Thứ Bảy, 17/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nghiên cứu quy định về tội xâm hại tình dục trẻ em trong Bộ luật Hình sự 2015 - Giải pháp phòng ngừa của ngành Công an

 

Mặc dù trẻ em là đối tượng quan trọng cần được xã hội bảo vệ, nhưng, thực tế cho thấy, trong thời gian gần đây đã xảy ra nhiều vụ việc xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của trẻ em, đặc biệt đáng báo động là các vụ xâm hại tình dục trẻ. Trong thời gian gần đây, nhiều vụ xâm hại tình dục trẻ em với hậu quả nguy hại và tính chất tinh vi, nguy hiểm đã được phát hiện cho thấy mức độ đáng báo động của tội phạm này. Theo thống kê của Tổng cục Cảnh sát - Bộ Công an, trong 5 năm trở lại đây (2013 - 2017), mỗi năm trung bình có 1.600 - 1.800 vụ xâm hại trẻ em được phát hiện. Chỉ tính riêng năm 2017, phát hiện 1.592 vụ. Trong 6 tháng đầu năm 2018 phát hiện hơn 700 vụ, nạn nhân chủ yếu là trẻ em gái, chiếm 80%. Con số thực tế các vụ xâm hại tình dục trẻ em chưa được phát hiện có thể còn cao hơn nữa. Tội phạm này cũng xuất hiện trên hầu hết địa bàn các tỉnh thành phố trên cả nước. Tình hình trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đòi hỏi cần phải kịp thời nghiên cứu bổ sung hoàn thiện lý luận, tổng kết thực tiễn công tác, từ đó, tổ chức các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn nhằm tìm ra các giải pháp khắc phục nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa loại tội phạm này một cách hiệu quả, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả có thể xảy ra cho xã hội.

1. Những quy định trong Bộ luật hình sự 2015 liên quan đến tội phạm xâm hại trẻ em

Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với lỗi cố ý và phải chịu trách nhiệm hình sự, xâm hại đến quyền bất khả xâm phạm về tự do tình dục, tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và sự phát triển bình thường về mặt tâm sinh lý của trẻ em. Tội phạm xâm hại tình dục trẻ em không phải là một tội danh cụ thể mà bao gồm một nhóm tội danh trong Bộ luật hình sự Việt Nam. Các tội phạm xâm phạm tình dục trẻ em được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 (Chương XIV: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người) gồm 5 điều luật cụ thể sau: Điều 142 - tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, Điều 144 - tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, Điều 145 - tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi, Điều 146 - tội dâm ô với người dưới 16 tuổi, Điều 147 - tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Trong đó, người phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi  và tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể phải chịu mức án cao nhất là chung thân hoặc tử hình. Tuy về mặt hình thức chỉ có hơn 1 điều luật so với BLHS 1999 (sửa đổi bổ sung năm 2009) nhưng về mặt nội dung có nhiều điểm khác nhau về việc quy định nhóm tội trên. So với BLHS năm 1999, các tội xâm phạm tình dục theo BLHS 2015 có một số điểm mới sau

- Một số tội được sửa đổi tên bằng việc cụ thể hoá độ tuổi nạn nhân. Cụ thể các tội sau: Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 122) thành tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142); tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114) thành tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Đi 144); tội giao cấu với trẻ em (Điều 115) thành tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); tội dâm ô trẻ em (Điều 116) thành tội dâm ô với người dưới 16 tuổi (Điều 146).

Các nhà làm luật đã cụ thể hoá nạn nhân của nhóm tội này, đặc biệt là độ tuổi của nạn nhân. Sở dĩ có sự thay đổi này mà không dùng cụm từ chung “trẻ em” như trước đây là do Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em 2004 quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, quy định này chưa tương thích với Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em. Hiến pháp 2013 ghi nhận quyền con người, quyền công dân trong khi Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em chỉ quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi. Do đó, không có cơ sở pháp lý để đảm bảo các quyền trẻ em đồng thời là quyền con người đối với trẻ em là người nước ngoài cư trú tại Việt Nam. Vì vậy, việc sửa đổi tên điều luật bằng cụ thể độ tuổi của nạn nhân nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trên.

- Mở rộng nội hàm khái niệm “giao cấu”. Sự thay đổi này xuất phát từ thực tế, các tội xâm hại tình dục trẻ em ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp bởi nhiều hành vi phạm tội đa dạng, vượt quá phạm vi tội phạm quy định trong BLHS 1999. Theo quy định cũ thì nếu những bé nam hoặc nam giới bị giao cấu trái ý muốn thì các cơ quan chức năng chỉ có thể xử lý được một hành vi là “dâm ô trẻ em” hoặc “làm nhục người khác”. Điều đó có nghĩa là chủ thể của tội hiếp dâm chỉ có thể là nam giới và nạn nhân chỉ có thể là nữ giới. Như vậy, trẻ em nam không được bảo vệ khi bị xâm hại tình dục. Mà thực tiễn, hành vi giao cấu không chỉ là nam với nữ nữa mà còn có nam với nam, hay nữ với nữ và hình thức thì vượt ra ngoài hình thức “truyền thống”. Thiết nghĩ, việc mở rộng nội hàm khái niệm “giao cấu” đáp ứng tình hình tội xâm hại tình dục trẻ em hiện nay, bảo vệ quyền chính đáng của mọi công dân.

- Một số khái niệm trong quá trình áp dụng BLHS 1999 chưa được hiểu và áp dụng thống nhất. Vì vậy, BLHS 2015 đã cụ thể hoá một số khái niệm sau: “Người đã thành niên” được thay bằng “người đủ 18 tuổi trở lên”; “nhiều người” được thay bằng “từ 02 người trở lên”; “nhiều lần” được thay bằng “từ 02 lần trở lên”; “gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật..” được thay bằng “gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật...”.

Khái niệm “hiếp dâm trẻ em” được thay bằng “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi trái với ý muốn của họ” hoặc “giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi”.Theo đó, khái niệm “cưỡng dâm trẻ em”, “giao cấu với trẻ em”, “dâm ô với trẻ em” cũng được khái niệm cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong cách hiểu và quá trình áp dụng của các cơ quan có thẩm quyền.

- Thể hiện rõ nét hơn nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự trong các tội xâm hại tình dục trẻ em. Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm được thực hiện ở một bước cao hơn. Sự phân hoá trách nhiệm hình sự ở mức cao hơn tạo thuận lợi cho việc cá thể hình phạt. Nguyên tắc phân hoá trách nhiệm hình sự được thể hiện qua việc cụ thể hoá ở mức tối đa các tình tiết định khung của từng tội phạm trong nhóm tội. Cụ thể:

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45% (Điều 142, 144,145,146);

+ Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 46% trở lên (Điều 142, 144,145,146);

+ Phạm tội đối với người dưới 10 tuổi (Điều 142);

+ Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh (Điều 145);

+ Làm nạn nhân tự sát (Điều 146).

- Sự thay đổi về khung hình phạt và hình phạt bổ sung. Cụ thể như sau:

+ Khoản 3, Điều 143, BLHS 2015 tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi quy định mức hình phạt tù là 10 năm đến 18 năm thay cho mức phạt từ 7 năm đến 18 năm tại Khoản 3, Điều 113,BHS 1999.

+ So với Điều 155, BLHS 1999, Điều 145, BLHS 2015 bổ sung thêm Khoản 4 quy định về hình phạt bổ sung là người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Sự thay đổi này thể hiện mức độ nguy hiểm của hành vi đã tăng lên dẫn đến quy định mức răn đe đối với hành vi phạm tội cũng phải có sự tăng tiến tương xứng.

- Bổ sung một tội mới: Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147, BLHS 2015: “Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm….”). Hiện nay, các hình thức khiêu dâm bùng nổ và gia tăng mạnh mẽ khắp mọi nơi. Đặc biệt, xuất hiện cả những hiện tượng sử dụng trẻ em, người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Hành vi này gây ra hậu quả nghiêm trọng không nhỏ cho nạn nhân, gia đình và xã hội. Tuy đã quy định tội dâm ô trẻ em song quy định này chưa bao quát hết các hành vi xâm hại tình dục trẻ em hiện nay. Hiện tượng ép buộc trẻ em phải biểu diễn các hành vi khiêu dâm, đóng phim khiêu dâm, xem những hình ảnh khiêu dâm... đang diễn ra tràn lan. Do vậy, việc BLHS 2015 quy định thêm tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm nhằm xử lý triệt để mọi hành vi xâm phạm tình dục trẻ em là rất hợp lý.

2. Hậu quả của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em đối với các nạn nhân

Trẻ em là những người đang trong độ tuổi phát triển, chưa hoàn thiện về mặt thể chất và tâm sinh lý. Vì vậy, khi trẻ bị xâm hại tinh dục sẽ dẫn đến những hậu quả lâu dài không chỉ cho trẻ em - nạn nhân trực tiếp mà còn gây ra những ảnh hưởng tiêu cực cho gia đình trẻ bị xâm hại và cộng đồng xã hội.

Một nghiên cứu cho thấy hậu quả lớn nhất khi trẻ bị xâm hại tình dục là trẻ tổn thương về tinh thần và ảnh hưởng đến tương lai, dễ bị mặc cảm, phát triển không bình thường, khó hoà nhập với xã hội và đặc biệt là tổn thương về sức khoẻ thể chất. Việc bị xâm hại tình dục trong khi các đặc điểm sinh học, thể chất chưa hoàn thiện có thể gây ra những tổn thương nặng nề tại bộ phận sinh dục: Bị nhiễm trùng đường tiết niệu, chảy máu kéo dài ở bộ phận sinh dục hoặc các tổn thương thể chất khác như đau bụng, đau đầu, mất ngủ… Trẻ có thể bị nhiễm các bệnh xã hội, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.

Với các em nữ việc bị xâm hại tinh dục có thể khiến các em mang thai ngoài ý muốn gây nguy hiểm cho bản thân và thai nhi vì cơ thể các em chưa phát triển hoàn chỉnh hoặc là nguyên nhân dẫn đến vô sinh, ảnh  hưởng trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản và hạnh phúc gia đình của các em về sau. Nhiều trường hợp xâm hại tình dục đi kèm với bạo lực đã dẫn tới tử  vong.

Từ các tài liệu nhi khoa và tâm lý bệnh nhi cho thấy: Nhiều trẻ sau khi bị xâm hại tình dục có sự hoảng loạn, xuất hiện các ảo giác bệnh lý (luôn có cảm giác bất an, giật mình, tưởng tượng ra hình ảnh kẻ xâm hại hay tiếng nói của kẻ xâm hại,...). Nghiêm trọng hơn, sau khi bị xâm hại tình dục không ít em có suy nghĩ tìm đến cái chết do bị sốc về mặt tinh thần. Các em rơi vào trạng thái hoảng sợ và cảm thấy bế tắc. Nhiều trường hợp, các em không dám kể với người khác, tố cáo đối tượng phạm tội một phần do xấu hổ, một phần khác do bị đe dọa dẫn tới gánh nặng tâm lý ngày càng nghiêm trọng.


Xâm hại tình dục còn có khả năng gây ra những lệch lạc giới tính cho các em. Khi các em nam bị xâm hại tình dục thì các em sẽ không phát triển tự nhiên về mặt sinh lý mà có nguy cơ bị lệch lạc về tình dục. Những ám ảnh về việc bị lạm dụng, đặc biệt là hành vi tình dục đồng giới sẽ khiến các em trở thành những người đồng tính luyến ái. Ngoài ra, những lệch lạc giới tính về sau này khi trưởng thành có thể dẫn đến việc quan hệ tình dục bừa bãi với nhiều người. Đối với một số em thì việc lạm dụng làm cho các em trở nên chai sạn và xem chuyện bị lạm dụng là chuyện bình thường.

Có thể nói những ảnh hưởng nguy hại của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trước hết tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường của trẻ về tâm lý, giới tính cũng như tương lai của các em sau này. Bên cạnh đó, hậu quả mà hành vi này gây ra cho xã hội là không thể phủ nhận. Dó là sự tấn công trực diện đến các nền tảng đạo đức xã hội, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong dư luận xã hội.

3. Một số biện pháp phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em

Phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em là quá trình áp dụng tổng hợp các biện pháp nhằm phát hiện, ngăn chặn kịp thời những nguyên nhân, điều kiện phát sinh, tồn tại, phát triển của tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, hạn chế đến mức thấp nhất tình trạng tội phạm tội phạm xâm hại tình dục trẻ em xảy ra cũng như hậu quả, tác hại do tội phạm này gây ra cho xã hội với sự tham gia của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân trong đó lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò chủ công, trực tiếp và nòng cốt. Để tiến hành hoạt động phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, lực lượng Công an nhân dân cần chú trọng một số biện pháp cụ thể như:

Một là, tham mưu cho các cấp ủy Đảng, chính quyền để kiện toàn hệ thống pháp luật, ban hành văn bản hướng dẫn việc áp dụng các quy định của Luật Hình sự và Tố tụng hình sự đối với các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, nhất là trong bối cảnh BLHS 2015 đã có hiệu lực; xây dựng và hoàn thiện các quy trình, tiêu chuẩn về bảo vệ trẻ em bị xâm hại; thống nhất hoạt động phối hợp liên ngành tăng cường các hoạt động bảo vệ trẻ.

Hai là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hình sự, hôn nhân gia đình, pháp luật về chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em và phòng chống xâm hại tình dục trẻ em cho quần chúng nhân dân. Công tác này cần có sự chung tay, phối hợp của các Sở, ban ngành, đoàn thể liên quan. Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền các phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội của các đối tượng thực hiện tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cho quần chúng nhân dân được biết; mặt khác hướng dẫn cho quần chúng nắm được các biện pháp phòng ngừa tội phạm, bảo vệ chính con em của mình.

Ba là, tăng cường bồi dưỡng nghiệp vụ trong công tác phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em cho lực lượng Công an phường, công an phụ trách xã, bảo vệ tổ dân phố, khu dân cư, trường học... để công tác phòng ngừa được quan tâm thực hiện từ cấp cơ sở.

Bốn là, thường xuyên tiến hành nắm tình hình về những mặt liên quan đến tội phạm xâm hại tình dục trẻ em. Về thực chất công tác này là điều tra một cách rộng rãi các mặt, các nội dung ở tất cả các địa bàn dân cư, cơ quan, tổ chức, bởi loại tội phạm này có thể xảy ra ở bất cứ đâu, với tỷ lệ “tội phạm ẩn” là rất cao. Nắm tình hình về diễn biến tội phạm hình sự và tệ nạn xã hội cũng như phong trào quần chúng nhân dân đấu tranh phòng chống tội phạm trên từng địa bàn; các cơ sở kinh doanh có điều kiện về ANTT như: khách sạn, quán karaoke… những nơi có khả năng xảy ra tội phạm xâm hại tình dục trẻ em; tình hình tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trên địa bàn trong những năm vừa qua trên các mặt: Số lượng, quy mô, tính chất hoạt động, đặc điểm, diễn biến hoạt động phạm tội của các đối tượng; xác định được tuyến, địa bàn trọng điểm mà tội phạm xâm hại tình dục trẻ em thường xuyên hoạt động, phát hiện mối quan hệ của các đối tượng với tuyến, địa bàn, lĩnh vực trọng điểm để hỗ trợ đắc lực cho công tác nghiệp vụ khác nhằm phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục nói chung (địa bàn nông thôn hay đô thị, xã, huyện cụ thể, khu dân cư hay trường học, cơ quan,...).

Năm là, tăng cường công tác tuần tra, kiểm soát thường xuyên, đột xuất, giữ gìn trật tự ở các khu vực dân cư, địa bàn , tuyến trọng điểm. Duy trì công tác tuần tra, kiểm soát tại những địa bàn mà tội phạm hiếp dâm có thể lợi dụng để hoạt động. Tổ chức công tác tuần tra, kiểm soát, mật phục ở những địa bàn công cộng như công viên, bến xe, nhà ga, những nơi phức tạp, nơi ít người qua lại, khu vực hoang vắng có tác dụng rất lớn đối với công tác phòng ngừa tội phạm xâm hại tình dục trẻ em, góp phần nâng cao ý thức cảnh giác của người dân, có thể làm cho đối tượng phạm tội không có cơ hội thực hiện hành vi, từ bỏ ý định phạm tội.

Đại úy Nguyễn Hoàng Tùng

 PV28, Công an tỉnh Quảng Ninh
 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi