Thứ Tư, 14/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện công tác giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân, đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh, trật tự trong tình hình mới

Hơn 70 năm qua, công tác giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân luôn bám sát các quan điểm, chủ trương chỉ đạo, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong từng thời kỳ; có sự phát triển liên tục, ngày càng mở rộng về quy mô, nâng cao chất lượng, từng bước hòa nhập với tiến trình đổi mới của nền giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Công an và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

1. Đánh giá tổng quan công tác giáo dục, đào tạo Công an nhân dân

(1) Giai đoạn kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

Ngay sau khi thành lập lực lượng Công an nhân dân (CAND), ngày 25/6/1946, Bộ Nội vụ đã ban hành Nghị định số 215/NV-P2 về việc thiết lập tại Nha Công an Trung ương những lớp huấn luyện Công an sơ cấp và trung cấp, đánh dấu bước phát triển của công tác đào tạo, xây dựng lực lượng CAND. Ngày 31/12/1949, Bộ Nội vụ ban hành Nghị định số 385/NV-P2 về việc mở những lớp huấn luyện chuyên nghiệp trong ngành Công an. Trường Công an Trung cấp được thành lập, với tổ chức bộ máy ban đầu gồm Ban Giám hiệu, Ban văn thư, quản trị, Ban tổ chức và Ban giáo dục. Đặc biệt, ngày 16/2/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi tên Nha Công an thành Thứ Bộ Công an trực thuộc Hội đồng Chính phủ, trong đó, Phòng nhân sự thuộc Thứ Bộ Công an có nhiệm vụ nghiên cứu chương trình giáo dục chính trị và nghiệp vụ; nghiên cứu phương pháp học tập, tổng kết và phổ biến kinh nghiệm giáo dục. Thời điểm này, Trường Công an Trung cấp được đổi tên thành Trường Công an Trung ương.

Thực hiện các Sắc lệnh, Nghị định của Chính phủ về công tác giáo dục, đào tạo, từ năm 1953, hệ thống các trường Công an đã bước đầu hình thành, trong đó có Trường Công an Trung ương và trường Công an sơ cấp ở các liên khu. Các Ty Công an địa phương cũng chủ động tổ chức bồi dưỡng, huấn luyện cho cán bộ chiến sĩ, loại hình chủ yếu là bồi dưỡng, huấn luyện ngắn ngày với nội dung đơn giản, trực tiếp phục vụ nhu cầu công tác của từng lực lượng về pháp luật, công tác công an, lịch sử, hành chính, căn cước dấu vết, công tác điệp báo, tình báo… Tổ chức công tác quản lý giáo dục đã được hình thành. Tuy còn nhiều hạn chế, song thời kỳ này đã đào tạo, bồi dưỡng được 765 cán bộ trung cấp, 19.502 cán bộ sơ cấp, góp phần tạo tiền đề cho sự phát triển, lớn mạnh của công tác giáo dục, đào tạo trong CAND thời kỳ tiếp theo.

(2) Giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam (1954-1975)

Trong thời kỳ này, Đảng đoàn và lãnh đạo Bộ Công an đã có những chủ trương quyết sách đúng đắn, kịp thời lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục, đào tạo trong CAND phát triển cả về quy mô và chất lượng, giúp các thế hệ cán bộ Công an ra trường, bước vào công tác, chiến đấu đầy tự tin và trưởng thành nhanh chóng. Bộ đã thành lập Ban Sư phạm do 01 đồng chí lãnh đạo Bộ làm Trưởng ban để xét duyệt nội dung, chương trình, giáo trình giảng dạy. Hội nghị xây dựng lực lượng CAND lần thứ hai (ngày 21/5/1962) đã thông qua Nghị quyết về cải tiến công tác giáo dục, đào tạo trong toàn ngành.

Công tác đào tạo của lực lượng Công an đã chuyển hướng rõ nét, đi vào nền nếp, kết hợp đào tạo ngắn hạn với đào tạo dài hạn, chính quy. Các trường CAND không ngừng lớn mạnh và phát triển,bước đầu hình thành hệ thống có đủ cơ cấu trình độ (đại học, trung cấp, sơ cấp), theo ngành nghề, lực lượng (An ninh, Cảnh sát, Công an vũ trang, Phòng cháy, Trại giam), theo vùng miền (Trường An ninh miền Nam, Trường đào tạo cán bộ miền Nam ra Bắc tập kết, Trường đào tạo cán bộ Lào và Campuchia và các trường của các khu, tỉnh).

Mục tiêu đào tạo luôn gắn chặt với nhiệm vụ cách mạng như: đào tạo cán bộ công an sơ cấp và lãnh đạo phục vụ cho việc tiếp quản, phục vụ cải cách ruộng đất, chống địch cưỡng ép đồng bào di cư; giáo dục lý luận phục vụ cho thời kỳ cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hệ thống giáo trình và tài liệu dạy học trong các trường CAND đã được biên soạn và từng bước hoàn chỉnh theo hướng chuyên sâu hơn với gần 300 giáo trình, 662 tài liệu các loại, 276 bài tập và báo cáo thực tế công tác nghiệp vụ...góp phần đáp ứng các điều kiện để chính quy hóa các khâu trong quá trình đào tạo, mở ra hướng đào tạo gắn liền với tổng kết thực tiễn và lấy tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học làm cơ sở khái quát hóa lý luận nghiệp vụ để phục vụ giảng dạy trong các trường CAND.

(3) Giai đoạn thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước (1975-1986)

Trong giai đoạn này, Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã ban hành Nghị quyết số 01- NQ/BNV về cải cách giáo dục trong lực lượng CAND. Theo đó, hệ thống các học viện, trường cao đẳng, trường trung học chuyên nghiệp trong CAND được đặt trong hệ thống giáo dục của Nhà nước; chuyển hẳn từ phương thức đào tạo sĩ quan, hạ sĩ quan sang phương thức đào tạo đại học, trung học chuyên nghiệp; đồng thời thu gọn từ 77 trường (năm 1978) còn 28 trường (năm 1983). Danh mục các ngành học trong CAND và các ngành thuộc từng bậc học được sắp xếp lại, đã xác định cơ cấu hệ thống đào tạo hoàn chỉnh gồm 3 bậc học (sơ học, trung học, cao đẳng-đại học) với 23 ngành học (10 ngành học an ninh; 10 ngành học cảnh sát; 3 ngành học khác).

Mục tiêu, nội dung, chương trình đào tạo các hệ học, cấp học được xác định cụ thể, cơ bản toàn diện và hoàn chỉnh hơn; công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình, tài liệu dạy học trong các trường luôn được quan tâm, ngày càng đi vào nền nếp, hiệu quả, chất lượng ngày càng cao. Phương pháp đào tạo được đổi mới theo hướng: giảng dạy, học tập kết hợp chặt chẽ với chiến đấu, công tác theo ngành học, với thực nghiệm và nghiên cứu khoa học; coi trọng bồi dưỡng năng lực thực hành cho học viên. Đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được tăng cường về chất lượng. Trong 10 năm sau giải phóng, đào tạo, bồi dưỡng được 68.262 cán bộ, có 12.310 sĩ quan, 2.310 cán bộ đi đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ ở nước ngoài, 2.632 cán bộ, học viên đi học ở các trường ngành ngoài.

(3) Giai đoạn đổi mới đến nay (1986-2016)

Từ năm 1986 đến nay, Đảng ủy Công an Trung ương và Bộ Công an đã ban hành các Nghị quyết, Chỉ thị, chương trình, đề án phát triển giáo dục, đào tạo trong CAND, như Chỉ thị số 11/CT-BNV ngày 5/11/1991, về việc tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong lực lượng CAND (1991-1995...Thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), Đảng ủy Công an Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 17-NQ/ĐU,về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân. Thủ tướng Chính phủ đã Quyết định phê duyệt Đề án "Quy hoạch tổng thể, nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong CAND đến năm 2020"… tạo cơ sở định hướng chiến lược khoa học cho sự phát triển giáo dục, đào tạo của lực lượng CAND trong giai đoạn mới.

Công tác quản lý giáo dục có chuyển biến tích cực, bắt kịp với xu thế mới của giáo dục đào tạo trong nước và của các nước trong khu vực. Lý luận về tổ chức, quản lý đào tạo từng bước hoàn thiện. Chính sách giáo dục, đào tạo được đổi mới theo hướng thúc đẩy dạy tốt, học tốt, khuyến khích tự đào tạo, quan tâm đào tạo bồi dưỡng cán bộ chiến sĩ ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, con thương binh, liệt sĩ…

Hệ thống các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng CAND được quy hoạch, phát triển phù hợp với thực tiễn công tác, chiến đấu, yêu cầu xây dựng lực lượng CAND, từng bước khẳng định vị thế trong hệ thống giáo dục quốc dân. Toàn lực lượng có 04 học viện, 04 trường đại học, 04 trường cao đẳng, 04 trường trung cấp và 03 trường văn hóa. Các lực lượng trong CAND đều có các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng chuyên ngành với 05 trường đào tạo cho lực lượng An ninh, Tình báo; 08 trường đào tạo cho lực lượng Cảnh sát và 03 trường đào tạo cho lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy, kỹ thuật - hậu cần, xây dựng lực lượng, tham mưu, tổng hợp, 80 trung tâm huấn luyện và bồi dưỡng nghiệp vụ.

Nội dung chương trình, phương pháp đào tạo, giáo trình, tài liệu dạy học từng bước được hoàn thiện và chuẩn hóa. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Đã có 750 giáo trình nghiệp vụ được biên soạn (gồm 400 giáo trình bậc đại học, 350 giáo trình bậc trung cấp); trong đó có 17 giáo trình dùng chung cho trình độ đại học; 8 giáo trình dùng chung cho trình độ trung cấp được biên soạn, đưa vào sử dụng trong các trường CAND. Số lượng giáo viên đã tăng gấp 2,6 lần so với thời điểm năm 1986, tỉ lệ giảng viên, giáo viên có trình độ sau đại học tăng 26,8% so với năm 1986; đội ngũ nhà giáo được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn chức danh; toàn lực lượng có 20 giáo sư, 110 phó giáo sư, 281 giảng viên chính, 54 giáo viên cấp cao trung cấp chuyên nghiệp, 226 giáo viên chính trung cấp chuyên nghiệp.          

Công tác kế hoạch, tuyển sinh, bồi dưỡng nghiệp vụ được quan tâm đổi mới; cơ sở vật chất và điều kiện đảm bảo hoạt động dạy, học tăng cường đầu tư theo hướng đồng bộ, hiện đại. Việc quản lý, thực hiện các chỉ tiêu đào tạo ngày càng chủ động, được tổ chức hợp lý hơn, khắc phục sự mất cân đối về trình độ, ngành nghề giữa các lực lượng, các cấp công an và các vùng, miền trong cả nước. Bên cạnh việc đào tạo tập trung ở các trường CAND, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã phát triển và trở thành hoạt động thường xuyên của công an các đơn vị, địa phương. Công tác tuyển sinh đã có tính dài hạn, ổn định, nền nếp hơn.

Đến nay, các học viện, trường đều được phê duyệt quy hoạch tổng thể, từng bước đầu tư cơ sở vật chất theo quy mô, nhiệm vụ đào tạo. Một số trường được phê duyệt dự án, di dời địa điểm; một số trường được cấp đất mở rộng diện tích (T31, T32, T47, T33, T51); một số trường đã hoàn thành việc lập dự án xin chuyển đổi địa điểm (T34…). Đã đầu tư kinh phí cho việc hiện đại hóa phương tiện dạy học; nhiều công trình hiện đại, đồng bộ như ký túc xá, hệ thống phòng học chuyên dùng, khu thực hành, nhà đa năng, trường bắn, thư viện điện tử... đã được xây dựng phục vụ đắc lực cho công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên và các hoạt động học tập, rèn luyện của học viên.

Hợp tác quốc tế và hợp tác ngoài ngành về đào tạo được mở rộng, góp phần nâng cao vị thế của lực lượng CAND Việt Nam và của các trường CAND. Bộ Công an đã có nhiều hình thức hợp tác với các Bộ, ngành có liên quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Quốc phòng… Đã gửi hàng nghìn học viên đào tạo, bồi dưỡng tại các cơ sở đào tạo ngoài ngành, trong đó có hơn 3.539 học viên đào tạo đại học và sau đại học góp phần tạo nguồn đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật chất lượng cao cho lực lượng CAND. Hàng năm cũng tiếp nhận đào tạo hàng trăm cán bộ, học viên cho các ngành Nội chính, Tư pháp và Bộ Quốc phòng. Từ năm 1986 đến nay, đã gửi 10. 239 học viên và cán bộ công an các đơn vị, địa phương đi học tập, bồi dưỡng ở nước ngoài. Ngoài các đối tác truyền thống, như: Liên bang Nga và các nước Đông Âu, đã mở rộng đào tạo với các nước có nền tư pháp tiên tiến, như: Anh, Pháp, Australia, Hàn Quốc, Nhật Bản…, đã thiết lập quan hệ hợp tác với các quỹ học bổng, các dự án đào tạo quốc tế, như: Qũy học bổng của Chính phủ Australia vì sự phát triển của Việt Nam, Chương trình đào tạo thực thi pháp luật khu vực Châu Á - Thái Bình Dương …; thường xuyên tổ chức tốt các hội thảo quốc tế về giáo dục, đào tạo và phối hợp đấu tranh phòng, chống tội phạm, tích cực đưa các trường CAND hội nhập với các cơ sở đào tạo cảnh sát của các nước. Ngoài ra, các trường CAND còn thực hiện tốt nhiệm vụ quốc tế, đào tạo cho Bộ An ninh Lào, Bộ Nội vụ Campuchia.

2. Đánh giá chung

(1) Ưu điểm, thành tựu

- Công tác giáo dục, đào tạo trong CAND luôn bám sát các quan điểm, chủ trương chỉ đạo, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng lực lượng CAND trong từng thời kỳ; có sự phát triển liên tục, ngày càng mở rộng về quy mô, nâng cao về chất lượng, từng bước hòa nhập với tiến trình đổi mới chung của nền giáo dục quốc dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng Công an và đáp ứng nhu cầu của xã hội.

- Hệ thống các học viện, trường CAND có sự thay đổi mạnh mẽ, đáp ứng nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Công an các đơn vị, địa phương, trong từng giai đoạn cách mạng. Kế hoạch chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng được xây dựng theo hướng tăng dần và bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa chỉ tiêu đào tạo chính quy và không chính quy, từng bước tăng chỉ tiêu đào tạo, bồi dưỡng chức danh, bồi dưỡng thường xuyên, cập nhật kiến thức mới về nghiệp vụ, quản lý cho cán bộ, chiến sĩ.

- Nội dung chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy được đổi mới theo hướng nâng cao tính chủ động và năng lực tự học, tự nghiên cứu của học viên, bảo đảm khoa học và phù hợp với thực tiễn. Cơ cấu hệ thống ngành, nghề,các loại hình đào tạo, bồi dưỡng được hoàn thiện và mở rộng theo hướng đa dạng hóa, đáp ứng kịp thời yêu cầu công tác, chiến đấu.

- Hoạt động nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình đã có bước phát triển, góp phần hoàn thiện lý luận nghiệp vụ của Ngành. Đội ngũ giảng viên, giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục được tăng cường về số lượng, mặt bằng trình độ, năng lực và phương pháp sư phạm, đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn hóa chức danh. Chế độ, chính sách đối với giảng viên, giáo viên từng bước được quan tâm hoàn thiện.

- Chất lượng giáo dục, đào tạo được quản lý thông qua công tác kiểm định và theo chuẩn đầu ra đối với từng ngành, từng cấp trình độ đào tạo. Kết quả về mặt bằng trình độ của toàn lực lượng đã có bước phát triển vượt bậc: Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên đạt 49%; trình độ trung cấp đạt 42,01%, trình độ sơ học còn 1,93%. Tỷ lệ cán bộ chưa qua đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ giảm dần, đến nay còn 14,19%. Đặc biệt, đã quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo công an các cấp (từ cấp phường trở lên) đạt 100% trình độ đại học (năm 1986 mới có 12,4% đạt trình độ trung học và đại học).

(2) Hạn chế, thách thức

- Quy hoạch mạng lưới trường thiếu ổn định, chưa mang tính chiến lược, chưa có định hướng chung cho sự phát triển của cả hệ thống, gây lãng phí trong đầu tư. Việc đề xuất mở một số ngành, chuyên ngành chưa xuất phát từ cơ sở khoa học, chưa đảm bảo các điều kiện cần thiết theo quy định như: hệ thống chương trình, giáo trình và tài liệu dạy học, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục.

- Việc xác định nhiệm vụ đào tạo giữa các trường, các cấp học chưa rõ ràng, còn trùng dẫm; thời gian đào tạo chưa hợp lý, hiệu quả kinh tế trong đào tạo chưa cao; công tác tổ chức đào tạo còn khép kín, thiếu tính liên kết, liên thông giữa các cấp học, các hệ đào tạo và các trường trong toàn lực lượng.

- Công tác dự báo, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo dài hạn và trung hạn chưa khoa học, còn biểu hiện chạy theo mở rộng quy mô, tăng chỉ tiêu, đào tạo trong khi các điều kiện đảm bảo và năng lực của cơ sở đào tạo còn hạn chế, nhất là trong đào tạo sau đại học và các hệ vừa học vừa làm.

- Phương pháp dạy học có đổi mới, nhưng chưa thực sự đi vào chiều sâu; lý thuyết thiếu gắn kết với thực tiễn; chưa tạo được sự thay đổi đột phá về chất lượng, hiệu quả đào tạo. Chất lượng nghiên cứu, hiệu quả triển khai ứng dụng các đề tài nghiên cứu khoa học gắn với thực tiễn còn hạn chế. Mô hình quản lý học viên vẫn còn nửa hành chính, nửa vũ trang; học viên vi phạm kỷ luật còn nhiều, tính chất mức độ vi phạm còn phức tạp, một số hành vi vi phạm đặc biệt nghiêm trọng ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh lực lượng CAND.

Những tồn tại, hạn chế chủ yếu xuất phát nguyên nhân chủ quan: Sự lãnh đạo chỉ đạo của các cấp chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ của công tác giáo dục đào tạo. Nhận thức về nhiệm vụ công tác giáo dục đào tạo trong CAND của một bộ phận lãnh đạo, cán bộ chiến sĩ chưa đầy đủ, đúng đắn; còn tình trạng học vì bằng cấp, vì lên lương, vì tiêu chuẩn chức danh mà không nhằm mục đích nâng cao trình độ. Việc xây dựng quy hoạch, chiến lược giáo dục, đào tạo chưa thực sự gắn với yêu cầu nhiệm vụ và dự báo về chỉ tiêu biên chế, quy hoạch, cơ cấu trình độ, hướng bố trí, sử dụng cán bộ. Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý giáo dục chưa được đào tạo cơ bản về nghiệp vụ; các hoạt động định hướng, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và tư vấn tâm lý cho học viên các trường CAND chưa được quan tâm thực hiện. Cơ sở vật chất ở một số trường, chưa đáp ứng được nhu cầu giáo dục, đào tạo của lực lượng vũ trang, nhất là về nơi ở, nơi tập luyện thể chất, vui chơi giải trí.

3. Bối cảnh hiện nay tác động đến công tác giáo dục đào tạo trong Công an nhân dân

- Quá trình toàn cầu hóa làm cho quan hệ liên kết, trao đổi giữa các quốc gia, khu vực trên thế giới ngày càng gần gũi hơn, gia tăng không ngừng các mối quan hệ, sự hiểu biết lẫn nhau giữa các “công dân thế giới”, dẫn tới hình thành nền văn minh toàn cầu, tạo ra sự phụ thuộc qua lại không ngừng giữa các quốc gia, các cá nhân. Đó là xu thế tất yếu, giúp con người hiểu biết hơn về thế giới và những thách thức ở quy mô toàn cầu, dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với giáo dục và văn hóa.

- Quá trình hội nhập quốc tế đã vượt lên trên sự hợp tác quốc tế thông thường, đòi hỏi sự chia sẻ, tính kỷ luật cao. Các quốc gia tăng cường các hoạt động gắn kết dựa trên chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực và tuân thủ luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế và tổ chức quốc tế. Với tư cách là thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế WTO, ASEAN, APEC, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các cam kết và tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức này; đồng thời tích cực tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA), đã và đang thực hiện các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế với mức độ tự do hóa sâu rộng.

 - Lịch sử phát triển khoa học - công nghệ thế giới đang có bước phát triển mới về nhận thức và tư duy khoa học. Cách tiếp cận cơ giới (Mechanistic Approach) dần được thay thế bởi cách tiếp cận hệ thống (Systems Approach). Đó là việc xem xét các đối tượng, hiện tượng thuộc thế giới như là một tổng thể, một hệ thống nhất định, được cấu tạo từ các yếu tố liên kết với nhau theo các chức năng tương ứng. Trong giải quyết bất kỳ vấn đề nào cũng có thể xem xét như một đối tượng toàn thể, hệ thống tất cả các bộ phận tương tác lẫn nhau để xác định những đặc điểm, mối liên kết. Đây là lý thuyết, phương pháp tư duy được áp dụng để nâng cao hiệu quả quản lý, trong đó có quản lý giáo dục.

- Cuộc cách mạng khoa học công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra với quy mô và tốc độ phát triển cao, có sự hài hoà, tích hợp rất nhiều lĩnh vực, điển hình là công nghệ robot, công nghệ sinh học, sử dụng các chỉ số đánh giá chất lượng, đòi hỏi mỗi ngành, mỗi lĩnh vực, nhất là lĩnh vực giáo dục, đào tạo, phải nhanh chóng thích nghi.

- Tình hình chính trị - an ninh thế giới và khu vực tiếp tục có những diễn biến rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất trắc, khó lường. Các nguy cơ an ninh phi truyền thống, nhất là chiến tranh mạng, an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu gia tăng; tranh chấp chủ quyền ở biển Đông diễn biến phức tạp, đe dọa chủ quyền, lợi ích và an ninh quốc gia của các nước. Tình hình tội phạm diễn biến rất phức tạp, mỗi năm có hàng ngàn vụ giết người vì rất nhiều nguyên nhân, rất khó khăn trong phòng ngừa, ngăn chặn… đặt ra yêu cầu, đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ CAND, để đáp ứng nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự.

4. Những cơ hội, thách thức trong công tác giáo dục, đào tạo của Công an nhân dân

(1) Cơ hội: Quá trình toàn cầu hóa góp phần hiện đại hóa nền giáo dục, kết nối giáo dục Việt Nam, trong đó có giáo dục CAND với nền giáo dục thế giới, hướng tới những chuẩn mực chung, có tính chất toàn nhân loại, từ đó tạo nên những con người có tư duy toàn cầu, có khả năng hợp tác, làm việc trong môi trường quốc tế.

- Việc mở rộng quy mô đào tạo và sự phát triển hệ thống các cơ sở đào tạo trong CAND, cùng với đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế trên lĩnh vực đào tạo đã tăng cơ hội học tập cho cán bộ chiến sĩ CAND toàn diện hơn cả về pháp luật, chính trị, nghiệp vụ, các kiến thức, kỹ năng bổ trợ ở nhiều trình độ khác nhau; có điều kiện tiếp cận với văn hóa và các thành tựu khoa học, kỹ thuật của thế giới.

- Động cơ học tập của cán bộ chiến sĩ ngày càng đa dạng, sự phát triển đa dạng các loại hình đào tạo cả trong và ngoài lực lượng Công an làm tăng tính “cạnh tranh”, là yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.

(2) Thách thức: Giáo dục đào tạo nói chung, giáo dục, đào tạo trong CAND nói riêng còn nặng bệnh thành tích, bệnh bằng cấp, dẫn đến đánh giá thiếu thực chất. Chất lượng giáo dục đào tạo không chính quy còn thấp.

- Nhiều học viên tốt nghiệp thiếu kỹ năng ứng xử, văn hóa, năng lực ngoại ngữ, ứng dụng công nghệ thông tin thiếu tính chủ động sáng tạo. Chương trình giáo dục, đào tạo còn coi nhẹ thực hành, vận dụng kiến thức; phương pháp giáo dục, kiểm tra thi và đánh giá chất lượng lạc hậu, nhiều bất cập, thiếu gắn kết giữa đào tạo với nghiên cứu khoa học.

- Hệ thống giáo dục còn thiếu tính liên thông, kết nối giữa các trình độ đào tạo, các phương pháp giáo dục, chưa phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế. Chưa gắn đào tạo với sử dụng và nhu cầu của công tác công an. Chất lượng, tính thực tiễn của các đề tài nghiên cứu chưa cao.

- Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều bất cập. Cơ chế phân cấp trong quản lý giáo dục chưa thực sự phát huy tính năng động tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở đào tạo. Vẫn còn hiện tượng thiếu trung thực trong tuyển sinh,, thi cử, bằng cấp. Đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất tại một số cơ sở đào tạo chưa đáp ứng kịp quy mô đào tạo mở rộng và lưu lượng học viên.

5. Mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ tiếp tục đổi mới giáo dục, đào tạo trong Công an nhân dân

(1) Mục tiêu chiến lược trong giáo dục đào tạo: tiếp tục quy hoạch, xây dựng chiến lược đào tạo, cung cấp đủ nhân lực có chất lượng cao, tạo ra đội ngũ cán bộ có phẩm chất, năng lực, vững về chính trị, tinh thông về nghiệp vụ, nắm vững pháp luật, có kiến thức về khoa học kỹ thuật, ngoại ngữ và kỹ năng để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ANTT, bảo vệ ANQG, giữ gìn TTATXH, bắt nhịp được với đòi hỏi chung của đất nước và từng bước đáp ứng xu thế chung của khu vực, thế giới. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện; xác định quy mô ngành nghề, cấp trình độ đào tạo phù hợp với cơ cấu, hệ thống giáo dục quốc dân và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của ngành.

(2) Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với yêu cầu đảm bảo an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng CAND; phù hợp quy luật phát triển khách quan, những tiến bộ khoa học và công nghệ. Phát triển theo mục tiêu chất lượng, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục - đào tạo. Phát triển hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập suốt đời; xây dựng xã hội học tập; học đi đôi với hành; giáo dục, đào tạo gắn kết với công tác, chiến đấu; lý luận gắn với thực tiễn.

(3) Về nội dung, chương trình đào tạo, bồi dưỡng: Xác định hệ thống cấp học và trình độ đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hướng bố trí từng lực lượng ở từng cấp Công an. Phân định rõ nội dung kiến thức ở từng cấp, đảm bảo tính ổn định, liên thông giữa các cấp học, hệ học và quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực, trình độ của người học sau khi tốt nghiệp. Xác định danh mục ngành đào tạo trình độ sau đại học theo hướng nghiên cứu phát triển nhằm đào tạo cán bộ tham mưu, nghiên cứu chiến lược, tạo nguồn bổ nhiệm lãnh đạo chỉ huy và tuyển chọn làm giáo viên các trường CAND. Mở rộng và xác định danh mục ngành đào tạo trình độ đại học theo hướng nghề nghiệp ứng dụng, tạo nguồn bổ nhiệm chức danh nghiệp vụ bậc cao theo yêu cầu bố trí lực lượng và cung cấp nhân lực có chất lượng cao. Sớm triển khai một số môn khoa học về dự báo, tham mưu chiến lược, khoa học lãnh đạo, chỉ huy, an ninh phi truyền thống, an ninh thông tin, tội phạm mạng và tội phạm mới.

(4) Về phương pháp đào tạo: Công an các đơn vị, địa phương, các trường CAND chủ động nghiên cứu, xác định rõ phương pháp, biện pháp đào tạo và quản lý đạo tạo phù hợp. Trong đó cần kiên định mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, quán triệt, thực hiện tốt phương châm “học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, nhà trường gắn liền với xã hội”. Tăng cường phối hợp với các đơn vị nghiệp vụ Công an các tỉnh, thành phố trong giảng dạy, luyện tập, kiến tập, thực tập và giải quyết các bài tập tình huống nghiệp vụđể đào tạo sinh viên khi ra trường thích ứng với các nhiệm vụ được giao và phát triển tài năng. Hoàn thiện và triển khai cơ chế phối hợp giữa Công an các đơn vị, địa phương với các học viện, trường CAND trong công tác giáo dục, đào tạo. Tiếp tục thực hiện việc luân chuyển giảng viên về Công an các đơn vị, địa phương công tác có thời hạn 2-3 năm để tăng cường kinh nghiệm thực tiễn theo chủ trương của Bộ. Phải chú ý phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, giảng viên, thỉnh giảng (tại chỗ, tại các Trường và tại các đơn vị trong và ngoài ngành). Đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, hình thành và phát triển hệ thống lý luận nghiệp vụ CAND. Đặt người học vào vị trí trung tâm, phát huy tính năng động, sáng tạo của học viên, khuyến khích học viên tích cực nghiên cứu khoa học, tham gia giải quyết các vấn đề mà thực tiễn công tác, chiến đấu, xây dựng lực lượng đặt ra.

(5) Về các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo: cùng với nguồn kinh phí thường xuyên, cần khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội cho sự phát triển giáo dục, đào tạo trong CAND. Xác định các học viện, trường là đầu mối trang cấp thiết bị, phương tiện, vũ khí, công cụ hỗ trợ trong các đề án, dự án của các lực lượng nghiệp vụ, nhằm kịp thời trang bị những thiết bị, phương tiện kỹ thuật, vũ khí mới nhất vào phục vụ giảng dạy và huấn luyện./.

Thượng tướng, PGS.TS Nguyễn Văn Thành

Thứ trưởng Bộ Công an

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi