Thứ Ba, 23/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm quy định tại Điều 155, Bộ luật Hình sự - những vướng mắc, bất cập và kiến nghị hoàn thiện

Bản chất của tội phạm này chính là việc thu lợi bất hợp pháp, do vậy nguồn thu bất chính càng lớn thì càng thúc đẩy hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm càng sôi nổi hơn, tinh vi hơn và sự liều lĩnh, manh động càng phức tạp và khó lường hơn. Do vậy, việc tăng cường các biện pháp hữu hiệu đấu tranh ngăn chặn và tiến đến đẩy lùi hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nhằm bảo đảm an ninh trật tự, an toàn toàn xã hội, thúc đẩy sản xuất phát triển, ổn định kinh tế là việc mà hầu hết các quốc gia rất quan tâm.

1. Quy định của BLHS nước ta về tội phạm này

Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm được quy định tại Điều 155 BLHS, như sau:

“1.  Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các điều 153, 154, 156, 157, 158, 159 và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2.  Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

d) Có tính chất chuyên nghiệp;

đ) Hàng phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc thu lợi bất chính rất lớn;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3.  Phạm tội trong trường hợp hàng phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn hoặc thu lợi bất chính đặc biệt lớn, thì bị phạt tù từ tám năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Cấu thành của tội phạm này là:

-Khách thể của tội phạm này là xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng hóa bị cấm.

Đối tượng tác động của tội phạm này là hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, tàng trữ, sản xuất, không cho phép lưu thông trên thị trường, như: các loại pháo nổ, đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội,… Hàng hóa mà nhà nước cấm kinh doanh có nhiều loại, nhưng một số loại đã là đối tượng của các tội quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của BLHS thì không còn là đối tượng của tội phạm này. Việc xác định hàng cấm, phải căn cứ vào qui định của Nhà nước tùy thuộc và hoàn cảnh cụ thể của tình hình hình kinh tế - xã hội và chính sách của Nhà nước về quản lý kinh doanh.

- Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Điều luật qui định nhiều hành vi khách quan khác nhau như: sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán. Vì vậy, khi định tội tùy vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội thực hiện hành vi nào thì định tội theo hành vi đó, mà không định hết tất cả các hành vi được liệt kê trong điều luật. Ví dụ: một người chỉ thực hiện hành vi vận chuyển hàng cấm thì không định tội là “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm”. Nếu một người thực hiện hành vi tàng trữ và buôn bán hàng cấm thì định tội là “Tàng trữ, buôn bán hàng cấm”.

+ Sản xuất hàng cấm là hành vi làm ra hàng cấm, bao gồm: việc làm mới hoàn toàn; lắp ráp từ những bộ phận của hàng hóa theo tính năng tác dụng của hàng hóa đó. Người sản xuất có thể tham gia vào cả quá trình làm ra hàng cấm hoặc chỉ tham gia vào cả quá trình làm ra hàng cấm hoặc chỉ tham gia vào một công đoạn của quá trình làm ra hàng cấm.

+ Tàng trữ hàng cấm là hành vi cất giữ hàng cấm ở bất kỳ chỗ nào một cách trái phép. Nơi tàng trữ có thể là nơi ở, nơi làm việc, mang theo trong người, trong hành lý hoặc cách giấu bất kỳ một vị trí nào khác mà người tàng trữ đã chọn. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không có ý nghĩa đối với việc truy cứu trách nhiệm pháp lý.

+ Vận chuyển hàng cấm là hành vi đưa hàng cấm từ nơi này đến nơi khác một cách trái phép. Hình thức vận chuyển có thể là trực tiếp mang hoặc gửi hàng cấm từ địa điểm này đến địa điểm khác bằng cứ đường nào (đường bộ, đường thủy, đường sắt, đường hàng không, đường bưu điện).

+ Buôn bán hàng cấm là hành vi mua đi bán lại hàng cấm dưới bất kỳ hình thức nào như mua bán thông thường, đổi, thanh toán công nợ bằng hàng cấm. Không đòi hỏi phải có đầy đủ cả hai hành vi mua và bán hàng cấm mà chỉ cần có một trong hai hành vi đó người thực hiện hành vi buôn, bán cũng phải bị truy cứu trách nhiệm pháp lý về tội buôn bán hàng cấm.

Hiện nay, căn cứ vào Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-BCT ngày 09/5/2014 của Bộ Công thương, mà theo đó, Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh được quy định tại các nghị định của Chính phủ, như: Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, có hiệu lực kể từ ngày 09 tháng 7 năm 2006, được sửa đổi, bổ sung bởi các văn bản sau: Nghị định số 43/2009/NĐ-CP ngày 07 tháng 5 năm 2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của Nghị định 59/2006/NĐ-CP ngày 12 tháng 6 năm 2006 hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 08 tháng 7 năm 2009 và Nghị định số 39/2009/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2009 của Chính phủ về vật liệu nổ công nghiệp, có hiệu lực kể từ ngày 22 tháng 6 năm 2009, được liệt kê đầy đủ theo thứ tự tại Phụ lục I ban hành kèm theo Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-BCT ngày 09/5/2014 của Bộ Công thương, gồm:

1. Vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên dùng quân sự, công an; quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân hiệu của quân đội, công an), quân dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện, bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bị đặc chủng, công nghệ chuyên dùng chế tạo chúng;

2. Các chất ma túy;

3. Hóa chất bảng 1 (theo Công ước quốc tế);

4. Các sản phẩm văn hóa phản động, đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc có hại tới giáo dục thẩm mỹ, nhân cách;

5. Các loại pháo;

6. Đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội (bao gồm cả cả chương trình trò chơi điện tử);

7. Thuốc thú y, thuốc bo v thực vt cm hoc chưa được phép sử dng ti Vit Nam theo quy định ti Pháp lnh Thú y, Pháp lnh Bo v  kim dịch thực vt;

8. Thực vt, động vt hoang dã (bao gồm c vt sng và c bộ phn ca cng đó được chế biến) thuộc danh mục điu ước quốc tế mà Vit Nam là thành viên quy định và các loại thực vt, động vt quý hiếm thuộc danh mục cấm khai thác  sử dụng;

9. Thy sn cấm khai thác, thủy sn có dư lượng cht độc hi vượt quá giới hn cho phép, thy sn có độc tố tự nhiên gây nguy him đến tính mng con người;

10. Phân bón không có trong danh mục được phép sn xut, kinh doanh và sử dụng ti Vit Nam;

11. Giống cây trồng không có trong danh mục được phép sn xut, kinh doanh;giống cây trồng gây hi đến sn xut và sức khe con người, môi trường, hệ sinh thái;

12. Giống vt nuôi không có trong danh mục được phép sn xut, kinh doanh; giống vt nuôi gây hi cho sức khỏe con ngưi, nguồn gen vt nuôi, môi trường, hệ sinh thái;

13. Khoáng sn đc bit, độc hi;

14. Phế liu nhp khu gây ô nhim môi trường;

15. Các loi thuốc cha bnh cho người, các loi vc xin, sinh phm y tế, mỹ phm, hóa cht và chế phm dit côn trùng, dit khun trong lĩnh vực gia dụng và y tế chưa được phép sử dụng ti Vit Nam;

16. Các loi trang thiết bị y tế chưa được phép sử dụng ti Vit Nam;

17. Phụ gia thực phm, cht hỗ tr chế biến thực phm, vi chất dinh dưỡng, thc phm chức năng, thực phm có nguy cơ cao, thc phm được bo qun bng phương pháp chiếu x, thực phm có gen đã bị biến đổi chưa được cơ quan nhà nước có thm quyn cho phép;

18. Sn phm, vt liu có chứa amiăng thuộc nhóm amphibole;

19. Thuốc lá điếu, xì gà  các dng thuốc lá thành phm khác nhp lu;

Hậu quả của hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm gây ra là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội như: sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, những thiệt hại về tài sản cho xã hội và những thiệt hại khác về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

- Mặt chủ quan của tội phạm: Người thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm với lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là trái pháp luật, là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện. Động cơ, mục đích của người phạm tội là vụ lợi.

  - Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt nghĩa là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đến độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật thì có thể là chủ thể của tội phạm này. Người từ đủ 16 tuổi (khoản 1) hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên (khoản 2, 3) có năng lực trách nhiệm hình sự.

Nhận xét chung: Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm là tội xâm hại trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và được quy định tại Chương XVI của BLHS. So với Điều 166 BLHS năm 1985, Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm quy định tại Điều 155 BLHS năm 1999 được sửa đổi, bổ sung một cách căn bản, toàn diện, triệt để thể hiện chính sách hình sự của Đảng và Nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới, hội nhập kinh tế thế giới. Những điểm mới nổi bật là: Từ tội phạm chỉ gồm một hành vi buôn bán hàng cấm thành tội phạm gồm nhiều hành vi, như: sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm; quy định dấu hiệu cấu thành cụ thể về tính chất, mức độ vi phạm để làm căn cứ phân biệt tội phạm với vi phạm hành chính, vi phạm kỷ luật.

Khi người thực hiện hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm có số lượng lớn, thu lợi bất chính lớn hoặc bị xử phạt về hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại các Điều 153, 154, 156, 157, 158, 159, và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các Điều 193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236, và 238 của Bộ luật này thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm. Về chế tài xử phạt được quy định nhẹ hơn so với luật cũ. Nếu Điều 166 BLHS năm 1985 quy định mức hì nh phạt tối thiểu từ 06 tháng đến 05 năm và mức cao nhất đến 20 năm thì Điều 155 BLHS năm 1999 chỉ quy định mức tối thiểu phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm và mức phạt cao nhất chỉ đến 15 năm tù.

2. Những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn xét xử

Thực tiễn xét xử cho thấy việc áp dụng quy định tại Điều 155 BLHS năm 1999 về Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép hàng cấm vẫn còn những vướng mắc, bất cập cần được nghiên cứu, sửa đổi, cụ thể:

Một là, đối tượng tác động của tội phạm quy định trong điều luật còn chung chung và việc xác định đối tượng còn lệ thuộc vào các văn bản dưới luật

Qua nghiên cứu quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS cho thấy, việc mô tả cấu thành tội phạm mà dấu hiệu về đối tượng tác động của tội phạm còn chung chung - hàng cấm; phạm vi điều chỉnh quá rộng - các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, kinh doanh trái phép. Trong khi đó, danh mục các loại hàng hóa thuộc diện cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép không được quy định cụ thể trong Điều luật mà do Chính phủ hoặc bộ chuyên ngành quy định. Ví dụ: Danh mục hàng hóa cấm lưu thông do Bộ Thương mại ban hành (kèm theo Quyết định số 88/2000/QĐ ngày 18/01/2000) có 11 loại hàng hóa không được phép kinh doanh, trong đó có các hiện vật thuộc di sản lịch sử, văn hóa, bảo tàng, và thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài. Nhưng theo Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh được quy định tại Phần A phụ lục I (Ban hành kèm theo Nghị định số 56/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ) thì có tất cả 18 loại hàng hóa thuộc loại hàng cấm. Nghị định số 43/2009 ngày 07/5/2009 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/6/2006, mà theo đó, Danh mục hàng hóa cấm kinh doanh được bổ sung là thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu.

Như vậy, để xác định một loại hàng hóa nào đó thuộc diện “hàng cấm” thì cơ quan tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các nghị định của Chính phủ, quyết định của bộ chuyên ngành ban hành. Trong khi đó, các văn bản này phải sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu điều chỉnh của pháp luật đối sự phát triển của nền kinh tế trong từng giai đoạn khác nhau. Vì vậy, có thể loại hàng hóa này ở thời điểm này sẽ bị cấm kinh doanh nhưng ở thời điểm khác có thể được phép kinh doanh. Đây là vấn đề bất cập trong thực tiễn áp dụng, dễ dẫn đến việc xử lý không chính xác. Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng nếu không cập nhật kịp thời văn bản mới quy định về danh mục hàng cấm cũng dễ dẫn đến bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Ngoài ra, việc quy định về đối tượng tác động của tội phạm tại Điều 155 BLHS rất chung chung, không cụ thể còn làm hạn chế tính tự chủ, năng động trong kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân vì họ không phân biệt được đâu là hàng cấm để tránh sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán.

Hai là, việc xét xử hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nói chung, mà không có phân biệt rạch ròi về đặc tính, công dụng và khả năng gây nguy hại của mỗi loại nhưng được quy định gộp chung trong cùng một điều luật với cùng một chế tài xử phạt là không công bằng, không phản ánh đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Các loại hàng hóa cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán quy định tại Mục A phụ lục I Danh mục hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh của Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-BCT ngày 09/5/2014, có liệt kê nhiều loại mà nhà làm luật đã quy định trong một số điều luật cụ thể của BLHS, như: Hành vi nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc hóa chất, chế phẩm sinh học hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại… (Điều 185 Chương XVII – Các tội phạm về môi trường); hành vi vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190 Chương XVII); hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vũ khí, quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ (các Điều 230, 232, 233 Chương XIX); các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán các chất ma túy, tiền chất ma túy, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất ma túy (các Điều 193, 194, 195, 196 Chương XVIII); hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán chất phóng xạ, chất cháy, chất độc (Điều 236, Điều 238 Chương XIX); hành vi làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ các sản phẩm văn hóa có tính chất đồi trụy (Điều 253 Chương XIX). Như vậy, những loại hàng cấm vừa liệt kê đã được nhà làm luật coi là đối tượng tác động của các điều luật tương ứng quy định trong BLHS. Nhưng hàng hóa bị cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán trái phép là đối tượng tác động của tội phạm Điều 155 BLH (Danh sách liệt kê hàng cấm) như trên đã trình bày vẫn còn rất đa dạng, phong phú, đặc tính và công dụng của mỗi loại không giống nhau. Ví dụ: Hóa chất bảng 1 (theo Công ước quốc tế), các loại pháo, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật cấm hoặc chưa được phép sử dụng tại Việt Nam…, các loại thuốc chữa bệnh cho người, các loại vắc xin, sinh phẩm y tế, mỹ phẩm, hóa chất và chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong lĩnh vực gia dụng và y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam là những đối tượng có tính chất nguy hiểm cao và khả năng nguy hại cho các khách thể được luật hình sự bảo vệ rõ ràng phải cao hơn so với các loại hàng hóa khác như phế liệu nhập khẩu gây ô nhiễm môi trường, trang thiết bị y tế chưa được phép sử dụng,...

Ngoài ra, một số loại hàng cấm nếu người có hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán chúng sẽ xâm phạm cùng lúc nhiều loại khách thể được luật hình sự bảo vệ, trong đó trật tự quản lý kinh tế không phải là khách thể xâm hại chính, như: Hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán kinh doanh pháo nổ xâm phạm chủ yếu an toàn công cộng; hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán đồ chơi có hại tới sức khỏe của trẻ em hoặc tới an ninh trật tự, an toàn xã hội xâm phạm chủ yếu trật tự công cộng. Do hành vi này chưa được nhà làm luật tách ra thành tội danh độc lập nên cơ quan tiến hành tố tụng chỉ có thể áp dụng Điều 155 BLHS để truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì thế, chúng tôi cho rằng việc xét xử hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nói chung, mà không có sự phân biệt đặc tính, công dụng và khả năng gây nguy hại của mỗi loại hàng cấm được sắp xếp trong cùng một điều luật với cùng một chế tài xử phạt là không phản ánh đầy đủ tính nguy hiểm của tội phạm cho xã hội.

Ba là, chế tài xử phạt đối với tội phạm này nặng hơn so với hình phạt của một số tội liên quan đến việc vận chuyển, buôn bán hàng cấm cụ thể được quy định trong các điều luật cụ thể khác.

So sánh hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 155 BLHS với hình phạt quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 153 BLHS và khoản 1, khoản 2 Điều 154 BLHS cho thấy hình phạt đối với địa điểm nơi thực hiện tội phạm là nội địa và qua biên giới không có sự công bằng. Nghĩa là, cùng một hành vi vận chuyển, buôn bán hàng cấm với số lượng lớn, nhưng nếu người thực hiện hành vi đó trong nội địa thì có thể bị xử phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm; trong trường hợp có những tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 của Điều luật áp dụng thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm; nhưng nếu buôn bán qua biên giới lẽ ra phải bị xử phạt nặng hơn, trong khi đó theo khoản 1 Điều 153 BLHS thì lại bị xử phạt nhẹ hơn, chỉ với mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, trường hợp có những tình tiết định khung tăng nặng theo khoản 2 cũng chỉ bị xử phạt tù từ 03 năm đến 07 năm tù; nếu vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới còn được hưởng mức phạt nhẹ hơn nhiều, chỉ xử phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm theo khoản 1 và từ 02 năm đến 05 năm theo khoản 2 Điều 154 BLHS.

Theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP ngày 12/06/2006 của Chính phủ, động vật hoang dã quý hiếm là đối tượng Nhà nước cấm kinh doanh. Người thực hiện hành vi vận chuyển, buôn bán trái phép động vật hoang dã quý hiếm không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vận chuyển, buôn bán hàng cấm mà bị truy tố, xét xử về tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 190 BLHS), vì nhà làm luật đã xác định hành vi này xâm phạm khách thể chính là môi trường chứ không phải là trật tự quản lý kinh tế. Nhưng dù xâm phạm khách thể nào thì tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó không thay đổi và không thua kém hành vi vận chuyển, mua bán loại hàng cấm khác, vì thế, chế tài xử phạt phải được quy định tương đương với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nhưng BLHS lại quy định hình phạt đối với tội vi phạm các quy định về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, lại nhẹ hơn tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, mà theo đó, hình phạt cao nhất đối với tội này – Điều 155 BLHS đến 15 năm tù, trong khi đó hình phạt cao nhất đối với tội phạm quy định tại Điều 190 BLHS chỉ đến 07 năm tù.

Ngoài ra, các sản phẩm văn hóa đồi trụy, mê tín dị đoan hoặc đồ chơi nguy hiểm, đồ chơi có hại tới giáo dục nhân cách và sức khỏe trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội là loại hàng hóa Nhà nước cấm kinh doanh (kèm theo Nghị định số 59/2006/NĐ-CP), dù đây là đối tượng tác động của tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm, nhưng nếu người thực hiện một trong các hành vi sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán sản phẩm văn hóa đồi trụy với số lượng lớn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy (Điều 253 BLHS) mà không bị truy tố xét xử theo Điều 155 BLHS.  Nhưng với tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm theo khoản 1 Điều 155 BLHS quy định khung hình phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm, trong khi đó tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy, khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 253 BLHS gồm phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, nhẹ hơn nhiều so với mức hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS.

3. Kiến nghị

Tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2013) quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” và Điều 33 của Hiến pháp 2013 có quy định: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”, trên tinh thần hiến định đó nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự nói chung, trong đó có tội phạm về sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm nói riêng, chúng tôi kiến nghị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần soát và có sự điều chỉnh một số qui định của pháp luật hiện hành, để đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống, nhằm bảo đảm sự điều chỉnh có hiệu quả hơn, khắc phục sự bất cập, tính bất hợp lý và đem lại hiệu quả cao hơn trong công tác phòng chống tội phạm này, chúng tôi kiến nghị: Trên cơ sở danh mục hàng hóa cấm kinh doanh do Chính phủ ban hành và yêu cầu bảo vệ trật tự kinh tế trong thời kỳ hội nhập sâu rộng quốc tế, cần xem xét loại hàng hóa nào mà hiện tại cũng như tương lai Nhà nước luôn cấm sản xuất, tàng trữ, mua bán để quy định cụ thể trong BLHS, ví dụ như Nhà nước nghiêm cấm việc sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán pháo nổ, việc đốt pháo luôn bị Nhà nước nghiêm cấm; hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán quân trang của lực lượng quân đội, công an luôn bị Nhà nước cấm; tương tự có thể quy định Tội sản xuất, tàng trữ, mua bán đồ chơi nguy hiểm có hại an ninh, trật tự, an toàn xã hội; gây ảnh hưởng tới giáo dục nhân cách trẻ em;… nghĩa là tách ra khỏi đối tượng tác động của tội phạm được quy định tại Điều 155 BLHS hiện hành và chúng tôi kiến nghị trong lần sửa đổi tới mạnh dạn loại bỏ tội danh này khỏi BLHS hiện hành. Có như vậy mới bảo đảm sự công bằng trên cơ sở phân biệt rạch ròi về đặc tính, công dụng và khả năng gây nguy hại của mỗi loại hàng hóa mà nhà làm luật cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán từng bước khắc phục tình trạng lệ thuộc của cơ quan tư pháp vào các văn bản dưới luật, đồng thời thể hiện rõ sự thể chế hóa quy định của Hiến pháp về quyền “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

LÊ VĂN SUA

Nguồn: Cổng thông tin Bộ Tư pháp

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi