Thứ Ba, 16/10/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong phòng ngừa, điều tra tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Nghiên cứu thực tiễn công tác điều tra tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ở Việt Nam trong những năm gần đây cho thấy, tình hình tội phạm diễn ra ngày càng phức tạp, nghiêm trọng với những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt. Hầu hết các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng xảy ra đều liên quan đến lĩnh vực ngân hàng. Địa bàn xảy ra chủ yếu tại 2 thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh; tập trung ở một số ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng nông nghiệp, ngân hàng phát triển. Điển hình như một số vụ án sau:

"Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" và "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" xảy ra tại Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Bank). Theo kết quả điều tra của Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an, Ngân hàng Đông Á có vốn điều lệ 5.000 tỉ đồng, trong đó nhóm cổ đông do ông Trần Phương Bình đại diện nắm giữ 10,25% vốn điều lệ và nhóm cổ đông PNJ (do vợ ông Bình làm chủ tịch HĐQT) nắm giữ 7,7% vốn điều lệ.

Năm 2013 ông Trần Phương Bình đã chỉ đạo cấp dưới xuất quỹ chi sai nguyên tắc 1.200 tỷ đồng để mua 74 triệu cổ phần của Đông Á, chi 295 tỷ đồng mua gần 14 triệu USD, 309 tỷ đồng để sử dụng cá nhân. Đây là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản .

Cũng theo Cơ quan điều tra, ông Bình còn chỉ đạo cấp dưới xuất quỹ chi sai nguyên tắc hơn 460 tỷ đồng để chi lãi suất ngoài, chi gần 86 tỷ đồng để tất toán một khoản vay của Nguyễn Hồng Ánh (cựu cán bộ Công an thành phố Hồ Chí Minh), xuất khẩu vàng trái phép gây thiệt hại hơn 600 tỷ đồng, kinh doanh ngoại hối trái phép gây thiệt hại 385 tỷ đồng và sử dụng gần 50 tỷ đồng cho mục đích khác. Tổng cộng, ông bị cáo buộc gây thiệt hại 1.650 tỷ đồng cho Đông Á, có dấu hiệu phạm tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.

Hành vi của ông Bình và đồng phạm đã khiến DongA Bank lỗ lũy kế 31.076 tỉ đồng; đến năm 2015 vốn chủ sở hữu âm hơn 25.451 tỉ đồng khiến làm cho tổng tài sản thực chỉ còn 47.011 tỉ đồng.

Vụ án “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Tín.

Theo kết quả điều tra, lợi dụng là cổ đông lớn (nắm giữ 84,92% vốn điều lệ Ngân hàng Đại Tín) và giữ chức vụ cố vấn cao cấp, bà Hứa Thị Phấn đã chỉ đạo Công ty TrustAsset của Ngân hàng Đại Tín (không có chức năng thẩm định giá) thẩm định giá, nâng khống giá trị căn nhà số 5 Phạm Ngọc Thạch (Quận 3, thành phố Hồ Chí Minh) thuộc sở hữu của bà Phấn lên 1.268 tỷ đồng, cao gấp tám lần giá thị trường. Sau đó, bà Phấn chỉ đạo việc mua bán lòng vòng căn nhà này, rồi bán cho Ngân hàng Đại Tín, chiếm đoạt và gây thiệt hại hơn 1.105 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, bà Phấn còn chỉ đạo lãnh đạo và cán bộ của Ngân hàng Đại Tín - Chi nhánh Lam Giang và Chi nhánh Sài Gòn thực hiện các hành vi trái pháp luật trong việc lập và hoạch toán chứng từ thu, chi khống không sử dụng tiền mặt; thực hiện giao dịch, hạch toán khống trên hệ thống SmartBank, sau đó mới lấy chữ ký khách hàng để hoàn thiện thủ tục. Từ đây, bà Hứa Thị Phấn đã lấy được tiền của ngân hàng và sử dụng, gây thiệt hại cho Ngân hàng Đại Tín hơn 5.256 tỷ đồng. Tổng số tiền mà Ngân hàng Đại Tín bị thiệt hại do những hành vi sai phạm của bà Phấn là 6.300 tỷ đồng.

Trước tính chất phức tạp của loại tội phạm này, để nâng cao hiệu quả công tác điều tra, xử lý, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng cần tổ chức, tiến hành những hoạt động đấu tranh chống tội phạm đi vào chiều sâu với tính chuyên môn hóa cao, đồng thời cần tăng cường sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa các lực lượng tham gia điều tra. Theo đó, mỗi lực lượng làm công tác nghiệp vụ với chức năng, nhiệm vụ cụ thể khác nhau có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra nhằm đạt mục đích chung là nhanh chóng thu thập những thông tin, tài liệu, chứng cứ để chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội, làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Tuy nhiên, thực tiễn hoạt động điều tra cho thấy, quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng và các lực lượng khác trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn nhiều bất cập, thiếu sót. Nhiều vụ án bị chậm trễ, kéo dài do quan hệ phối hợp trong công tác thu thập thông tin, tài liệu, chứng cứ về vụ án không kịp thời, hoạt động phối hợp giữa các lực lượng chồng chéo, không thống nhất, một số trường hợp ĐTV chủ trì quan hệ phối hợp thể hiện thái độ nóng vội, thiếu chuyên nghiệp, hoặc chậm trễ, thiếu chủ động trong tổ chức và thực hiện các nội dung quan hệ phối hợp khi tiến hành các biện pháp điều tra, các biện pháp nghiệp vụ trinh sát… Nhiều tình huống điều tra, các đơn vị tham gia phối hợp chưa có cơ chế phối hợp, cơ chế trao đổi thông tin và thống nhất về phương án, biện pháp, phương tiện, lực lượng tham gia để giải quyết nhanh chóng yêu cầu, nhiệm vụ của tình huống điều tra đó, gây ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động điều tra làm rõ vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản… Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu, tổng kết nhằm đánh giá những kết quả thu được, những sai lầm, thiếu sót, bất cập về vấn đề quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa được quan tâm, chú ý. Vì vậy, những hạn chế, thiếu sót đó tiếp tục tồn tại và không được khắc phục kịp thời. Những hạn chế, thiếu sót này là một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ điều tra khám phá các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

Để góp phần nâng cao hiệu quả việc thực hiện quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể như sau:

Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật quy định quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra vụ án lạm dụng chiếm đoạt tài sản

Thực tế hiện nay cho thấy hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản còn có những khiếm khuyết nhất định, chưa có văn bản pháp luật quy định riêng về quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra vụ án này. Chính vì vậy, để nâng cao hiệu quả phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, trong thời gian tới, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng cần nhanh chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh quan hệ phối hợp giữa với các lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Thứ hai, nâng cao trách nhiệm của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng và các lực lượng nghiệp vụ khác khi tham gia phối hợp điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Tinh thần, trách nhiệm trong công việc của các lực lượng nghiệp vụ tham gia phối hợp là động lực thúc đẩy các lực lượng chủ động triển khai lực lượng, phương tiện kỹ thuật tham gia vào công tác phối hợp điều tra các vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản khi có yêu cầu của lực lượng cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng.

Để nâng cao trách nhiệm của các lực lượng tham gia phối hợp điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì trước hết, lực lượng Cảnh sát kinh tế và tham nhũng cần thực hiện tốt vai trò điều hành, chỉ đạo. Mặt khác, để triển khai các hoạt động phối hợp lực lượng này cần phải có kế hoạch tỉ mỉ, chính xác, phù hợp với tình huống điều tra và điều kiện, khả năng của các lực lượng tham gia phối hợp. Trên cơ sở các yêu cầu, kế hoạch phân công nhiệm vụ cụ thể của lực lượng Cảnh sát kinh tế và tham nhũng, các lực lượng khác tham gia phối hợp cần chủ động, tập trung lực lượng thực hiện các nhiệm vụ được phân công theo đúng hoặc trước thời hạn được giao.

Thứ ba, xây dựng cơ chế phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong hoạt động điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Xây dựng được cơ chế phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có ý nghĩa rất quan trọng. Đây là cơ sở để triển khai các hoạt động phối hợp một cách chủ động, thống nhất, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong quá trình điều tra vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, hiện nay vấn đề xây dựng cơ chế phối hợp mới chỉ dừng lại ở những quan điểm, định hướng chung nhất, chưa có những định hình rõ nét về phương thức vận hành quan hệ phối hợp trên. Vì vậy, trong thời gian tới cần thiết phải xây dựng cơ chế phối hợp bằng văn bản, có sự ký kết, ràng buộc trách nhiệm giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với lực lượng nghiệp vụ khác trong điều tra vụ án hình sự nói chung, vụ án lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng. Việc xây dựng được cơ chế phối hợp sẽ là cơ sở để tiến hành hoạt động phối hợp giữa các lực lượng nghiệp vụ một cách hiệu quả.

Thứ tư, tăng cường sự chỉ đạo và kiểm tra giám sát của lãnh đạo các đơn vị tham gia phối hợp

Vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đôn đốc của lãnh đạo tham gia phối hợp giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Bởi vì, sự chỉ huy, chỉ đạo kịp thời và thường xuyên là yếu tố quan trọng để mỗi lực lượng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, nâng cao tinh thần trách nhiệm, nâng cao năng lực nghiệp vụ trong quan hệ phối hợp, từ phát hiện, trao đổi cung cấp thông tin đến tiến hành các hoạt động điều tra và hoạt động nghiệp vụ trinh sát hỗ trợ làm rõ vụ án. Thực tế cho thấy, sự phối hợp giữa các lực lượng khi có sự chỉ huy, chỉ đạo của lãnh đạo các đơn vị nghiệp vụ và của Trưởng ban chuyên án (hoặc Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan Cảnh sát điều tra), thì hoạt động phát hiện, điều tra, các lực lượng luôn có sự phối hợp nhịp nhàng, mỗi cán bộ đều phát huy được khả năng nghiệp vụ riêng của mình trong phát hiện, điều tra khám phá vụ án. Ngược lại, nếu không có sự chỉ huy, chỉ đạo hoặc sự chỉ huy, chỉ đạo không thường xuyên, kịp thời sẽ dẫn đến hiện tượng "mạnh ai nấy làm" các lực lượng tham gia phối hợp cùng lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng trong các trường hợp này chỉ tham gia cho đủ thành phần mà ít phát huy được hiệu quả công tác của mình trong chặn dừng đuổi bắt đối tượng, cũng như trong cung cấp, trao đổi thông tin để phục vụ cho các yêu cầu: Hỏi cung bị can, đối chất, nhận dạng hoặc kiểm tra xác minh... làm hạn chế rất lớn đến kết quả điều tra, khám phá vụ án.

Trên đây là một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả quan hệ phối hợp giữa lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và tham nhũng với các lực lượng nghiệp vụ khác trong hoạt động điều tra vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực ngân hàng.

Đại úy, ThS. Đặng Thái

Phó Trưởng Phòng Quản lý học viên, Học viện CSND

Thượng úy, Ths. Hoàng Văn Luân

Khoa Cảnh sát điều tra, Học viện CSND

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi