Thứ Ba, 11/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Thực trạng vỡ nợ “tín dụng đen” hiện nay và các biện pháp phòng ngừa

Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm, từ năm 2010 đến nay, cả nước đã có hơn 4.900 vụ việc liên quan đến tội phạm “tín dụng đen”, trong đó, có gần 2.300 vụ liên quan đến lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản... với số tiền thiệt hại gần 5.500 tỷ đồng. Chỉ tính riêng 6 tháng đầu năm 2014, cả nước đã xảy ra 141 vụ lừa đảo, 125 vụ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản liên quan đến “tín dụng đen”. Tội phạm từ “tín dụng đen” có 05 vụ giết người, 31 vụ cướp tài sản, 92 vụ cưỡng đoạt tài sản. Không chỉ gây bất ổn về an ninh trật tự mà còn gây thiệt hại lớn về kinh tế, xã hội. Số liệu trên đã bộc lộ rõ những mặt trái của “tín dụng đen”, đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cấp thiết cần có biện pháp điều chỉnh bằng pháp luật.

Ở Việt Nam cũng như ở nhiều quốc gia khác trong khu vực và trên thế giới, “tín dụng đen" có hình thức khá đa dạng, với quy mô, hệ quả ngày càng khó lường và nguyên nhân đến từ nhiều phía:

Thứ nhất, xuất phát từ tính “siêu lãi suất” của hoạt động cho vay đánh vào lòng tham của người dân.

Trong bối cảnh nền kinh tế khó khăn, nhu cầu vay vốn làm ăn tăng cao song không phải ai cũng có cơ hội tiếp cận. Do vậy, người dân sẵn sàng bấu víu vào “tín dụng đen” bất chấp những rủi ro vì sự tự do tài chính không kiểm soát.

Những năm gần đây, tại 5 thành phố lớn trực thuộc Trung ương gồm Hà Nội, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ đã xảy ra 18 vụ gây thiệt hại gần 2.000 tỷ đồng. Trong đó, có một số vụ điển hình như: Tạ Việt Quang, ở huyện Đan Phượng, Hà Nội đã lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt khoảng 300 tỷ đồng; vụ Nguyễn Thị Dậu, ở quận Hà Đông, Hà Nội cũng chiếm đoạt  200 tỷ đồng. Một vụ việc gần đây nhất gây rúng động dư luận, ngày 27/07/2013, Công an thành phố Lạng Sơn đang tạm giữ hai đối tượng là Nguyễn Văn Trung (sinh năm 1967) và Tạ Bích Liên (sinh năm 1973) để phục vụ công tác điều tra về hành vi chiếm đoạt hàng trăm tỷ đồng dưới hình thức huy động vốn với lãi suất cao rồi bỏ trốn.

Thực tế cho thấy, bản thân nhiều người biết rủi ro có thể xảy ra, nhưng họ hoàn toàn bị yếu tố lãi suất cao chi phối. Các nguồn vốn tín dụng đen này chủ yếu được huy động trong dân và qua nhiều kênh rồi đến các trùm nợ, vì thế mức lãi suất qua từng khâu trung gian cũng tăng lên ngất ngưởng. Bằng thủ đoạn “thả con săn sắt, bắt con cá rô”, một vài tháng đầu, các trùm nợ trả tiền lãi sòng phẳng khiến nhiều chủ nợ lóa mắt vì khoản lợi nhuận. Chính vì lòng tham về lãi suất đã khiến không ít người trút toàn bộ vốn liếng, tài sản cho vay, không những thế còn đi huy động của người khác để cho vay lại nhằm kiếm lời chênh lệch, điều đó dẫn đến những hậu quả dây chuyền.  Chủ nợ sau nhiều lần đòi tiền không thành thì bức xúc dẫn đến việc thuê côn đồ đòi nợ thuê, giải quyết mâu thuẫn theo kiểu “luật rừng” mang đậm tính xã hội đen. Từ đó, có thể dẫn đến các hành vi vi phạm các tội cố ý gây thương tích, giết người… gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Thứ hai, công tác quản lý của các cơ quan chức năng đối với hoạt động “tín dụng đen” vẫn còn nhiều yếu kém.

Hoạt động “tín dụng đen” là hoạt động kinh doanh đặc biệt với đặc trưng cơ bản là giao dịch ngầm, khi giao dịch không báo chính quyền địa phương, thủ tục cho vay lỏng lẻo, hoạt động thường biến tướng trá hình dưới các cơ sở cầm đồ, liên quan đến các hoạt động ghi lô đề, cờ bạc… diễn biến hết sức phức tạp, là nơi phát sinh các loại tội phạm. 

Tuy nhiên, thực tế cho thấy chỉ đến khi đa số các vụ vỡ nợ “tín dụng đen” xảy ra, lúc đó chính quyền địa phương ở phường, xã, thị trấn và các cơ quan pháp luật mới vào cuộc thì hậu quả xảy ra đã quá lớn. Trong khi đó, đối với lĩnh vực quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện vẫn chưa có chế tài xử lý mạnh đối với hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến cầm cố tài sản, cho vay nặng lãi nhằm phòng ngừa, ngăn chặn các loại tội phạm liên quan đến “tín dụng đen”. Bên cạnh đó, việc quản lý doanh nghiệp còn thiếu chặt chẽ, dẫn đến đối tượng lợi dụng giấy tờ kinh doanh để huy động vốn tràn lan nhằm mục đích lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Thêm vào đó, nguyên nhân của tình trạng đổ vỡ “tín dụng đen” hàng loạt không thể không kể đến đó là nhận thức về pháp luật của nhiều người dân còn rất hạn chế, tâm lý hám lời khá phổ biến, công tác tuyên truyền pháp luật chưa được quan tâm đúng mức.

Thứ ba, những quy định của pháp luật còn lỏng lẻo và chưa đủ sức răn đe.

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 476, Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: "Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng". Do đó, theo quy định trên của Bộ luật Dân sự thì nếu lãi suất cho vay vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng thì gọi là “cho vay nặng lãi”. Hậu quả pháp lý đối với “tín dụng đen” khi có tranh chấp xảy ra thì Nhà nước không bảo vệ quyền lợi cho bên cho vay đối với phần lãi suất vượt quá 150% lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Hiện nay, Bộ luật Hình sự chỉ có 1 điều duy nhất - Điều 163 quy định hành vi cho vay lãi nặng nhưng phải thỏa mãn cả hai yếu tố: Lãi suất cho vay cao hơn mức lãi suất mà pháp luật quy định từ 10 lần trở lên và có tính chất chuyên bóc lột (được hiểu là người phạm tội lợi dụng việc cho vay, lợi dụng hoàn cảnh khó khăn cấp bách của người đi vay với lãi suất cao nhằm thu lợi bất chính, sống bằng nghề cho vay nặng lãi và dùng nhiều thủ đoạn ép buộc cho vay và trả nợ). Điều này không dễ dàng chứng minh và xác định. Bên cạnh đó, quan điểm của các nhà làm luật cho rằng, tội phạm cho vay nặng lãi gây nguy hại không lớn, hình phạt đối với tội phạm này chỉ dừng lại ở mức độ ít nghiêm trọng, có mức hình phạt tối đa 03 năm tù (Điều 8, Bộ luật hình sự) là chưa đánh giá đúng tính chất mức độ nguy hiểm để có biện pháp xử lý thích đáng, đảm bảo tính răn đe, ngăn ngừa tội phạm.

Trong khi đó, các biện pháp chế tài về hành chính, theo chúng tôi là biện pháp hữu hiệu nhất để hạn chế “tín dụng đen” thì gần như bỏ ngỏ. Pháp luật hành chính hiện hành quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng áp dụng cho các tổ chức tín dụng (Nghị định 202/2004/NĐ-CP) và an ninh trật tự, an toàn xã hội (Nghị định 73/2010/NĐ-CP) lại không có chế tài đối với hành vi cho vay nặng lãi. Vì thế, chế tài đối với những chủ thể tham gia “tín dụng đen” vẫn chưa nghiêm cả về biện pháp hành chính lẫn hình sự, nên giao dịch này vẫn phát triển mạnh.

Trước thực trạng trên, để nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm liên quan đến “tín dụng đen” cần tiến hành đồng bộ, tập trung một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, nhanh chóng sửa đổi, bổ sung các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với không chỉ hành vi cho vay lãi nặng của người dân, mà còn đối với hành vi huy động vốn lãi suất cao. Đối với giao dịch cho vay lãi suất cao hơn mức lãi suất quy định của pháp luật từ 03 lần thì bị phạt tiền và phạt bổ sung, tịch thu sung công quỹ toàn bộ tiền lãi thu lợi bất chính. Quy định trên sẽ giao thẩm quyền xử lý cho các cơ quan tư pháp áp dụng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại các cơ quan Công an, tư pháp xã, phường hoặc tại Tòa án khi có đơn thư tố cáo, điều tra, hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp phát hiện.

Hai là, các quy định của pháp luật hình sự về phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm về “tín dụng đen” cần được sửa đổi phù hợp nhằm xử lý nghiêm các vi phạm. Trong đó, cần phát hiện sớm và xử lý ngăn chặn từ đầu những băng nhóm “tín dụng đen”, trước mắt chỉ áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Trường hợp tiếp tục sai phạm (sau khi đã bị xử lý hành chính lần thứ nhất) thì áp dụng Bộ luật Hình sự để xử lý và xem đây là loại tội phạm nghiêm trọng, gây nguy hại lớn cho xã hội có khung hình phạt đến 07 năm tù. Đối với quy định của pháp luật về tình tiết “có tính chất chuyên bóc lột”, Tòa án nhân dân tối cao cần hướng dẫn cụ thể hơn và quy định cụ thể trong Bộ luật Hình sự để thuận lợi và thống nhất trong xử lý loại tội phạm này.

Ba là, về quản lý nhà nước, Ngân hàng Nhà nước cần hướng dẫn cải cách thủ tục lập hồ sơ tín dụng theo hướng đơn giản hơn, phát triển các tổ chức tài chính quy mô nhỏ để người dân, doanh nghiệp tiếp cận được tín dụng chính thức khi có nhu cầu về vốn. Chú trọng xây dựng hệ thống ngân hàng và quỹ tín dụng đến tận nông thôn; mở rộng đối tượng được hưởng chính sách cho vay không cần bảo đảm tài sản (tín chấp) nhằm thực hiện một số mục tiêu chính sách, xã hội.

Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền,  phổ biến các quy định của pháp luật, nhằm nâng cao nhận thức và sự cảnh giác của người dân, giúp người dân nhận thức rõ pháp luật, không gửi niềm tin vào những kẻ lừa đảo dưới bất cứ hình thức nào. Đồng thời, tăng cường công tác thanh, kiểm tra đối với các chủ thể kinh doanh dịch vụ cầm đồ, thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành tổ chức tổng kiểm tra việc chấp hành pháp luật của các chủ cơ sở cầm đồ và xử lý nghiêm các chủ kinh doanh vi phạm.

Năm là, lực lượng Công an cần tập trung triển khai đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ, tăng cường phối hợp giữa các lực lượng, các cơ quan trong việc quản lý, giám sát và trao đổi thông tin nhằm  kịp thời nắm tình hình, kịp thời phát hiện, điều tra xử lý nghiêm các vụ vi phạm về “tín dụng đen”, các vụ đòi nợ, siết nợ thuê trái pháp luật nhằm răn đe tội phạm. Đặc biệt là lực lượng Công an ở các quận, huyện, phường tăng cường quản lý địa bàn, làm tốt công tác nghiệp vụ cơ bản và quản lý hành chính về an ninh, trật tự ở cơ sở, từ đó phối hợp với các cấp, các ngành nhằm phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh xử lý nghiêm đối với tội phạm và các vi phạm về “tín dụng đen”, góp phần bảo vệ và giữ vững an ninh, trật tự trên địa bàn.

Như vậy, với thực trạng vi phạm pháp luật từ vỡ nợ “tín dụng đen” ngày càng gia tăng, các cơ quan pháp luật cần phải có nhiều biện pháp hơn nữa nhằm tăng cường công tác thanh kiểm tra, kịp thời ngăn ngừa, phát hiện các loại tội phạm  liên quan đến hoạt động “tín dụng đen”. Từ đó, nâng cao hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và trật tự, an toàn xã hội n

TRẦN THỊ TUYẾT MAI - Bộ môn Pháp luật, Học viện CSND

CAO THỊ NGA - Khoa QLHC về TTXH, Trường Cao đẳng CSND I

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 12/2014

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi