Thứ Tư, 12/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số phương pháp tư duy sáng tạo và cách thức áp dụng vào giảng dạy - học tập trong đào tạo đại học tại Học viện Cảnh sát nhân dân

1. Giới thiệu về một số phương pháp tư duy sáng tạo phổ biến

Theo Từ điển Tiếng Việt, “Phương pháp” là “Cách thức nhận thức, nghiên cứu hiện tượng của tự nhiên và đời sống xã hội” [tr.793]. Còn “Tư duy” là “Giai đoạn cao của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lý” [tr.1070].

Lịch sử loài người đã ghi nhận những thành tựu đặc biệt quan trọng được xuất phát bởi những phương pháp tư duy sáng tạo, khoa học, như: Phương pháp tổng hợp, phân tích, trừu tượng và cụ thể hóa đã được các nhà triết học và toán học sử dụng trong thời kỳ cổ đại và trung đại. Nhưng việc mô tả, đánh giá về từng phương pháp được cho là rời rạc và thiếu thống nhất.

Đến năm 1941, việc Alex Osborn phát minh ra phương pháp tư duy sáng tạo Brainstorming (Tập kích não) đã lôi cuốn sự chú ý của các nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như: tâm lý học, y học… Từ đó, nhân loại đã chứng kiến sự ra đời nhiều phương pháp tư duy sáng tạo khác nhau với những dấu ấn đậm nét trong thành công của các cá nhân, tổ chức ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội.

Trong thời đại Cách mạng 4.0 thì phương pháp tư duy sáng tạo rất được coi trọng, con người có thể tạo ra những “Nhà máy thông minh - Smart factory” trên nền tảng công nghệ số với Hệ thống không gian mạng thực - ảo (cyber physical system), Internert Vạn vật (Internet of Things - IoT), Điện toán đám mây (Cloud computing) và Điện toán nhận thức (Cognitive computing), đặc biệt với sự xuất hiện, phát triển của Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence - AI) có thể chiếm lĩnh thế mạnh ở một số lĩnh vực so với con người.

Đến nay, nhận thức về phương pháp tư duy có nhiều quan điểm khác nhau nhằm giải thích nội hàm của khái niệm này. Tuy nhiên, trong hệ thống giáo dục đại học của Việt Nam lại ít có chương trình đào tạo nào đề cập đến vấn đề trên. Mặc dù, mục tiêu của hệ đào tạo đại học là đào tạo về phương pháp tư duy làm việc, hướng sinh viên tìm tòi, sáng tạo trên nền tảng những tri thức (về chính trị, về kiến thức cơ sở ngành và kiến thức chuyên ngành) được trang bị trong nhà trường nhằm giải quyết những nhiệm vụ, công việc thực tế sau khi tốt nghiệp.

Trong phạm vi của bài, tác giả xin giới thiệu một số phương pháp tư duy sáng tạo được áp dụng phổ biến tại các cơ sở giáo dục đại học trong và ngoài nước:

Một là, phương pháp Brainstorming (Tập kích não):

Đây là một phương pháp dùng để phát triển nhiều giải pháp sáng tạo cho một vấn đề. Phương pháp này thực hiện bằng cách tập trung trên một vấn đề và rút ra rất nhiều đáp án căn bản cho vấn đề đó. Các quan điểm về vấn đề trước hết được nêu ra một cách rất phóng khoáng và ngẫu nhiên theo dòng suy nghĩ càng nhiều, càng đủ càng tốt. Chúng có thể rất rộng và sâu cũng như không giới hạn bởi các khía cạnh nhỏ nhặt nhất của vấn đề. Trong Brainstorming thì vấn đề được đào bới từ nhiều khía cạnh và nhiều cách nhìn khác nhau. Sau cùng các ý kiến sẽ được phân nhóm và đánh giá. Phương pháp này có thể tiến hành bởi từ một đến nhiều người. Số lượng người tham gia càng nhiều sẽ càng giúp cho phương pháp tìm ra lời giải được nhanh hơn hay toàn diện hơn nhờ vào nhiều góc nhìn khác nhau bởi các trình độ, khả năng khác nhau của mỗi cá nhân.

Hai là, phương pháp Mindmap (Bản đồ tư duy):

Mindmap là phương pháp được đưa ra như một phương tiện mạnh để tận dụng khả năng ghi nhận hình ảnh của bộ não. Đây là cách để ghi nhớ chi tiết, để tổng hợp, hay để phân tích một vấn đề ra thành một dạng của lược đồ phân nhánh. Khác với máy tính, ngoài khả năng ghi nhớ kiểu tuyến tính thì não bộ con người còn có khả năng liên lạc, liên hệ các dữ kiện với nhau. Phương pháp này khai thác cả hai khả năng này của bộ não. Mindmap là một phương pháp trình bày ý tưởng bằng hình ảnh, giúp não bộ phát huy tối đa khả năng ghi nhớ, giúp người tư duy tìm ra phương pháp hữu hiệu nhất để giải quyết vấn đề một cách tối ưu.

Ba là, phương pháp Six Thinking Hats (Sáu chiếc mũ):

Six Thinking Hats là phương pháp được Tiến sĩ Edward de Bono phát minh vào năm 1980. Đến năm 1985, Tiến sĩ Edward de Bono đã mô tả chi tiết trong cuốn sách "Six Thinking Hats" do ông làm tác giả. Phương pháp Six Thinking Hats là một phương pháp mạnh mẽ và độc đáo, nhằm hướng mọi người cùng tập trung vào vấn đề từ cùng một góc nhìn, do đó sẽ triệt tiêu hoàn toàn các tranh cãi xuất phát từ các góc nhìn khác nhau. Bên cạnh đó, giúp các cá nhân có được nhiều cái nhìn về một đối tượng mà những cái nhìn này sẽ khác nhiều so với một người thông thường có thể thấy được. Đây là một khuôn mẫu cho sự suy nghĩ và nó có thể kết hợp thành lối suy nghĩ định hướng. Trong phương pháp này thì các phán xét có giá trị sẽ có chỗ đứng riêng của nó nhưng các phê phán đó sẽ không được phép thống trị như là thường thấy ở lối suy nghĩ thông thường.

Ngoài những phương pháp tư duy sáng tạo có tính phổ biến như trên, các lĩnh vực khoa học, xã hội khác nhau còn phát triển, áp dụng nhiều phương pháp khác nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực cá nhân và hiệu quả trong học tập, lao động.

2. Sự cần thiết và cách thức vận dụng phương pháp tư duy sáng tạo vào giảng dạy và học tập trong đào tạo đại học tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Học viện Cảnh sát nhân dân được xây dựng, phát triển trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học hàng đầu của Bộ Công an và tiến tới là cơ sở giáo dục đại học trọng điểm của quốc gia. Với hệ thống nguồn nhân lực chất lượng cao và cơ sở vật chất hiện đại, Học viện Cảnh sát nhân dân đã và đang đảm trách nhiệm vụ đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực với các hệ học tập trung và không tập trung thuộc các trình độ đại học và sau đại học, đáp ứng yêu cầu công tác, chiến đấu của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, góp phần quan trọng vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

“Sản phẩm” của quá trình đào tạo tại Học viện Cảnh sát nhân dân là những sĩ quan Cảnh sát được trang bị đầy đủ tri thức, kỹ năng về chính trị, pháp luật, nghiệp vụ và ngoại ngữ, tin học cùng những kỹ năng mềm khác thuộc các tiêu chí chuẩn đầu ra cho học viên của Học viện.

Để trở thành những sĩ quan Cảnh sát tương lai, học viên của Học viện Cảnh sát nhân dân cần có những phương pháp tư duy phù hợp để phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập các môn học thuộc chương trình đào tạo và tiến tới là phục vụ cho nhiệm vụ công tác và chiến đấu tại Công an các đơn vị, địa phương.

Tuy nhiên, qua quá trình giảng dạy các môn nghiệp vụ cơ bản, với khảo sát, đánh giá bằng nhiều hình thức khác nhau đã cho thấy, việc vận dụng, phát huy các loại hình phương pháp tư duy sáng tạo của học viên hệ đào tạo đại học tại Học viện Cảnh sát nhân dân còn có nhiều hạn chế, chưa thể hiện sự đồng đều và chưa gắn với mục tiêu, yêu cầu của mỗi môn học. Trong đó, phương pháp tư duy sáng tạo, tổ chức làm việc nhóm là một hạn chế xuất hiện ở nhiều học viên. Bên cạnh đó, nhiều học viên có phương pháp tư duy về một hoặc nhiều vấn đề nghiệp vụ còn thiếu tính logic và sáng tạo, nói cách khác là mang lối tư duy kiểu “chia cắt” giữa các học phần kiến thức nghiệp vụ, pháp luật mà chưa biết cách xâu chuỗi, tìm hiểu tính liên quan, biện chứng giữa những nội dung đó. Đáng quan tâm là, sinh viên còn rất lúng túng, thiếu kỹ năng thực hành trong việc tìm cách giải quyết các tình huống nghiệp vụ hoặc thiếu khả năng phê phán, phản biện bằng quan điểm cá nhân. Điều này thể hiện rất rõ trong việc học viên thuyết trình, thảo luận nhóm hoặc trả lời bằng hình thức thi vấn đáp. Những hạn chế đó sẽ có tác động trực tiếp đến kết quả học tập của học viên và chất lượng công tác, chiến đấu sau khi ra trường.

Nguyên nhân của những hạn chế trên có thể xuất phát từ nhiều yếu tố khác nhau. Nhưng trong đó, việc học viên lựa chọn phương pháp tư duy, học tập cho từng môn học còn chưa hợp lý, thậm chí nhiều học viên còn sử dụng phương pháp truyền thống là học “thuộc lòng” những nội dung môn học. Chính nguyên nhân đó là “rào cản” lớn nhất cho việc tìm kiếm phương pháp tư duy phù hợp.

Ngoài ra, những hạn chế của chính giảng viên cũng là một nguyên nhân trực tiếp. Đánh giá cho thấy, nhiều giảng viên còn đơn thuần sử dụng các phương pháp giảng dạy truyền thống, như: Thuyết trình, phát vấn mà không chú trọng sử dụng các phương pháp sư phạm tích cực theo hướng lấy người học làm trung tâm, giúp người học “biến quá trình đào tạo thành tự đào tạo”.

Trên cơ sở mục tiêu cụ thể của giáo dục đại học đến năm 2020 (Chiến lược phát triển giáo dục 2011 - 2020 ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ) là “Nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội; đào tạo ra những con người có năng lực sáng tạo, tư duy độc lập, trách nhiệm công dân, đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp, năng lực ngoại ngữ, kỷ luật lao động…”. Trong phạm vi của bài viết, tác giả trình bày cách thức vận dụng những phương pháp tư duy sáng tạo đã nêu ở trên vào quá trình giảng dạy - học tập, trong đào tạo đại học tại Học viện Cảnh sát nhân dân.

- Thứ nhất, cách thức vận dụng phương pháp Brainstorming (Tập kích não)

+ Những điểm cần chú ý khi sử dụng phương pháp này:

* Giảng viên trong buổi học cần đưa ra những khái niệm một cách thật rõ ràng. Đồng thời xác định rõ học viên cần đạt được các mục tiêu, yêu cầu nào trong một đáp án. Việc làm này giúp vấn đề, câu hỏi đưa ra sẽ được cô lập hóa với môi trường xung quanh và các thông tin khác.

* Tập trung vào vấn đề, câu hỏi, tình huống. Tránh các ý kiến hay các điều kiện bên ngoài có thể đánh lạc hướng buổi học. Trong giai đoạn này, giảng viên cần thu thập tất cả các ý kiến của học viên, thường có thể viết lên giấy hoặc bảng.

* Giảng viên không được đưa bất kì một bình luận hay phê phán gì về các ý kiến trong lúc thu thập. Những ý tưởng thoáng qua trong đầu nếu bị các thành kiến hay phê bình sẽ dễ bị gạt bỏ và có thể làm mất sự tổng quan của buổi tập kích não.

* Khuyến khích học viên có tinh thần tích cực, chủ động. Mỗi học viên trong lớp học đều phải cố gắng đóng góp và phát triển các ý kiến.

* Học viên cần đưa ra càng nhiều ý kiến càng tốt. Các ý kiến cần thể hiện mọi mặt của vấn đề, kể cả những ý kiến không thực tiễn hay ý kiến khác lạ.

+ Trình tự các bước tiến hành phương pháp Tập kích não:

Bước 1: Trong nhóm học viên lựa chọn ra một người làm trưởng nhóm (để điều khiển) và một người làm thư ký (để ghi lại tất cả ý kiến) hoặc cả hai công việc có thể do cùng một người tiến hành.

Bước 2: Xác định vấn đề hay tình huống nghiệp vụ sẽ được tập kích. Phải làm cho mọi thành viên trong nhóm hiểu thấu đáo về vấn đề, tình huống sẽ được giải quyết.

Bước 3: Xác định quy tắc cho buổi tập kích não, thường bao gồm:  

  • Trưởng nhóm có quyền điều khiển buổi thảo luận/buổi học nói chung.
  • Không một thành viên nào có quyền đòi hỏi hay cản trở, đánh giá hay phê bình vào ý kiến hay giải đáp của thành viên khác trong nhóm.
  • Xác định rằng không có câu trả lời nào là sai.
  • Thu thập lại tất cả câu trả lời ngoại trừ các câu trả lời bị lặp lại.
  • Vạch thời gian cho buổi thảo luận và kết thúc khi hết giờ.

Bước 4: Bắt đầu tập kích não:

  • Trưởng nhóm chỉ định hay lựa chọn thành viên chia sẻ ý kiến trả lời (thậm chí là những ý kiến rời rạc). 
  • Người thư ký phải viết tất cả các câu trả lời, nếu có thể công khai hóa cho mọi người thấy (viết lên bảng).
  • Không cho phép bất kì một ý kiến đánh giá hay bình luận nào về bất kỳ câu trả lời nào cho đến khi chấm dứt buổi tập kích.

Bước 5: Sau khi kết thúc tập kích, hãy lược lại tất cả và bắt đầu đánh giá các câu trả lời. Một số lưu ý về chất lượng câu trả lời bao gồm:

  • Tìm kiếm những câu trả lời có ý trùng lặp hay tương tự.
  • Nhóm các câu trả lời có sự tương tự hay tương đồng về nguyên tắc hay yêu cầu nghiệp vụ.
  • Xóa bỏ những ý kiến hoàn toàn không thích hợp.
  • Sau khi đã xác định được danh sách các ý kiến, hãy tranh luận thêm về câu trả lời chung.

Thứ hai, cách thức vận dụng phương pháp Mindmap

Trong quá trình tổ chức hoạt động dạy - học các môn học công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân, phương pháp Mindmap (Bản đồ tư duy) có thể phát huy tối đa khả năng tư duy sáng tạo cho học viên. Từ một vấn đề hoặc từ khóa, học viên có thể phát triển thành nhiều vấn đề khác nhau, có giá trị quan trọng trong việc làm rõ các nội dung môn học và các kiến thức môn học khác.

Quá trình vận dụng phương pháp Bản đồ tư duy cần chú ý những nguyên tắc:

* Không nên dừng suy nghĩ lại quá lâu mà hãy viết liên tục để duy trì sự liên kết giữa các suy nghĩ.

* Không cần tẩy xóa, sửa chữa.

* Viết tất cả những gì suy nghĩ mà không lo lắng đến sự đúng sai của ý kiến.

* Sơ đồ tư duy được viết, vẽ và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và di chuyển theo chiều kim đồng hồ. Các từ ngữ sẽ nằm ở bên trái sơ đồ và được đọc từ phải qua trái.

+ Trình tự, các bước tiến hành phương pháp Bản đồ tư duy:

Bước 1: Xác định từ khóa

Do Bản đồ tư duy được tạo thành bởi hầu hết là các từ khóa (keywords) và bằng những từ khóa có thể giúp người học nắm bắt được cơ bản các nội dung của môn học hoặc bài học. Ví dụ: trong bài Công tác sưu tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân, các từ khóa cần được xác định như: điều kiện, khả năng; biểu hiện nghi vấn; loại A, loại B…

Bước 2: Vẽ chủ đề trung tâm

Trong bước này, giảng viên hoặc giao cho trưởng nhóm chuẩn bị một từ giấy trắng khổ lớn đặt nằm ngang hoặc có thể sử dụng bảng thông minh, bảng phấn. Chủ đề chính sẽ được vẽ ở chính giữa bằng chữ hoặc hình hoặc kết hợp cả hình và chữ. Từ đây, các ý có thể phát triển ra xung quanh chủ đề trung tâm. So với các ý kiến xoay quanh, chủ đề trung tâm cần có kích thước lớn hơn để gây sự chú ý.

Bước 3: Vẽ thêm các tiêu đề phụ (nhánh cấp 1)

Các tiêu đề phụ nên được viết bằng chữ in hoa nằm trên các nhánh để làm nổi bật và nên gắn liền với trung tâm. Tiêu đề phụ nên vẽ theo hướng chéo góc chứ không nên theo hướng nắm ngang để có thể tỏa ra một cách tối đa.

Bước 4: Vẽ các nhánh cấp 2, cấp 3…

Giảng viên hoặc trưởng nhóm có thể vẽ nối tiếp nhánh cấp 2 vào nhánh cấp 1, nhánh cấp 3 vào nhánh cấp 2… để tạo ra sự liên kết tư duy. Ở các nhánh này, người vẽ nên vẽ nhiều nhánh cong hơn đường thẳng, để tạo sự mềm mại, dễ nhớ. Đồng thời, người vẽ nên sử dụng các từ khóa và hình ảnh ở mỗi nhánh, nhưng mỗi nhánh nên dùng một từ khóa khác nhau. Ngoài ra có thể sử dụng các biểu tượng hoặc cách viết tắt để tiết kiệm không gian và thời gian. Tất cả các nhánh của một ý nên tỏa ra từ một điểm và cùng một màu (nếu có thể).

Bước 5: Bổ sung các hình ảnh minh họa

Bước này nên bổ sung thêm nhiều hình ảnh để giúp các ý được nhấn mạnh tầm quan trọng và giúp cho người học dễ hình dung, dễ nhớ hơn, bởi não bộ có khả năng tiếp thu hình ảnh cao hơn chữ viết.

Thứ ba, cách thức vận dụng phương pháp Six Thinking Hats (Sáu chiếc mũ)

Phương pháp Six Thinking Hats là một trong những phương pháp tư duy sáng tạo được vận dụng trong nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Việc tổ chức thực hiện phương pháp này có nhiều tác dụng, như: kích thích suy nghĩ song song; kích thích suy nghĩ toàn diện; tách riêng cá tính và chất lượng; đào tạo về tư duy sáng tạo, khả năng chỉ huy, điều hành; tăng năng suất làm việc và trao đổi trong nhóm; phát triển tư duy phân tích và ra quyết định. Sáu chiếc mũ có ý nghĩa đại diện cho 6 dạng thức của suy nghĩ. Trong quá trình làm việc nhóm hoặc thảo luận, mỗi thành viên sẽ chọn một chiếc mũ có màu sắc tương ứng với suy nghĩ, ý kiến của cá nhân. Tuy nhiên, việc lựa chọn và “đội” mũ không mang ý nghĩa phân biệt các cá nhân mà nó chỉ mang tính định hướng suy nghĩ của thành viên trong nhóm chọn. Mỗi lần chọn một màu mũ tức là chọn sang một lối tư duy mới. Trên thực tế, 6 chiếc mũ này chỉ là một cách thức tượng trưng, không cần phải có 6 cái mũ thật khi tiến hành kỹ thuật này.

* Mũ trắng (Objective): mang hình ảnh của một tờ giấy trắng, thông tin, dữ liệu. Một số câu hỏi có thể sử dụng: Chúng ta có những thông tin gì về vấn đề này? Chúng ta cần có những thông tin nào liên quan đến vấn đề đang giải quyết? Chúng ta thiếu mất những thông tin, dữ kiện nào?

* Mũ đỏ (Intuitive): mang hình ảnh của lửa đang cháy trong lò, sự ấm áp. Khi tưởng tượng đang đội chiếc mũ đỏ, chúng ta chỉ cần đưa ra các cảm giác, cảm xúc, trực giác, những ý kiến không có chứng minh hay giải thích, lí lẽ của mình về vấn đề đang giải quyết. Một số câu hỏi có thể sử dụng: Cảm giác ngay lúc này là gì? Trực giác đang mách bảo điều gì? Thích hay không thích vấn đề này?

* Mũ vàng (Positive): mang hình ảnh của ánh nắng mặt trời, sự lạc quan, các giá trị, các lợi ích… Khi tưởng tượng đang đội chiếc mũ vàng, sinh viên sẽ đưa ra các ý kiến lạc quan, có logic, các mặt tích cực, các lợi ích của vấn đề, mức độ khả thi của phương án. Một số câu hỏi có thể sử dụng: Những thuận lợi khi tiến hành phương án này là gì? Đâu là mặt tích cực của vấn đề này? Liệu vấn đề này có khả năng thực hiện được không?

* Mũ đen (Negative): mang hình ảnh của đêm tối, đất bùn. Người đội mũ đen sẽ liên tưởng đến các điểm yếu, các lỗi, sự bất hợp lý, sự thất bại, sự phản đối, chần chừ, thái đội bi quan. Một số câu hỏi có thể sử dụng: Những rắc rối, nguy hiểm nào có thể xảy ra? Những khó khăn nào có thể phát sinh khi tiến hành phương án này? Những nguy cơ rủi ro nào đang tiềm ẩn?

* Mũ xanh lá cây (Creative): Chiếc mũ xanh lá cây tượng trưng cho sự sinh sôi, sáng tạo. Khi đội mũ màu này, chúng ta sẽ đưa ra các giải pháp, ý tưởng cho vấn đề đang thảo luận. Một số câu hỏi có thể sử dụng: Có những cách thức khác để thực hiện điều này không? Chúng ta có thể làm gì khác trong trường hợp này? Các lời giải thích cho vấn đề này là gì?

* Mũ xanh da trời (Process): Chiếc mũ xanh da trời sẽ có chức năng giống như nhạc trưởng, nó sẽ tổ chức các chiếc mũ khác - tổ chức tư duy. Mũ xanh da trời sẽ kiểm soát tiến trình tư duy. Đây là chiếc mũ của người lãnh đạo hay trưởng nhóm thảo luận. Vai trò của người đội mũ xanh da trời là: Xác định trọng tâm và mục đích thảo luận cho nhóm. Sắp xếp trình tự cho các chiếc mũ trong suốt buổi thảo luận. Người đội mũ xanh da trời cần bảo đảm nguyên tắc vàng sau: “Tại một thời điểm nhất định, mọi người phải đội mũ cùng một màu”. Cuối cùng, tập hợp mọi ý kiến, tóm tắt, kết luận và lập kế hoạch.

+ Trình tự, các bước tiến hành phương pháp Sáu chiếc mũ:

Trước khi tiến hành thảo luận, giảng viên lớp học sẽ chia lớp thành các nhóm và cử một học viên làm trưởng nhóm. Trên cơ sở chủ đề thảo luận, kết quả chia nhóm, các thành viên trong nhóm thảo luận sẽ cùng tham gia góp ý kiến. Theo ý kiến của thành viên nhóm đề nghị, trưởng nhóm sẽ lựa chọn màu mũ cho cả nhóm.

Bước 1: Thu thập thông tin

Mũ trắng: Tìm kiếm, phát hiện các dữ kiện, thông tin có liên quan đến chủ để thảo luận. Khi chọn màu mũ trắng có nghĩa các thành viên trong nhóm hãy xóa bỏ mọi thành kiến, mọi tranh cãi và hãy nhìn vào dữ liệu của chủ đề thảo luận để tìm những thông tin có giá trị cho việc giải quyết vấn đề hoặc thông tin còn thiếu.

Bước 2: Đề xuất giải pháp

Mũ xanh lá cây: Các thành viên của nhóm này cần nêu ra các ý kiến làm sao để giải quyết vấn đề. Các giải pháp sáng tạo, các phương pháp tiến hành, các kế hoạch thực hiện cần được đề cập một cách tối đa.

Bước 3: Đánh giá giá trị của các ý kiến trong nhóm mũ xanh lá cây

Mũ vàng: Các thành viên của nhóm này sẽ đánh giá tính khả thi của các phương án, giải pháp mà nhóm mũ màu xanh lá cây đã nêu. Đồng thời phân tích về những thuận lợi khi lựa chọn phương án, giải pháp đó.

Mũ đen: Các thành viên của nhóm này cần đánh giá những yếu tố rủi ro, bất lợi trong các phương án, giải pháp mà nhóm mũ xanh lá cây đưa ra và phải chỉ ra được tại sao các phương án, giải pháp đó không thích hợp khi giải quyết các vấn đề, tình huống nghiệp vụ với những cơ sở lập luận có tính thuyết phục.

Bước 4: Viết các phản ứng, trực giác tự nhiên và các cảm xúc cá nhân

Mũ đỏ: Các thành viên của nhóm này có thể tự do viết ra những suy nghĩ, cảm xúc cá nhân mà không cần giải thích về việc tại sao ủng hộ hay không ủng hộ các phương án, giải pháp nhóm mũ xanh lá cây đã đưa ra.

Bước 5: Tổng kết và kết thúc buổi học

Mũ xanh da trời: Nhóm này cần nhìn lại các bước trên. Trên cơ sở đó, trưởng nhóm sẽ tập hợp tất cả ý kiến đã nêu và kết luận chủ đề thảo luận với việc lựa chọn phương án, giải pháp tối ưu, phù hợp nhất.

Trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập, chúng ta có thể vận dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những phương pháp tác giả giới thiệu ở trên có thể được vận dụng đơn lẻ hoặc tiến hành lồng ghép trong một buổi giảng lý thuyết, thảo luận trên lớp hoặc học viên làm việc nhóm khi tự học. Mỗi phương pháp có ưu điểm, hạn chế riêng, mặc dù tác giả không đề cập đến trong nội dung bài viết nhưng người tổ chức thực hiện có thể lựa chọn trên cơ sở đối tượng học tập, loại hình học tập hay nội dung môn học.

Những nội dung trên có tính chất tham khảo, tác giả xin được nêu để các nhà khoa học, giảng viên và chuyên gia đóng góp ý kiến nhằm hoàn thiện và vận dụng có hiệu quả vào quá trình đào tạo đại học tại Học viện Cảnh sát nhân dân.

Đại úy, Ths Trần Văn Hậu

Bộ môn Nghiệp vụ cơ bản, T32

Tài liệu tham khảo:

1. https://www.mindtools.com/

2. https://www.mindmeister.com/

3. Edward de Bono, Six Thinking-Hats, BackBay Books, 1999

4. Alan Williams, 21 Brainstorming Techniques That Work, BookBaby, 2014

5. Tony Buzan, Mind Map Mastery: The Complete Guide to Learning and Using the Most Powerful Thinking Tool in the Universe, Watkins, 2018

 

 


 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi