Chủ Nhật, 8/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Đặc điểm người bị hại trong các vụ phạm tội cưỡng đoạt tài sản dưới hình thức “Đòi nợ thuê”
Ổ nhóm tội phạm cờ bạc kiêm đòi nợ thuê do Phạm Văn Cương (Bắc Ninh) cầm đầu bị Cục C45 triệt phá trong năm 2012. Nguồn: Báo Điện tử Lao động

Dưới góc độ ngôn ngữ có thể hiểu người bị hại là con người cụ thể trong xã hội, chịu sự tác động tiêu cực của sự việc, hành vi hoặc bất kỳ sự tác động nào khác trái với ý muốn của người bị hại, bắt buộc họ phải tiếp nhận sự tác động đó một cách thụ động dẫn đến những thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất mà không cần phải giới hạn mức độ thiệt hại.

Dưới góc độ ngôn ngữ pháp lý thì người bị hại là “người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản do tội phạm gây ra. Người bị hại chỉ có thể là cá nhân… chứ không thể là pháp nhân” (Từ điển Giải thích thuật ngữ luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1999, tr. 198)

Để làm rõ khái niệm về người bị hại trong các vụ phạm tội cưỡng đoạt tài sản (CĐTS) dưới hình thức “đòi nợ thuê” cần tìm hiểu thế nào là “đòi nợ thuê”? “Đòi nợ thuê” được hiểu là hành vi của một người hay một nhóm người nhận tiền hay các giá trị khác từ người là chủ nợ để buộc người nợ (khách nợ) phải trả tiền hay tài sản có giá trị cho chủ nợ và người đòi nợ thuê không có quan hệ về tài sản với khách nợ. Trong những trường hợp người đòi nợ thuê có hành vi đe dọa dùng vũ lực; đe dọa hủy hoại tài sản, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật hoặc bí mật đời tư; có hành vi bịa đặt, vu khống trách nhiệm về tài sản hoặc có các thủ đoạn khác để buộc khách nợ phải trả tiền cho chủ nợ thì được coi là hành vi phạm tội CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê”.

Tại Khoản 1, Điều 135 của Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về tội phạm CĐTS như sau:

“Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm”.

Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu người bị hại trong các vụ phạm tội CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê” là những cá nhân có nghĩa vụ phải trả nợ, bị chủ nợ thuê, ủy quyền cho cá nhân hoặc tổ chức khác đòi nợ bằng những hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc bằng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần làm cho người có nghĩa vụ trả nợ phải miễn cưỡng trao một phần hoặc toàn bộ tài sản để qua đó chiếm đoạt một phần tài sản theo hợp đồng với chủ nợ..

Từ năm 2006 đến tháng 6/2013, toàn quốc đã xảy ra 3.932 vụ CĐTS, trong đó có khoảng gần 600 vụ được thực hiện dưới hình thức “đòi nợ thuê”.

Qua nghiên cứu, phân tích về tội phạm CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê”, có thể rút ra một số đặc điểm về người bị hại như sau:

Thứ nhất, giữa người bị hại (khách nợ) và người thuê đòi nợ (chủ nợ) có mối quan hệ về tài sản. Người bị hại có thể là người vay tiền, người nhận vốn góp cổ phần, người thuê tài sản,... của người khác. Những mối quan hệ tài sản này có thể được chứng minh bằng các giao dịch dân sự dưới hình thức bằng văn bản hoặc không có văn bản, đối với trường hợp có văn bản có thể là văn bản có hoặc không có chứng thực, công chứng, như giấy vay nợ tiền viết tay. Trường hợp các giao dịch dân sự bị vô hiệu hoặc bị phát sinh, hủy bỏ hoặc chấm dứt thì giữa chủ nợ và khách nợ có thể phát sinh các mâu thuẫn trong việc đảm bảo khả năng trả nợ, thời gian trả nợ, cũng như giá trị tài sản được trả. Đây cũng chính là một trong các nguyên nhân có thể phát sinh các vụ việc CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê”, bởi chủ nợ không tìm được hoặc không muốn tìm kiếm những công cụ pháp lý để giải quyết những mâu thuẫn về tài sản mà hai bên đang có. Do đó, một số chủ nợ lựa chọn giải pháp là thuê người khác với mục đích giúp chủ nợ đòi nợ từ khách nợ.

Thứ hai, giữa người bị hại và người được thuê đòi nợ không có mối quan hệ về tài sản, đây là dấu hiệu quan trọng cho việc xác định có hay không xảy ra hành vi “đòi nợ thuê”. Các đối tượng đó bằng các thủ đoạn khác nhau sẽ dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần buộc người bị hại phải trả một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản đó, một phần để trả cho chủ nợ và một phần tài sản bị giữ lại theo thỏa thuận từ trước.

Thứ ba, nguyên nhân dẫn đến việc người chủ nợ thuê người khác đòi nợ là do người bị hại không thực hiện (do cố ý hoặc không có khả năng) trách nhiệm tài chính đối với chủ nợ như chậm trả gốc và lãi... Hiện nay, tình trạng trên đang trở nên phổ biến khi tình hình kinh tế - xã hội trong nước và khu vực vài năm trở lại đây có nhiều biến động, khó khăn, tác động tới các thành phần kinh tế, trong đó có thành phần tư nhân vốn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro. Các doanh nghiệp tư nhân hoặc các hộ kinh doanh cá thể ngoài việc huy động vốn từ ngân hàng thì còn huy động từ nguồn khác với nhiều mức lãi suất khác nhau. Hình thức của những kiểu vay như vậy rất đa dạng, từ những giao dịch có hợp đồng đến những khoản vay chỉ có giấy tờ viết tay giữa hai bên. Khi tình hình kinh doanh gặp nhiều khó khăn, làm ăn thua lỗ, mất khả năng thanh khoản, nhiều doanh nghiệp bị giải thể, tuyên bố phá sản, “vỡ nợ”… thì các chủ nợ tìm mọi cách nhằm thu hồi tài sản đã cho vay, góp vốn.

Thứ tư, về tâm lý của người bị hại, đối tượng “đòi nợ thuê” có thời gian nhất định để tìm hiểu và dựa vào các yếu tố tâm lý của người bị hại như để người bị hại buộc phải lựa chọn: hoặc là phải trả nợ hoặc là phải chịu tổn thất về mặt vật chất (tiền, tài sản có giá trị, sức khỏe) hoặc tinh thần (bị đe dọa, quấy rối, khủng bố tinh thần….), và đa số những người bị hại buộc phải lựa chọn, phải miễn cưỡng trao tài sản cho các đối tượng “đòi nợ thuê”. Sau khi nhận “hợp đồng đòi nợ thuê”, các đối tượng sẽ dành thời gian nghiên cứu, tìm hiểu kỹ các thông tin về khách nợ, như mối quan hệ gia đình, những nơi thường xuyên có mặt, khả năng trả nợ… để tính toán dùng các thủ đoạn đòi nợ nào cho phù hợp. Thông thường, các đối tượng sẽ uy hiếp, “khủng bố” tinh thần của khách nợ, nhắn tin, gọi điện thoại đe dọa bắt cóc, gây thương tích cho người thân, ném chất bẩn vào nhà, đặt vòng hoa trước cửa nhà… làm cho người bị hại rơi vào trạng thái hoảng loạn, lo lắng trước những đe dọa nên buộc phải tìm mọi cách để có đủ số tài sản như yêu cầu của các đối tượng.

Để góp phần phòng ngừa, ngăn chặn những vụ việc cưỡng đoạt dưới hình thức “đòi nợ thuê”, tác giả có một số khuyến nghị sau:

Một là, hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh lĩnh vực kinh doanh dịch vụ đòi nợ và đặt dưới sự quản lý của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Dịch vụ đòi nợ là hoạt động dịch vụ nảy sinh trong nền kinh tế thị trường, xuất phát từ một bên vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong các quan hệ giao dịch dân sự - kinh doanh thương mại. Hiện nay, dịch vụ kinh doanh đòi nợ được điều chỉnh bởi Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/6/2007 của Chính phủ quy định về kinh doanh dịch vụ đòi nợ. Sau khi Nghị định này có hiệu lực, tại nhiều địa phương có nhiều công ty đòi nợ được thành lập. Bên cạnh các doanh nghiệp kinh doanh loại hình dịch vụ này hoạt động có uy tín, thực hiện đúng quy định của pháp luật, vẫn còn nhiều trường hợp biến tướng, có những hành vi vượt quá khuôn khổ pháp luật, tự ý có các biện pháp xử lý tranh chấp, vi phạm nghiêm trọng các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, dẫn đến những hậu quả đáng tiếc như các hành vi CĐTS, bắt giữ người trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng…

Thực tế trên một phần là do chưa có hành lang pháp lý cụ thể, rõ ràng, một số quy định còn dẫn tới cách hiểu, nhận thức sai, vận dụng không đúng. Ví dụ, tại Khoản 3, Điều 4 của Nghị định số 104/2007/NĐ-CP thì “Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ chỉ được thực hiện các biện pháp xử lý nợ phù hợp với quy định của pháp luật”. Nhưng “biện pháp xử lý nợ” ở đây là những biện pháp nào thì chưa có hướng dẫn chi tiết, cụ thể. Do vậy, một số doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ tự cho mình các quyền như: đe dọa dùng vũ lực; bao vây, phong tỏa nơi ở, nơi làm việc của khách nợ; hoặc dùng các cách khác nhau để gây áp lực, buộc khách nợ lo sợ mà phải thanh toán các khoản nợ.

Vì vậy, trong thời gian tới, cần thiết phải có những điều chỉnh để hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm hướng hoạt động kinh doanh dịch vụ đòi nợ, đáp ứng đầy đủ các điều kiện về an ninh trật tự. Đồng thời, nhằm đưa hoạt động này đặt dưới sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, kịp thời phát hiện các sai phạm trong quá trình kinh doanh dịch vụ đòi nợ, kiềm chế sự gia tăng dịch vụ “đòi nợ thuê” của các cá nhân, tổ chức, các băng, nhóm tội phạm, ngăn ngừa những hậu quả đáng tiếc có thể xảy ra.

Hai là, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật sâu, rộng dưới nhiều hình thức khác nhau, đến với các tầng lớp nhân dân, nhất là những người đang có mâu thuẫn về tài sản để có nhận thức đầy đủ về những quy định của pháp luật đối với các trường hợp phát sinh các giao dịch dân sự.

Xuất phát từ thực tế tình hình kinh tế - xã hội thời gian qua có nhiều khó khăn, nhiều chủ nợ tìm mọi cách thu hồi các khoản nợ, trong đó không ít người đã tìm đến các đối tượng làm dịch vụ “đòi nợ thuê” nhằm sớm thu hồi được tài sản. Trong khi đó, nhiều người lại có thái độ không thực sự tin tưởng vào hệ thống các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, như: lo ngại thời gian giải quyết lâu, nhiều thủ tục “rườm rà”, cơ sở pháp lý của giao dịch dân sự không cao, không đòi được nhiều tài sản như mong muốn của chủ nợ…

Do đó, lực lượng Cảnh sát nhân dân (CSND) và các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác tuyên truyền, giúp người dân nhận thức được các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết, thanh toán các khoản nợ bằng những công cụ pháp lý hữu hiệu nhất. Điều này không chỉ giúp những người có tài sản thu hồi được những khoản cho vay, mượn mà còn góp phần phòng ngừa, ngăn chặn những vụ việc liên quan đến dịch vụ “đòi nợ thuê”, hạn chế được những hậu quả khôn lường từ những hành vi vi phạm pháp luật như: giết người, bắt giữ người trái pháp luật, cố ý gây thương tích, CĐTS… do các đối tượng “đòi nợ thuê” hoặc do chính chủ nợ hoặc khách nợ gây ra như trong thời gian vừa qua, góp phần đảm bảo trật tự, an toàn xã hội.

Ba là, lực lượng CSND tiếp tục tăng cường, thực hiện có hiệu quả các công tác nghiệp vụ cơ bản theo tinh thần Chỉ thị số 02/CT-BCA-C41 ngày 01/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an.

Trước hết, lực lượng CSND cần thực hiện có hiệu quả công tác điều tra cơ bản, nắm vững tình hình các tuyến, địa bàn, hệ loại đối tượng, qua đó có cơ sở để xác định các tuyến, địa bàn trọng điểm liên quan đến các đối tượng tham gia CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê”, đặc biệt là xác định rõ những băng, ổ, nhóm chuyên thực hiện hoạt động “đòi nợ thuê” theo kiểu “xã hội đen”.

Đồng thời, lực lượng CSND các cấp cần thực hiện có chất lượng, hiệu quả, có chiều sâu công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi một cách thường xuyên, liên tục, có trọng tâm, trọng điểm nhằm kịp thời phát hiện các tài liệu phản ánh về điều kiện, khả năng hoặc biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội của các loại đối tượng, nhất là các đối tượng có biểu hiện câu kết hình thành băng, nhóm CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê” nhằm chủ động áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết phục vụ công tác phòng ngừa, ngăn chặn, không để tội phạm xảy ra.

Công tác đấu tranh chuyên án của lực lượng CSND cũng cần tiếp tục tập trung đấu tranh, triệt phá các đường dây, tổ chức tội phạm, các băng, nhóm có nghi vấn thực hiện các vụ CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê” có tính chất rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, liên quan đến nhiều địa phương, nhằm tập trung phối hợp nhiều lực lượng, sử dụng tổng hợp, đồng bộ các biện pháp, phương tiện kỹ thuật, chiến thuật nghiệp vụ để đấu tranh, tấn công, trấn áp tội phạm CĐTS dưới hình thức “đòi nợ thuê” một cách triệt để, có hiệu quả.

Công tác xây dựng và sử dụng cộng tác viên bí mật cũng cần có kế hoạch phù hợp với nội dung, nhiệm vụ đấu tranh cũng như tình hình tội phạm CĐTS trên từng tuyến, địa bàn cụ thể, đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng cộng tác viên bí mật, có khả năng quán xuyến tốt địa bàn, kịp thời cung cấp các thông tin, tài liệu cho lực lượng trinh sát, phản ánh về các đối tượng có liên quan đến tội phạm CĐTS, nhất là dưới hình thức “đòi nợ thuê”, giúp cho các lực lượng nghiệp vụ kịp thời có biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn hậu quả do tội phạm gây ra.

Trần Văn Hậu - Học viên cao học, Học viện CSND

Tạp chí Cảnh sát nhân dân số 10/2014

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác