Thứ Năm, 22/8/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động phòng ngừa tội phạm xâm hại trẻ em ở Việt Nam hiện nay

Về tình hình tội phạm xâm hại trẻ em, theo báo cáo tổng kết của Cục CSHS - Bộ Công an, từ năm 2008 đến 2017, trên phạm vi cả nước, các lực lượng chức năng đã phát hiện tổng số 12.885 vụ vi phạm, số vụ phạm tội xâm hại trẻ em với 14.557 đối tượng phạm tội, trong đó chủ yếu là nhóm các hành vi xâm hại tình dục trẻ em. Năm 2008 tổng số vụ phạm tội xâm hại trẻ em là 983 vụ, năm 2009 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 969, giảm 14 vụ; năm 2010 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 934, giảm 35 vụ; năm 2011 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1003, tăng 69 vụ; năm 2012 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1809 vụ, tăng 806 vụ; năm 2013 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1.461, giảm 348 vụ; năm 2014 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1.602, tăng 141 vụ; năm 2015 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1413, giảm 189 vụ;  năm 2016 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1288, giảm 125 vụ; năm 2017 tổng số vụ xâm hại trẻ em là 1423, tăng 135 vụ.

Biểu đồ 1.1: Biểu đồ hình cột thể hiện tình hình tội phạm xâm hại trẻ em từ năm 2008 - 2017

Phân tích về cơ cấu các tội danh cụ thể trong nhóm tội phạm xâm hại trẻ em cho thấy từ năm 2008 đến 2017 số vụ án xảy ra như sau: Số vụ án giết con mới đẻ: 18 vụ, chiếm 1,99%; số vụ án hiếp dâm trẻ em: 5.411 vụ, chiếm 42,01%; số vụ án cưỡng dâm trẻ em: 86 vụ, chiếm 0,66%; số vụ án giao cấu với trẻ em: 5.153 vu, chiếm 40,01%; số vụ án dâm ô với trẻ em: 1.645 vụ, chiếm 12,77%; số vụ án mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em: 331 vụ, chiếm 2,56%; số vụ án vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em: 241 vụ, chiếm 1,87%.

Biểu đồ 1.2: Biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu các tội danh cụ thể trong nhóm tội phạm xâm hại trẻ em từ năm 2008 - 2017

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em chiếm trên 80%, trong đó phần lớn số vụ án xảy ra ở khu vực nông thôn. Quá trình giải quyết các vụ án xâm hại tình dục trẻ em chúng tôi thấy có một số khó khăn sau:

Thứ nhất, về phía người bị hại, sau khi tiếp nhận tin báo của bị hại hoặc gia đình người bị hại, trong khi cơ quan điều tra đang tiến hành các hoạt động điều tra trong nhiều vụ án, mặc dù tại cơ quan điều tra và trong hồ sơ vụ án đã thể hiện quan điểm rõ ràng và khẳng định hành vi của bị cáo đã xâm hại tình dục đối với họ. Nhưng do trong quá trình chờ xét xử, giữa gia đình bị cáo và gia đình người bị hại đã thỏa thuận, thống nhất với nhau và thậm chí do sự tác động nào đó (có thể do bị đe dọa hoặc hứa hẹn) nên tại phiên tòa người bị hại lại thay đổi lời khai, phủ nhận lời khai trước đó và một mực bảo vệ bị cáo, cho rằng bị cáo không thực hiện hành vi xâm hại tình dục đối với họ như trong hồ sơ vụ án đã thể hiện…qua đó đã gây nhiều khó khăn cho Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án đó.

Trong các vụ án xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, người bị hại và gia đình của người bị hại thường có tâm lý e ngại, lo sợ ảnh hưởng đến danh dự, cuộc sống gia đình nên nhiều người chưa dám lên tiếng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân họ hoặc người thân khi bị xâm hại. Khi xảy ra vụ việc, họ thường không trình báo với cơ quan có thẩm quyền mà giấu diếm, bỏ qua hoặc tự thỏa thuận với người có hành vi phạm tội và gia đình của người phạm tội gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử. Trong quá trình giải quyết vụ án, do thời gian xảy ra đã lâu, sự hợp tác không chặt chẽ của người phạm tội, người bị hại nên việc giám định của cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn, cũng ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án.

Có trường hợp người bị hại có quan hệ tình dục với nhiều người trong thời gian dài, nên khi cơ quan điều tra tiến hành điều tra thì không có đủ chứng cứ để buộc tội tất cả các đối tượng. Cũng có trường hợp khi biết sự việc thì phía gia đình bị hại và gia đình bị cáo tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường, sau đó do không thống nhất được mức bồi thường nên bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội, nhưng việc khai báo sau đó không phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án nên việc điều tra và nhận định các chứng cứ gặp nhiều khó khăn, kéo dài thời gian giải quyết vụ án. Bên cạnh đó, một số loại tội phạm liên quan đến bạo lực tình dục xảy ra trong nội bộ gia đình nên việc phát hiện, tố giác và xử lý gặp nhiều khó khăn. Nguyên nhân chính là do nhận thức của người bị xâm hại còn hạn chế, không tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục. Trong các trường hợp này, người bị bạo hành tình dục trong gia đình là phụ nữ, trẻ em, có thái độ cam chịu hoặc không dám tố cáo với chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể để có biện pháp can thiệp kịp thời mà âm thầm chịu đựng cho đến khi không thể chịu đựng được nữa mới gửi đơn tố cáo hành vi xâm hại tình dục. Khi Tòa án yêu cầu cung cấp chứng cứ thì không cung cấp được chứng cứ chứng minh là có hành vi xâm hại tình dục, gây khó khăn cho Tòa án trong việc giải quyết, xét xử vụ án.

Thứ hai, khi xảy ra hành vi xâm hại tình dục đối với phụ nữ và trẻ em, để có căn cứ khởi tố, truy tố và xét xử bị cáo về tội danh gì thì cần phải có kết luận giám định pháp y và những vật chứng có liên quan để làm căn cứ, khẳng định ai là người thực hiện hành vi phạm tội và sẽ bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội gì trong các tội xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em (từ Điều 142 đến Điều 146 Bộ Luật hình sự 2015). Trên thực tế có nhiều vụ xâm hại tình dục đối với phụ nữ, trẻ em nhưng không đủ cơ sở để đưa người phạm tội ra trước pháp luật. Có nhiều trường hợp trẻ em bị xâm hại tình dục, khi gia đình biết đã lưỡng lự trong cách giải quyết dẫn đến khai báo muộn, không biết cách thu giữ vật chứng cần thiết để giao nộp cho cơ quan chức năng nên vô hình chung đã tạo điều kiện để người thực hiện hành vi phạm tội có đủ thời gian xóa hết dấu vết. Có trường hợp sau khi bị xâm hại một thời gian dài, người bị hại mới tố cáo hành vi của người phạm tội do sợ danh dự, nhân phẩm của bản thân và gia đình bị ảnh hưởng. Do đó, việc thu thập chứng cứ đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn (vùng kín bị hóa sẹo, không thu được tinh dịch…) nên rất khó để xác định người bị hại có bị hiếp dâm hay không và ai là người thực hiện hành vi. Do đó, việc điều tra, truy tố cũng như xét xử của Tòa án đối với các trường hợp này rất khó khăn.

Thứ ba, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật là một trong những biện pháp hết sức hữu hiệu để ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi vi phạm và các tội phạm xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, các vụ án xâm hại tình dục là các vụ án nhạy cảm (đặc biệt là các vụ án mà người bị hại là trẻ em gái hoặc vụ án xâm hại tình dục mang tính chất loạn luân giữa những người cùng quan hệ huyết thống hoặc họ hàng thân thiết) thì người bị hại thường có có tâm lý e ngại, không muốn vụ việc được đưa ra xét xử công khai do vấn đề tâm lý sợ ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm. Do vậy, các vụ án xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em ít được đưa ra xét xử lưu động công khai, trong khi đó có nhiều vụ việc cần được đưa ra xét xử lưu động công khai nhằm tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và răn đe, ngăn chặn và hạn chế các hành vi vi phạm và tội phạm tương tự xảy ra.

Thứ tưnhận thức pháp luật của một số người dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn hạn chế. Nhiều người chưa nhận thức được hành vi họ đã thực hiện là vi phạm pháp luật hoặc danh dự, nhân phẩm của họ đã bị xâm hại, phổ biến nhất là hành vi giao cấu với trẻ em. Thông thường giữa bị cáo và người bị hại có quan hệ tình cảm, thậm chí có trường hợp gia đình của bị cáo và người bị hại còn tổ chức đám cưới cho hai người, tạo điều kiện cho bị cáo thực hiện hành giao cấu với người bị hại. Do đó việc phát hiện, xử lý hành vi phạm tội chưa triệt để, một số trường hợp hai bên còn che giấu, không hợp tác trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ năm, trong một số vụ án, việc xác định tuổi của người bị hại gặp nhiều khó khăn, các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng nhiều biện pháp nhưng không xác định được chính xác tuổi của người bị hại để xác định người bị hại có phải là trẻ em hay không. Có trường hợp bị hại không có giấy khai sinh gốc, hoặc có giấy khai sinh nhưng ngày, tháng, năm sinh không chính xác hoặc giấy khai sinh chỉ ghi năm sinh. Có vụ án cha, mẹ của người bị hại nhớ nhầm ngày sinh của người bị hại (ngày âm lịch, dương lịch) nên cấp phúc thẩm phải hủy án của cấp sơ thẩm. Cũng có trường hợp lời khai của bố, mẹ bị hại và giấy tờ, lý lịch trong hồ sơ về ngày, tháng, năm sinh giống nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại thu được những chứng cứ khác với tài liệu kể trên.

Có trường hợp không xác định được năm sinh của người bị hại, cơ quan tiến hành tố tụng đã làm các thủ tục để tiến hành giám định tuổi của họ nhưng kết quả giám định của các cơ quan chuyên môn lại khác nhau, thậm chí mâu thuẫn với tài liệu điều tra khác nên gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có Tòa án trong việc đánh giá, sử dụng tài liệu chứng cứ.

Để đấu tranh có hiệu quả đối với tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong thời gian tới, theo chúng tôi cần tập trung vào một số giải pháp sau:

Thứ nhất, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hình sự, hôn nhân gia đình, pháp luật về chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và pháp luật về phòng chống xâm hại tình dục cho đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu và vùng xa, khu vực nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn. Đẩy mạnh hơn nữa công tác thông tin, tuyên truyền Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020. Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật này phải có kế hoạch, chương trình ngắn hạn, dài hạn cụ thể, trong đó chú trọng đến việc lồng ghép nội dung truyền thông phòng, chống xâm hại tình dục phụ nữ và trẻ em gái vào trong sinh hoạt của thôn, ấp, tổ dân phố; trong sinh hoạt ngoại khóa của các cấp học và sinh hoạt chuyên đề của các tổ chức, đoàn thể các cấp.

Thứ hai, nghiên cứu, đưa ra bộ chỉ số thống kê tội phạm xâm hại tình dục trẻ em để phục vụ công tác đấu tranh phòng chống; dự báo tình hình, từ đó có các giải pháp phòng ngừa, bảo vệ trẻ em trước những hành vi xâm hại, nhất là đối với nhóm trẻ có nguy cơ bị xâm hại cao như trẻ em đường phố, lang thang cơ nhỡ, trẻ em nam là nạn nhân của xâm hại tình dục. Cần quy định về quy trình, trách nhiệm đánh giá nguy cơ và quản lý trường hợp trẻ em bị xâm hại cũng như những quy định cụ thể về tiêu chuẩn đánh giá mức độ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em của các hành vi bị xâm hại đối với trẻ em.

Thứ ba, xây dựng và hoàn thiện các quy trình, tiêu chuẩn về bảo vệ trẻ em bị xâm hại; thống nhất hoạt động phối hợp liên ngành để xác minh, điều tra, xử lý từng trường hợp trẻ em bị xâm hại, trong đó quy định rõ các thủ tục, quy trình và trách nhiệm phòng ngừa, phát hiện, tố giác, trợ giúp và giải quyết các trường hợp trẻ em bị xâm hại của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình, cá nhân và trẻ em.

Thứ tư, chủ động xác minh, nắm tình hình, diễn biến hoạt động của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, có kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và quản lý chặt chẽ số lượng thanh thiếu niên chậm tiến, có tiền án, tiền sự, các băng nhóm trên địa bàn là những đối tượng có nguy cơ phạm tội xâm phạm tình dục. Hỗ trợ vật chất cho những gia đình trẻ em gái bị xâm hại tình dục thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo.

Thứ năm, tăng cường điều tra, xử lý tội phạm xâm hại tình dục trẻ em kết hợp với công tác đấu tranh, phòng ngừa vi phạm pháp luật trong thanh thiếu niên, học sinh và vận động nhân dân tố giác kịp thời các hành vi xâm hại tình dục trẻ em, trong đó khuyến khích trẻ em là nạn nhân và gia đình tố giác tội phạm. Đối với người phạm tội cần xử lý nghiêm minh, kịp thời đúng pháp luật, kiên quyết đấu tranh không để lọt tội phạm. Tổ chức tốt các phiên tòa lưu động đối với các vụ án xâm hại tình dục trẻ em nhưng phải đảm bảo thuần phong mỹ tục.

 Thứ sáu, tăng cường quản lý nhà nước về trật tự xã hội, thường xuyên kiểm tra các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hóa để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm đối với mọi hành vi tuyên truyền văn hóa phẩm đồi trụy. Rà soát, đánh giá một cách toàn diện hệ thống pháp luật hiện hành có liên quan đến việc chăm sóc, bảo vệ trẻ em để từ đó có sự bổ sung, điều chỉnh phù hợp. Tăng cường quản lý nhà nước về trật tự xã hội, kiên quyết xử lý những tụ điểm phức tạp gây mất trật tự trị an, đặc biệt là các nhà hàng, quán Karaoke, điểm matxa, quán Internet có tổ chức hoặc cho người sử dụng truy cập vào những trang web xấu có nội dung khiêu dâm, kích động tình dục, kích động bạo lực, tuyên truyền lối sống phi đạo đức.

Thứ bảy, cần tăng cường công tác hợp tác quốc tế giữa các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ nhất là các quốc gia có chung đường biên giới với nước ta như Trung Quốc, Lào, Camphuchia để chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi thông tin cần thiết nhằm hỗ trợ các nạn nhân bị xâm hại, trường hợp cần thiết cần can thiệp đưa các em trở lại với gia đình.

Hoàng Văn Hiệu

Khoa Luật - T32

Tài liệu tham khảo:

1. Quốc hội (2015), Bộ luật Hình sự, Nxb. Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.

2. Quốc hội (2016), Luật Trẻ em,   

3. Quốc hội (2015), Bộ luật Tố tụng hình Hình sự

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác