Thứ Ba, 11/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nghiên cứu đặc điểm tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường tại các khu công nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tuy nhiên, sự phát triển công nghiệp và đô thị quá nhanh, quá nóng nhưng quy hoạch đô thị, KCN thực hiện chưa đồng bộ, chưa sát với thực tế; một số KCN chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, không đáp ứng được yêu cầu, đã tác động làm cho môi trường đang bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng. Trong những năm qua, tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường nói chung và tội phạm, vi phạm pháp luật (VPPL) về môi trường tại KCN nói riêng trên địa bàn thành phố Hà Nội đang diễn ra hết sức phức tạp và có chiều hướng gia tăng, các hành vi VPPL về môi trường xảy ra phổ biến tại các KCN chủ yếu là các hành vi vi phạm các quy định về xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn... có nhiều yếu tố tiềm ẩn đe doạ đến sự ổn định và phát triển của môi trường các KCN trên địa bàn Thủ đô. Theo thống kê từ năm 2014 đến hết tháng 6/2018, lực lượng Cảnh sát môi trường, Công an thành phố Hà Nội đã phát hiện, xử lý 23.291 vụ VPPL về môi trường, trong đó có 1.741 vụ xảy ra tại KCN chiếm 7.47%.

Nghiên cứu các vụ VPPL về môi trường tại các KCN do lực lượng Cảnh sát môi trường, Công an thành phố Hà Nội phát hiện, xử lý từ năm 2014 đến tháng 6/2018, có thể rút ra các đặc điểm của tội phạm này như sau:

Thứ nhất, đặc điểm về chủ thể vi phạm.

Qua phân tích các vụ VPPL về môi trường tại các KCN cho thấy chủ thể vi phạm bao gồm các cá nhân, các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong và ngoài nước. Thành phần các doanh nghiệp, cá nhân vi phạm rất đa dạng nhưng chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam, tập trung ở các lĩnh vực, ngành nghề: Thu gom, xử lý chất thải; sản xuất vật liệu xây dựng; gia công cơ khí; mạ kim loại; lắp ráp thiết bị điện tử. Chủ thể vi phạm là các cá nhân thường là người đứng đầu các doanh nghiệp, người trực tiếp làm công tác bảo vệ môi trường (BVMT) tại các doanh nghiệp như: Kỹ sư phụ trách hệ thống xử lý nước thải, công nhân vận hành hệ thống xử lý nước thải, thu gom, vận chuyển chất thải...

Lỗi của các chủ thể vi phạm vi phạm đều là lỗi cố ý. Các chủ thể đều biết các quy định của pháp luật về BVMT nhưng vì nhiều lý do khác nhau nên cố ý thực hiện hành vi. Điều này xuất phát từ động cơ mục đích vi phạm đó là muốn đạt lợi nhuận tối đa trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh. Để thực hiện các quy định của pháp luật về BVMT, các doanh nghiệp phải chi trả khoản kinh phí tương đối lớn, tùy vào từng nội dung phần việc mà có định mức cụ thể như: Chi phí thuê tư vấn, lập đề án BVMT; chi phí vận hành hệ thống xử lý nước thải (tiền điện, hóa chất, trả công cho công nhân...); chi phí để thuê quan trắc, giám sát môi trường định kỳ... Tất cả chi phí này đều làm giảm lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, chế biến thực phẩm, việc nhập nguyên liệu, phụ gia không rõ nguồn gốc (không có hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc xuất xứ) luôn rẻ hơn so với việc nhập nguyên liệu, phụ gia có đầy đủ hóa đơn. Do đó, các doanh nghiệp, cá nhân luôn tìm cách hạn chế tối đa việc thực hiện các quy định về BVMT để hạn chế các chi phí nhằm đạt lợi nhuận cao nhất.

Thứ hai, đặc điểm về hành vi vi phạm

Nhìn chung, các vi phạm tại KCN đều xảy ra ở hầu hết tất cả các hành vi thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về BVMT. Các hành vi vi phạm chủ yếu tại các KCN là:

+ Vi phạm các quy định về thủ tục BVMT: Không lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường (TĐMT), Cam kết BVMT; không lập hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại (CTNH); không thực hiện giám sát môi trường định kỳ;

+ Lĩnh vực thu gom, xử lý CTNH: Chuyển giao CTNH cho các tổ chức, cá nhân không có chức năng vận chuyển, xử lý CTNH;

+ Lĩnh vực thu gom, xử lý chất thải: Chôn, lấp, đốt chất thải rắn, CTNH tại khuôn viên của công ty; vi phạm các quy định về xả nước thải: Xả nước thải vượt quy chuẩn ra môi trường; xả nước thải không qua xử lý ra môi trường. 

Thứ ba, đặc điểm về hậu quả.

Hậu quả của hành vi VPPL gây ra là những thiệt hại về vật chất và tinh thần cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân. Thiệt hại gây ra được thể hiện ở sự biến đổi tình trạng bình thường do các bộ phận cấu thành quan hệ xã hội là khách thể của hành vi vi phạm. Hậu quả trực tiếp của VPPL về môi trường bao gồm hiệu quả hoạt động quản lý của nhà nước bị xâm phạm và tình trạng môi trường bị thay đổi (ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên...).

Qua phân tích các vụ VPPL về môi trường đã xảy ra cho thấy, hậu quả do các VPPL về môi trường tại các KCN gây ra chủ yếu là:

+ Làm giảm hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về BVMT của các cơ quan chức năng trên địa bàn thành phố.

Hoạt động quản lý nhà nước về BVMT chủ yếu được thực hiện qua các hoạt động cấp phép về môi trường và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm. Thông qua cấp phép về môi trường, cơ quan chức năng nắm được tình hình hoạt động sản xuất, phát sinh chất thải, các biện pháp BVMT của doanh nghiệp. Căn cứ vào hồ sơ được cấp phép về môi trường của doanh nghiệp là cơ sở cho hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm của các cơ quan chức năng. Khi doanh nghiệp không thực hiện: Lập Báo cáo TĐMT; lập hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải CTNH; thực hiện giám sát môi trường định kỳ... đã gây khó khăn cho cơ quan chức năng, làm giảm hiệu quả của hoạt động quản lý nhà nước về BVMT.

+ Gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí cục bộ và môi trường nói chung, ảnh hưởng đến sức khỏe của công nhân, người dân sống xung quanh các KCN.

Các hành vi vi phạm về thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải trực tiếp hoặc gián tiếp gây tác động tiêu cực đến môi trường, làm ô nhiễm môi trường. Ô nhiễm môi trường gây hậu quả ngay trực tiếp đến sức khỏe người dân, hủy hoại tài nguyên, làm mất cân bằng hệ sinh thái, điển hình là hậu quả gây ra bởi hành vi xả nước thải làm ô nhiễm nguồn nước mặt các con sông, nguồn nước ngầm; hành vi xả khí bụi gây ô nhiễm không khí; hành vi đổ rác thải bừa bãi gây ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất; gây ra các bệnh ngoài da, bệnh về đường hô hấp cho con người... Ô nhiễm môi trường không chỉ gây hậu quả trước mắt mà còn tích tụ lâu dài ảnh hưởng đến cân bằng hệ sinh thái, làm mất đi nguồn đa dạng sinh học, gây ra các bệnh nan y ở con người như ung thư, bệnh phổi... Hậu quả của VPPL về môi trường tại các KCN không chỉ tác động môi trường trong KCN mà còn lan tỏa, gây hậu quả cho cả môi trường ngoài KCN, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người dân sống xung quanh các KCN.

Thứ tư, đặc điểm về phương thức, thủ đoạn hoạt động.

+ Lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý nhà nước về lập báo cáo TĐMT, cam kết BVMT để vi phạm.

Theo quy định tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá TĐMT, cam kết BVMT thì việc lập báo cáo TĐMT phải được thực hiện đồng thời với thời điểm lập dự án đầu tư. Tuy nhiên, công tác quản lý nhà nước về phê duyệt báo cáo TĐMT, cam kết BVMT; về phê duyệt dự án đầu tư và cấp giấy phép đầu tư; về cấp giấy phép xây dựng lại thuộc trách nhiệm của nhiều cơ quan khác nhau (Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Xây dựng...). Do vậy, nhiều KCN được xây dựng, đã đi vào hoạt động nhưng vẫn không thực hiện lập báo cáo TĐMT mà các cơ quan quản lý nhà nước không phát hiện, xử lý. Khi có cơ quan chức năng thanh tra, kiểm tra thì tìm mọi các lý do như: Không được cơ quan chức năng hướng dẫn; do doanh nghiệp khó khăn về tài chính; chưa tìm được cơ quan tư vấn về môi trường để ký hợp đồng; chỉ ký hợp đồng nguyên tắc mà không thực hiện các bước tiếp theo.

+ Có xây dựng hệ thống xử lý nhưng không theo đúng nội dung trong Báo cáo TĐMT để giảm chi phí đầu tư. Việc xây dựng hệ thống xử lý nước thải theo đúng thiết kế hoặc nội dung trong báo cáo TĐMT đã được phê duyệt sẽ mất chi phi rất lớn. Để giảm thiểu chi phí đầu tư, một số doanh nghiệp cắt giảm một hoặc một vài hạng mục trong thiết kế như: Giảm diện tích bể lắng sau xử lý dẫn đến không đảm bảo thời gian lắng nên nước chảy tràn ra môi trường; không lắp đặt hệ thống phun nước mưa trong ống dẫn khí do đó không lắng đọng hết hợp chất của lưu huỳnh trong khí thải, gây ô nhiễm môi trường.

 + Không vận hành hoặc vận hành không thường xuyên hệ thống xử lý chất thải. Nhiều trường hợp, việc xây dựng hệ thống xử lý chất thải chỉ mang tính hình thức, đối phó với cơ quan chức năng còn trên thực tế thì không vận hành hoặc vận hành không thường xuyên để giảm chi phí phát sinh trong quá trình vận hành.

+ Tuy đã đấu nối vào hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, nhưng các doanh nghiệp trong KCN vẫn lắp đặt các đường ống ngầm để xả nước thải không qua xử lý ra đường thoát nước mặt của KCN nhằm trốn tránh chi phí xử lý, như vụ Công ty TNHH Armstrong Components Parts Việt Nam tại KCN Nội Bài - Hà Nội hay các doanh nghiệp tại KCN Quang Minh 1 xả nước thải chưa qua xử lý ra hệ thống mương tưới tiêu thủy lợi gây ô nhiễm nghiêm trọng.

+ Các doanh nghiệp trong KCN phát sinh một lượng lớn CTNH, tuy nhiên, không phân loại mà để lẫn CTNH với các loại chất thải khác, để khi xử lý chất thải thông thường thì xử lý cả CTNH như chất thải thông thường (thực tế giá thuê xử lý chất thải thông thường rẻ hơn rất nhiều so với giá thuê xử lý CTNH) đã vi phạm các quy định về quản lý CTNH. Ngoài ra, các đối tượng còn sử dụng thủ đoạn ký hợp đồng với các công ty vận chuyển, xử lý CTNH để đối phó với cơ quan chức năng nhưng không chuyển giao mà tự xử lý bằng cách chôn, đốt. Điển hình như Công ty TNHH FCC Việt Nam tại KCN Thăng Long chuyển giao hàng chục tấn chất thải nguy hại (thép dính dầu) cho Công ty TNHH Minh Tâm là đơn vị không có giấy phép vận chuyển, xử lý CTNH.

+ Khi bị các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện thì lấy lý do trì hoãn việc cung cấp tài liệu để tìm cách hợp thức hóa các hành vi vi phạm. Thủ đoạn này thường được các đối tượng áp dụng đối với các hành vi vi phạm các thủ tục về BVMT. Khi đoàn kiểm tra đến kiểm tra đột xuất, các đối tượng thường lấy nhiều lý do khác nhau cho việc chưa xuất trình được các tài liệu về thủ tục như: Kết quả quan trắc định kỳ, báo cáo TĐMT, cam kết BVMT, hợp đồng thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải... và hẹn buổi làm việc khác để xuất trình. Sau đó, các đối tượng này nhanh chóng hoàn thiện các tài liệu, giấy tờ còn thiếu bằng mọi cách để hợp thức hóa hành vi vi phạm.

+ Đối với chủ thể vi phạm mang tư cách pháp nhân, việc thực hiện hành vi vi phạm luôn có sự thống nhất chặt chẽ giữa những người đứng đầu pháp nhân (Ban Giám đốc công ty) với người có trách nhiệm trực tiếp quản lý hoạt động thu gom, xử lý chất thải. Do vậy, trong quá trình đấu tranh cần chú ý làm rõ trách nhiệm, vai trò của từng đối tượng để xác định trách nhiệm pháp lý đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là một số đặc điểm của tội phạm và VPPL về môi trường tại các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội. Nghiên cứu những đặc điểm này sẽ giúp lực lượng Cảnh sát môi trường, Công an thành phố Hà Nội trong hoạt động phòng ngừa TP và VPPL về môi trường tại các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội, góp phần bảo vệ môi trường, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn Thủ đô trong thời gian tới./.

Đặng Hà

Học viên CH25 - Học viện CSND

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo tổng kết công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm về môi trường các năm 2014, 2015, 2016, 2017, 6 tháng đầu năm 2018 của Phòng Cảnh sát môi trường Công an thành phố Hà Nội.

2. Giáo trình Tội phạm học, Học viện Cảnh sát nhân dân.

 

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi