Thứ Tư, 12/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ cầm đồ theo chức năng của lực lượng Cảnh sát khu vực trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội

Mặt trái của hoạt động kinh doanh này là có thể làm phát sinh loại hình cho vay lãi nặng, chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, hay việc sử dụng xã hội đen, băng ổ nhóm để siết nợ, đòi nợ thuê, cố ý gây thương tích, đồng thời là nguồn gốc phát sinh nhiều tệ nạn xã hội như trộm cướp, cờ bạc,...

Thực tế đã chứng minh, để làm tốt công tác quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT nói chung hay quản lý kinh doanh dịch vụ cầm đồ nói riêng, đòi hỏi sự quan tâm đúng mức, sâu sát của các lực lượng có liện quan, cụ thể là lực lượng Công an cơ sở mà trong đó lực lượng Cảnh sát khu vực (CSKV) giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.

Theo thống kê của đội Cảnh sát QLHC về TTXH - Công an quận Cầu Giấy, tính đến thời điểm tháng 12 năm 2017, lực lượng CSKV trên địa bàn quận đang tiến hành quản lý 56 cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, trong đó có 08 doanh nghiệp và 48 hộ kinh doanh cá thể. Những năm qua, lực lượng này luôn nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng cũng như có sự tập trung đúng mức đối với công tác quản lý kinh doanh dịch vụ cầm đồ; từ đó đã thu được một số kết quả cụ thể: CSKV đã tiến hành 174 lượt tuyên truyền, phổ biến cho cơ sở chấp hành tốt các quy định về bảo đảm ANTT; 71 lượt phối hợp kiểm tra việc chấp hành các quy định, điều kiện bảo đảm ANTT ở các cơ sở; đồng thời đã phát hiện, tiến hành xử lý 161 trường hợp vi phạm liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Gần nhất, năm 2017, Công an quận tiến hành xử phạt 34 trường hợp vi phạm với tổng tiền phạt lên tới 94,5 triệu đồng. Trong đó, nhóm hành vi không thực hiện đầy đủ các quy định về ANTT đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện chiếm tỷ lệ cao nhất. Xếp sau là nhóm những hành vi nhận cầm cố tài sản mà không có giấy tờ sở hữu, giấy ủy quyền hay hợp đồng theo quy định,…

Quá trình đấu tranh làm rõ vi phạm liên quan, cơ quan công an gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu thập tài liệu làm căn cứ để xử lý, đặc biệt với hành vi cho vay lãi nặng (khi lãi suất cho vay thực tế giữa cơ sở kinh doanh và người vay không thể hiện trên hợp đồng) hay hành vi cầm cố tài sản không có hợp đồng, không có giấy tờ sở hữu, không có văn bản ủy quyền hợp lệ, cầm cố tài sản do người khác phạm tội mà có (khi cơ sở cất giữ, che giấu những tài sản này tại những “kho phụ” khác với nơi đăng ký với cơ quan có thẩm quyền…). Bên cạnh đó, tồn tại một số cơ sở, cá nhân tiến hành “chui” hoạt động cầm cố tài sản, cho vay với lãi suất rất cao, nhưng không hề đăng ký hoạt động kinh doanh cầm đồ với cơ quan có thẩm quyền, không có biển hiệu gây khó khăn trong việc phát hiện, kiểm tra và xử lý.

Đối mặt với những khó khăn đó, đòi hỏi cơ quan quản lý, Bộ Công an và cụ thể hơn nữa là lực lượng CSKV cần nâng cao hiệu quả quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội. Trong đó tập trung vào một số nội dung chính sau đây:

Một là, tham mưu, đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho công tác quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay điều chỉnh hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ vừa thiếu chế tài, vừa tản mạn, rải rác trong các văn bản khác nhau. Nghiên cứu các văn bản hiện hành còn thấy nhiều điểm bất cập giữa thực tế hoạt động kinh doanh của các cơ sở với các quy định của pháp luật. Xuất phát từ thực tế đó, trên cơ sở phạm vi quản lý, chức năng nhiệm vụ được giao, lực lượng CSKV cần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền và Công an cấp trên xây dựng các văn bản QPPL để tiến hành thống nhất trong quản lý kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Đề xuất xây dựng một văn bản quy phạm pháp luật riêng biệt về kinh doanh dịch vụ cầm đồ, trong đó tập trung đầy đủ quy định liên quan, thống nhất, xác định rõ danh mục các loại tài sản, hàng hóa cầm cố phải có giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hợp pháp; tiêu chuẩn cụ thể về kho chứa hàng hóa cầm cố; mức lãi suất cho vay theo quy định pháp luật;…

Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ tính đến thời điểm hiện nay đã có hiệu lực thi hành được gần 05 năm và bộc lộ một số hạn chế cần phải được khắc phục, sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế nhằm xác định chế tài xử lý phù hợp.Ví dụ: quy định tại Điểm d, Khoản 3, Điều 11 của Nghị định 167/2013/NĐ-CP xử phạt hành vi cho vay tiền có cầm cố tài sản nhưng lãi suất vượt quá 150% lãi suất do Ngân hàng Nhà nướcViệt Nam công bố tại thời điểm cho vay là không còn phù hợp nữa khi tại Bộ luật dân sự 2015, quy định mới về mức lãi suất thỏa thuận giữa các bên lên tới 20%/năm.

Ngoài ra, việc đề xuất sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật còn phải hướng đến công tác phòng ngừa những sai phạm xảy ra tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ khi người dân, nhất là các doanh nghiệp khó tiếp cận với các nguồn vốn hiện nay. Vì thế, các nhà làm luật cần xem xét nới lỏng các quy định của pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức cá nhân, doanh nghiệp tiếp cận gần hơn với nguồn vốn hợp pháp, tránh xa các tổ chức “tín dụng đen” núp bóng kinh doanh cầm đồ.

Hai là, tập trung công tác xây dựng lực lượng, nâng cao hiệu quả công tác của CSKV - Công an quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.

Cần tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy Công an các phường trên địa bàn quận theo đúng Quyết định số 4169/QĐ-BCA ngày 29/9/2016 của Bộ Công an, kịp thời bổ sung nguồn cán bộ, chiến sĩ có chất lượng, chuyên môn, kinh nghiệm về Công an phường làm CSKV chuyên trách theo đúng quy định tại Thông tư 09/2015/TT-BCA ngày 10/02/2015 quy định Điều lệnh CSKV, đủ về số lượng đồng thời đảm bảo chất lượng và hiệu quả công tác chuyên môn.

Cần thường xuyên mở các lớp tập huấn nghiệp vụ, tập huấn theo chuyên đề giúp CSKV nâng cao trình độ nghiệp vụ và công tác chuyên môn có cái nhìn tổng quát về quản lý khu vực được phân công trong tình hình mới.

Ba là, đẩy mạnh thực hiện một số mặt công tác nghiệp vụ theo chức năng của lực lượng CSKV:

- Thực hiện hiệu quả công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ: CSKV cần xây dựng kế hoạch chi tiết, nêu rõ các thông tin cần thu thập được về: địa điểm kinh doanh, chủ cơ sở và người làm nghề, sơ đồ cấu trúc, kho chứa hàng hóa, tài sản cầm cố, những thông tin về tình hình hoạt động của cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, những bộ phận dễ bị lợi dụng thực hiện phạm tội, biểu hiện nghi vấn của chủ cơ sở và những hành vi bất minh… Để điều tra cơ bản đối với cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ, lực lượng CSKV khai thác các nguồn thông tin tài liệu trong và ngoài ngành, dựa trên kết quả công tác quản lý địa bàn, các nội dung của QLHC về ANTT. Từ đó phát hiện được các dấu hiệu vi phạm của cơ sở để kịp thời báo cáo công an cấp trên và phối hợp kiểm tra, xử lý theo quy định.

- Tăng cường công tác tuyên truyền, vận động quần chúng chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật: Thường xuyên tổ chức các buổi họp dân phố, họp các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ trên địa bàn nhằm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, khó khăn họ gặp phải trong quá trình kinh doanh. Sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng phù hợp như báo chí, phát thanh, truyền hình, các loại ấn phẩm để tuyên truyền, giáo dục, ý thức pháp luật đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ cho người dân. Nội dung tuyên truyền phải ngắn gọn, thiết thực, dễ hiểu. Tập trung tuyên truyền cho người dân những thủ đoạn mới và phổ biến mà các đối tượng, phần tử xấu lợi dụng hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.

- Tăng cường công tác xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật để quản lý kinh doanh dịch vụ cầm đồ:

Lực lượng CSKV phải xây dựng, bố trí đủ cơ sở bí mật (CSBM), đảm bảo chất lượng và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Những cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ có nhiều biểu hiện nghi vấn, phức tạp cần bố trí mỗi hiệu cầm đồ một CSBM theo dõi. Thường xuyên rà soát phân loại, thanh lọc số CSBM đã xây dựng nhưng hoạt động kém hiệu quả, xây dựng bổ sung mới các CSBM thay thế, nhằm phục vụ tốt hơn công tác quản lý ngành nghề kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Cần thường xuyên gặp gỡ, giao nhiệm vụ và hướng dẫn các CSBM hoạt động.Bên cạnh đó, chú ý quan tâm giúp đỡ khi họ gặp khó khăn, vướng mắc trong sinh hoạt cuộc sống, đồng thời có chế độ bồi dưỡng hợp lý để họ có động lực công tác.

Bốn là, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSKV với các lực lượng nghiệp vụ và các ngành chức năng trong quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Lực lượng CSKV phối hợp với Uỷ ban nhân dân, Thuế, Quản lý thị trường để lấy các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của các cơ sở lấy thông tin về tình hình doanh thu của cơ sở, về tài sản cầm cố, về khách hàng đến giao dịch, về lãi suất cho vay của các cơ sở. Từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa cho phù hợp với từng cơ sở, từng người làm nghề, từng đối tượng khách hàng khác nhau.

Phối kết hợp trong tổ chức kiểm tra hoạt động kinh doanh của cơ sở và sơ kết, tổng kết hoạt động kinh doanh của các cơ sở. Định kỳ hàng tháng, hàng quý, lực lượng Cảnh sát CSKV phải phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan thuế, Quản lý thị trường và phối hợp các lực lượng nghiệp vụ khác để sơ kết, tổng kết về tình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ trên địa bàn quận như về mức độ doanh thu của từng nhóm cơ sở, tình hình chấp hành quy định về ANTT.

Đối với ngành Công an, để đảm bảo quan hệ phối hợp tốt giữa các lực lượng nghiệp vụ, BCA cần xây dựng văn bản quy định cụ thể về nội dung, cơ chế phối hợp trong ngành. Lực lượng CSKV có trách nhiệm phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ khác để tuyên truyền, giáo dục hướng dẫn các cơ sở kinh doanh thực hiện tốt các quy định của Nhà nước; phối hợp trong công tác kiểm tra hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ cũng như cung cấp thông tin về cơ sở để thực hiện các mặt công tác nghiệp vụ khác.

Năm là, một số giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong tiến hành cải cách thủ tục hành chính và quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Nhằm góp phần đẩy nhanh thời gian giải quyết thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho công dân, tác giả xin đề xuất việc gửi phiếu yêu cầu xác minh lý lịch của người làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT được chuyển qua hệ thống mạng nội bộ kết nối với Công an các phường, xã trên địa bàn quận, thành phố. Tuy nhiên, việc thực hiện cần chú ý đến tính bảo mật và tuân thủ chặt chẽ các yêu cầu nghiệp vụ của CAND.

Tiếp tục thăm dò ý kiến và hoàn thiện đề xuất xấy dựng hệ thống báo cáo tài sản cầm cố và hoạt động giao dịch tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ qua phần mềm quản lý cầm đồ trực tuyến (giống như phần mềm Thông báo lưu trú trực tuyến đang được áp dụng hiện nay). Đây là kênh thông tin giao tiếp giữa nội bộ cơ quan quản lý từ cấp cơ sở đến cấp tỉnh, thành phố và giữa cơ sở cầm đồ với cơ quan quản lý trên internet. Phần mềm nhằm hỗ trợ công tác kinh doanh của các cơ sở cầm đồ đồng thời đáp ứng được các yêu cầu trong công tác quản lý Nhà nước, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn các hành vi có dấu hiệu vi phạm ngay từ ban đầu.

Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ thông tin vào việc quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ hiện nay nhằm từng bước tăng tính chuyên nghiệp và mức độ hài lòng của người dân đối với công tác quản lý Nhà nước về ANTT, góp phần phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.

Thượng úy Đỗ Nam Sơn

Khoa QLNN về TTATXH - T32

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi