gặp nhiều khó khăn.

Hai là, tăng cường công tác kiểm sát khởi tố, bảo đảm việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can có căn cứ, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.

Để bảo đảm việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can được đúng đắn, trước hết cần nắm vững quy định về các tội phạm về tham nhũng trong BLHS năm 2015, vì trên thực tế việc nhận diện các dấu hiệu đặc thù của mỗi loại tội để phân biệt với những tội khác thường tương đối khó khăn, nhất là ở giai đoạn điều tra ban đầu khi chưa có đầy đủ các chứng cứ, tài liệu chứng minh về tội phạm. Đồng thời, KSV phải nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để xác định các dấu hiệu phạm tội cụ thể, để định hướng việc khởi tố, điều tra chính xác, có căn cứ pháp luật. Trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát việc khởi tố vụ án về tham nhũng, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm, KSV phải nghiên cứu, đánh giá các chứng cứ, tài liệu đã thu thập được để bảo đảm việc khởi tố vụ án hình sự có căn cứ, loại trừ ngay những trường hợp không có dấu hiệu tội phạm, nhưng CQĐT đã khởi tố nhằm kịp thời ngăn chặn việc xử lý oan sai đối với người vô tội. Ngược lại, cũng cần thận trọng xem xét đối với những vụ việc theo thông báo của CQĐT là không có dấu hiệu tội phạm, CQĐT không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự mà chuyển xử lý hành chính, kỷ luật hoặc bằng hình thức khác vì có thể dẫn đến tình trạng bỏ lọt tội phạm hoặc bỏ lọt người phạm tội.

Ba là, kiểm sát chặt chẽ việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn đối với người phạm các tội về tham nhũng.

Trong quá trình tiến hành tố tụng đối với một vụ án tham nhũng, việc áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật, có vai trò rất quan trọng. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, một mặt có tác dụng tích cực trong việc hỗ trợ hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ, ngăn ngừa việc bị can tiêu hủy chứng cứ, cản trở hoạt động điều tra; mặt khác còn thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước trong việc xử lý vụ án, tránh được những dư luận xấu là có sự "nương tay", "ưu ái" thậm chí "dung túng" đối với các bị can nguyên là cán bộ, công chức nhà nước. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp bắt, khám xét, tạm giữ, tạm giam đối với những bị can nguyên là cán bộ, công chức nhà nước là vấn đề rất "nhạy cảm" vì nó không chỉ liên quan đến uy tín, danh dự của cá nhân cán bộ công chức đó mà còn ảnh hưởng rất nặng nề tới uy tín của cơ quan nhà nước mà người đó công tác nói riêng, uy tín của Nhà nước nói chung. Vì vậy, với chức năng nhiệm vụ của mình, VKSND phải phân công KSV nghiên cứu kỹ lưỡng hồ sơ vụ án, thận trọng cân nhắc khi áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án tham nhũng.

Đồng thời, VKSND cũng phải thường xuyên theo dõi tiến độ điều tra vụ án, thái độ khai báo của các bị can bị tạm giam, đối chiếu với những điều kiện do pháp luật quy định để kịp thời thay đổi việc áp dụng biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác. Điều đó là cần thiết, vừa phản ánh đúng đắn chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước trong pháp luật hình sự, có tác dụng khuyến khích các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, vừa bảo đảm được các quyền trong tố tụng của các bị can.

Bốn là, tăng cường công tác kiểm sát đối với hoạt động thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh tội phạm về tham nhũng.

Việc thu thập, củng cố chứng cứ chứng minh tội phạm về tham nhũng trên thực tế gặp nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân, như: Người phạm tội không bị bắt quả tang, thường là người có trình độ, nhận thức pháp luật; không thu được vật chứng, trong nhiều trường hợp chỉ có lời khai của một số người có liên quan... Do vậy, KSV thụ lý vụ án phải nắm chắc tiến độ điều tra thu thập chứng cứ, để chủ động đề ra yêu cầu điều tra đối với ĐTV; không được thỏa mãn với những kết quả điều tra ban đầu, không được dừng lại ở việc khai nhận hành vi phạm tôi của bị can, bị cáo, mà phải thường xuyên đánh giá, đối chiếu, tổng hợp toàn bộ các chứng cứ đã thu thập được để xác định đã có đủ căn cứ pháp lý để truy tố đối với bị can hay chưa. Nếu đã xác định còn thiếu những cứ cần thiết thì phải yêu cầu ĐTV thu thập. Trong trường hợp đã có bản kết luận điều tra của CQĐT thì KSV có thể trực tiếp tiến hành việc thu thập chứng cứ thông qua những hoạt động tố tụng do pháp luật quy định, như: Yêu cầu cơ quan, tổ chức liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, phúc cung tổng hợp đối với các bị can trong vụ án... để củng cố chứng cứ. Nếu qua đó mà vẫn không thể thu thập đủ những chứng cứ cần thiết cho việc quyết định truy tố bị can thì phải trả hồ sơ để CQĐT bổ sung. Nhờ đó, nếu tại phiên tòa bị cáo có phản cung thì cũng không làm thay đổi được bản chất của vụ án. Bên cạnh việc củng cố chứng cứ buộc tội, KSV phải chú ý quan tâm tới việc thu thập các chứng cứ chứng minh việc ngoại phạm của bị can, những chứng cứ gỡ tội đối với bị can để việc xử lý vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.

Năm là, thực hiện các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Trước hết, cần phân công KSV nghiên cứu hồ sơ, nắm chắc tiến độ, kết quả điều tra vụ án, chủ động đề ra các yêu cầu điều tra và kiểm sát chặt chẽ việc thực hiện của CQĐT và ĐTV đối với các yêu cầu đó. Trong những trường hợp VKSND có thể trực tiếp khắc phục các thiếu sót về chứng cứ hoặc về thủ tục tố tụng thì không nhất thiết phải trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung mà KSV tự tiến hành việc thu thập, bổ sung chứng cứ để kết luận, xử lý vụ án. Mặt khác, cần thường xuyên tổ chức kiểm điểm, đánh giá riêng trong nội bộ các đơn vị của VKSND hoặc kiểm điểm, đánh giá chung trong các CQĐT, VKSND và Tòa án nhân dân về việc trả hồ sơ điều tra bổ sung nhằm rút kinh nghiệm và đề ra những giải pháp khắc phục, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng trả hồ sơ điều tra bổ sung giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.

Đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm. Trong những năm qua, ngành Kiểm sát đã đạt được những kết quả quan trọng vầ thời gian tới cần làm nhiều hơn nữa để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của VKSND trong giai đoạn điều tra, truy tố đối với tội phạm về tham nhũng ở Việt Nam hiện nay./.

Vũ Văn Giang

Viện Kiểm sát nhân dân tối cao

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác