Thứ Ba, 11/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Nâng cao hiệu quả công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát khu vực trong giai đoạn hiện nay

Công tác Nghiệp vụ cơ bản (NVCB) của lực lượng Cảnh sát nhân dân là một hệ thống hoạt động nghiệp vụ có tính cốt lõi, là cơ sở, nền tảng cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Được cấu thành bởi nhiều bộ phận khác nhau như: NVCB, sưu tra, xác minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án, xây dựng, sử dụng cộng tác viên bí mật… các mặt hoạt động nghiệp vụ này có mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Thông qua các mặt công tác NVCB, giúp cho lực lượng Cảnh sát nhân dân chủ động nắm được tình hình có liên quan để triển khai toàn bộ các hoạt động phòng, chống tội phạm một cách có chiến lược, có kế hoạch, chủ động phòng ngừa và phát hiện tội phạm để đấu tranh ngăn chặn. Do đó, các lực lượng thuộc Cảnh sát nhân dân cần tham gia thực hiện các mặt công tác NVCB một cách nghiêm túc, có hiệu quả trên từng lĩnh vực công tác theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị, địa phương được giao.

Cảnh sát khu vực (CSKV) là lực lượng quan trọng thuộc Cảnh sát nhân dân, được bố trí tại các khu vực dân cư ở các thành phố, thị xã, thị trấn, khu vực đô thị hóa và các địa bàn phức tạp khác về an ninh, trật tự (ANTT), trực tiếp tiến hành các mặt công tác chuyên môn theo chức năng, nhiệm vụ được giao để quản lý chặt chẽ con người, địa bàn, ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT, giữ gìn trật tự công cộng, xây dựng phong trào Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc… trong khu vực phụ trách, phục vụ phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật.

Nhận thức được vai trò, trách nhiệm của mình, những năm qua, khi thi hành nhiệm vụ, lực lượng CSKV được sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ của ngành, trong đó có các mặt công tác NVCB để phục vụ công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn phụ trách và đã đạt được những kết quả nhất định như:

Trong công tác điều tra cơ bản, lực lượng CSKV đã có sự nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc và thấy rõ được vai trò, hiệu quả của công tác điều tra cơ bản. Trên cơ sở đó, đã tổ chức nhiều hình thức triển khai thực hiện, tìm hiểu, nghiên cứu để đảm bảo hiệu quả của công tác điều tra cơ bản. Theo báo cáo của Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội, đến nay lực, lượng CSKV trên toàn quốc về cơ bản đã thực hiện xong công tác điều tra cơ bản đối với các địa bàn hành chính là phường, thị trấn, đồn Công an và xã trọng điểm phức tạp về ANTT có bố trí Công an chính quy, đồng thời, đăng ký hồ sơ theo quy định. Từ đó, tạo cơ sở cho lực lượng CSKV triển khai thực hiện các mặt công tác nghiệp vụ khác, chủ động tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo đơn vị về kế hoạch và biện pháp thi hành pháp luật về ANTT, chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

Trong công tác sưu tra, thời gian qua, Công an các đơn vị địa phương đã chủ động lãnh đạo và chỉ đạo lực lượng CSKV thực hiện công tác sưu tra theo tinh thần của Chỉ thị 02 và Thông tư số 19/2013/TT-BCA ngày 01/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác sưu tra gắn với các chỉ tiêu kế hoạch đã được phân công. Trên cơ sở đó, lực lượng CSKV đã tập trung các biện pháp theo phạm vi chức năng và phối hợp với các lực lượng để quản lý tốt số đối tượng sưu tra tại địa bàn đô thị. Tính từ năm 2012 đến nay, lực lượng CSKV đã phối hợp với lực lượng trinh sát tiến hành phân loại đối tượng, rà soát, lên danh sách đề nghị đưa vào diện sưu tra 61.872 lượt đối tượng, đề xuất loại khỏi diện sưu tra 44.641 lượt đối tượng, chuyển loại 4.976 lượt đối tượng. Hiện đang quản lý 35.228 đối tượng sưu tra, trong đó: sưu tra hình sự 21.664 đối tượng; sưu tra kinh tế 2.230 đối tượng; sưu tra Ma túy 11.036 đối tượng; sưu tra Môi trường 139 đối tượng; Công nghệ cao 02 đối tượng.

Trong công tác xây dựng và sử dụng cơ sở bí mật, về cơ bản, lực lượng CSKV đã thực hiện theo các nguyên tắc, trình tự, thủ tục về xây dựng và sử dụng. Với mạng lưới cơ sở bí mật đông đảo, rộng khắp, hằng năm đã cung cấp cho lực lượng Cảnh sát khu vực trên 200.000 tin báo, trong đó có nhiều tin có giá trị cao, giúp cho CSKV quản lý tốt địa bàn, kịp thời phát hiện, xử lý các thông tin về hoạt động của bọn tội phạm, các vụ việc xảy ra và giải quyết các vấn đề phức tạp về ANTT một cách nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm đã và đang đặt ra.

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, trong quá trình tiến hành các mặt công tác NVCB của lực lượng CSKV vẫn còn những hạn chế, thiếu sót cần quan tâm, khắc phục như:

- Một bộ phận CSKV khi tiến hành công tác NVCB địa bàn, chưa nắm vững về quy trình cũng như yêu cầu, nội dung công tác NVCB nên quá trình thực hiện còn nhiều hạn chế, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo nên ảnh hưởng đến công tác tổng hợp, hệ thống hóa, phân tích, đánh giá tình hình, từ đó, ảnh hưởng đến việc tham mưu đề xuất với cấp ủy, chính quyền trong xây dựng kế hoạch, đưa ra giải pháp, giải quyết những phức tạp về ANTT trên địa bàn.

- Công tác điều tra cơ bản chưa thống nhất trong phân công, phối hợp thực hiện nên vẫn còn tình trạng bỏ trống địa bàn, đối tượng hoặc trùng dẫm, ít có tài liệu phản ánh về diễn biến của đối tượng liên qua trực tiếp đến yêu cầu điều tra, nghiên cứu. Hồ sơ điều tra cơ bản chưa được cập nhật, bổ sung thường xuyên, nội dung phân tích, đánh giá chưa sâu nên chưa khai thác được nhiều để phục vụ cho các yêu cầu nghiệp vụ khác.

- Công tác xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật còn có xu hướng chạy theo số lượng, chất lượng thấp. Theo kết quả phân loại cộng tác viên bí mật năm 2016 cho thấy, loại Khá và Xuất sắc không nhiều, chủ yếu là loại Trung bình, thậm chí có nhiều cộng tác viên bí mật còn phân loại Yếu, Kém, hoạt động không hiệu quả hoặc vi phạm cần thanh loại. Vì vậy, thông tin, tài liệu do cơ sở bí mật cung cấp còn nhiều hạn chế, giá trị không cao;

- Công tác quản lý đối tượng sưu tra chưa chặt chẽ, việc bổ sung tài liệu, báo cáo nhận xét định kỳ của CSKV đối với các loại đối tượng sưu tra có nơi thực hiện chưa nghiêm túc; mối quan hệ phối hợp giữa CSKV với các lực lượng trinh sát trong việc quản lý, phân loại đối tượng sưu tra chưa thường xuyên, liên tục hoặc để sót lọt vẫn diễn ra ở không ít đơn vị, địa phương….

Những hạn chế, yếu kém trên là do một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, việc tổ chức tập huấn công tác NVCB cho lực lượng CSKV chưa được quan tâm đúng mức, nội dung tập huấn chưa sâu; trách nhiệm kiểm tra, hướng dẫn của cấp trên đối với đối với CSKV trong quá trình thực hiện công tác NVCB, nhất là công tác xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật và công tác quản lý đối tượng sưu tra chưa được thường xuyên, liên tục và thiếu sâu sát.

Thứ hai, lực lượng CSKV chưa chủ động trong việc tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo đơn vị trong việc xây dựng chương trình, kế hoạch tổng thể để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả công tác NVCB gắn với chức năng của CSKV tại địa bàn cơ sở. Chưa thực sự phát huy hết vai trò tác dụng các nội dung của công tác quản lí hành chính như: Quản lý cư trú, quản lý ngành nghề kinh doanh có điều kiện... Chính vì vậy, kết quả công tác không khai thác và phục vụ được nhiều cho công tác NVCB của CSKV tại địa bàn đô thị.

Thứ ba, lực lượng CSKV hiện nay đang còn thiếu so với biên chế nên có những thời điểm chưa đáp ứng được các yêu cầu thực tế đặt ra. Việc bố trí, sắp xếp cũng chưa hợp lý, có nhiều đồng chí được điều chuyển sang từ lực lượng khác, thiếu kiến thức chuyên môn, chưa được tập huấn về công tác NVCB nói chung và nghiệp vụ có bản của Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội nói riêng; nhiều đồng chí mới tốt nghiệp ra trường còn trẻ nên thiếu kinh nghiệm trong công tác quản lý địa bàn cũng như công tác NVCB. Trong khi đó, những người có kinh nghiệm và trình độ chuyên môn phù hợp, được đào tạo bài bản, đúng với chuyên ngành CSKV thì còn thiếu hoặc không trực tiếp phụ trách các địa bàn đô thị và tham gia tham gia tổ chức thực hiện công tác NVCB để góp phần đảm bảo ANTT đô thị. Mặt khác, còn có một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ về vai trò, trách nhiệm của mình trong công tác NVCB cũng như ý nghĩa của công tác này nên trong quá trình thực hiện chủ yếu mang tính hình thức, theo chỉ tiêu và chưa quan tâm, chú ý đến chất lượng của các nội dung công tác NVCB, nhất là trong công tác sưu tra và xây dựng, sử dụng cơ sở bí mật.

Thứ tư, việc chấp hành các quy định trong thực hiện công tác điều tra cơ bản và công tác sưu tra ở một số CSKV còn chưa nghiêm, mang nặng tính hình thức, hành chính sự vụ. Công tác điều tra cơ bản còn dàn trải, thiếu trọng tâm; ở công tác sưu tra một số CSKV né tránh việc cung cấp thông tin về đối tượng sưu tra cho lực lượng nghiệp vụ khi có yêu cầu. Khi quản lý đối tượng sưu tra CSKV chưa thường xuyên gặp gỡ, nắm tình hình và giáo dục cảm hóa để từng bước xóa bỏ nguyên nhân, điều kiện vi phạm của đối tượng; chưa bố trí cơ sở bí mật giám sát, theo dõi chặt chẽ về đối tượng để nắm tình hình nên vẫn còn tình trạng sót lọt đối tượng sưu tra.

Thứ năm, lực lượng CSKV chưa thật chủ động trong quy hoạch và xây dựng cơ sở bí mật. Do đó, nhiều nơi còn thiếu cơ sở bí mật, hoặc có xây dựng cơ sở bí mật nhưng nặng về hình thức, xây dựng cho đủ chỉ tiêu, không phát huy được vai trò tác dụng của cơ sở bí mật trong theo dõi, nắm tình hình phát hiện các vấn đề phức tạp về ANTT nảy sinh trên địa bàn để cung cấp cho lực lượng CSKV kịp thời có biện pháp đấu tranh và xử lý. Mặt khác, chế độ, chính sách đối với cơ sở bí mật cũng còn có những hạn chế nhất định, chưa được cải thiện nhiều. Hơn nữa, một số CSKV vẫn còn thiếu sự quan tâm tới cơ sở bí mật trong quá trình cộng tác, chưa thường xuyên sinh hoạt, trao đổi để nắm được tâm tư nguyện vọng của cơ sở bí mật cũng như điều kiện hoàn cảnh, khó khăn, vướng mắc của họ, trên cơ sở đó động viên và có biện pháp giúp đỡ… Chính điều này đã ít nhiều tác động đến chất lượng, hiệu quả và sự cộng tác nhiệt tình của cơ sở bí mật đối với CSKV.

Thứ sáu, quan hệ phối hợp giữa lực lượng CSKV với các lực lượng khác chức năng cũng như các lực lượng nghiệp vụ trong ngành Công an trong thực hiện công tác NVCB chưa được duy trì thường xuyên, liên tục; có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, đặc biệt chưa xây dựng được quy chế phối hợp giữa các lực lượng trong thực hiện công tác NVCB. Dẫn đến việc các lực lượng vẫn hoạt động đơn lẻ, nhiều cán bộ còn nhận thức chưa đầy đủ về vai trò, vị trí của việc thực hiện mối quan hệ phối hợp nên việc trao đổi thông tin, tài liệu phản ánh địa bàn, lĩnh vực và các đối tượng trong diện sưu tra… còn chậm, không liên tục.

Vì vậy, để khắc phục những hạn chế, thiếu sót nêu trên và tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác NVCB của lực lượng CSKV trong thời gian tới để phục vụ tốt hơn nhiệm vụ phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn an ninh, trật tự, theo chúng tôi cần tập trung thực hiện một số vấn đề sau:

Một là, lãnh đạo Công an các đơn vị cần quán triệt đầy đủ nội dung, tinh thần của Đề án “Nâng cao năng lực và hiệu quả công tác NVCB của lực lượng Cảnh sát nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế trong tình hình mới” tới các cán bộ, chiến sĩ. Thường xuyên tổ chức tập huấn chuyên sâu về công tác NVCB cho cán bộ, chiến sĩ CSND nói chung và CSKV nói riêng. Tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, chấn chỉnh lực lượng CSKV thực hiện nghiêm túc các quy định của Bộ Công an trong thực hiện công tác NVCB. Đồng thời Kịp thời những trường hợp sai phạm để uốn nắn và động viên, khen thưởng những trường hợp thực hiện tốt, có hiệu quả.

Hai là, gắn công tác NVCB với công tác xây dựng lực lượng, xác định đây là một nhân tố quan trọng quyết định để nâng cao hiệu quả công tác quản lý địa bàn, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật. Tổ chức rà soát, thống kê, đánh giá toàn diện về lực lượng CSKV đã và đang thực hiện công tác NVCB để xem xét, củng cố, bố trí, sắp xếp lại cho phù hợp, đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng và có tính chuyên sâu, gắn với quy định về Điều lệnh CSKV. Theo dó, mỗi CSKV phải thấm nhuần sâu sắc nội dung, ý nghĩa tác dụng của công tác này, từ đó, nêu cao tinh thần trách nhiệm, yêu ngành, yêu nghề, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tính tự giác cao và yên tâm công tác, có năng lực triển khai thực hiện tốt các nội dung công tác NVCB góp phần quản lý tốt địa bàn, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm pháp luật

Ba là, quá trình thực hiện các nội dung công tác NVCB cần đặt dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của các cấp ủy Đảng, lãnh đạo đơn vị mới phát huy hết được sức mạnh các biện pháp nghiệp vụ của ngành Công an. Công an các đơn vị cơ sở cần căn cứ vào tình hình đặc điểm, tính chất địa bàn cũng như yêu cầu, nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong từng thời gian để làm tốt từng nội dung của công tác gắn với vai trò, trách nhiệm của cả đơn vị cũng như của từng CSKV bảo đảm tính chủ động, khoa học. Quá trình tổ chức thực hiện, bản thân mỗi CSKV phải nắm được và thực hiện đúng, đầy đủ các nội dung, yêu cầu có liên quan đến công tác NVCB, đặc biệt là các văn bản, quy định mới như: Thông tư số 18, 19, 22/2013/TT-BCA-C41 ngày 01/4/2013 của Bộ Công an Quy định về công tác NVCB, công tác sưu tra và xây dựng, sử dụng cộng tác viên bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân; Hướng dẫn số 80/C64-P7 ngày 10/01/2014 về thực hiện công tác NVCB của lực lượng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội; Kế hoạch số 691/KH-C64-P7 ngày 8/5/2014 về xây dựng chương trình tổng thể và công tác xây dựng, sử dụng cộng tác viên bí mật trong lĩnh vực Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự, an toàn xã hội.... góp phần phục vụ tốt cho công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.

Bốn là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác NVCB. Lực lượng CSKV tập trung rà soát, xác định các địa bàn, lĩnh vực và khu vực trọng điểm để mở hồ sơ NVCB; thường xuyên thu thập, bổ sung đầy đủ thông tin, tài liệu, phân tích, đánh giá, tổng hợp thành hệ thống để khai thác; nắm chắc tình hình, kịp thời phát hiện những phương thức, thủ đoạn của các loại tội phạm, các vi phạm pháp luật để có biện pháp, kế hoạch đấu tranh và xử lý hiệu quả. Trên cơ sở tài liệu NVCB, CSKV cần tiến hành đánh giá, phân tích, xem xét lập danh sách các đối tượng có điều kiện khả năng phạm tội hoặc biểu hiện nghi vấn phạm tội để đề xuất đưa vào diện sưu tra; xây dựng kế hoạch, bố trí cơ sở bí mật nắm tình hình, theo dõi, giám sát địa bàn và đối tượng.

Năm là, CSKV thông qua công tác quản lý địa bàn cần tập trung rà soát danh mục, hệ, loại đối tượng sưu tra đã và đang tham gia quản lý; tập trung nắm tình hình địa bàn; phát hiện các đối tượng có tiền án, tiền sự và các đối tượng có biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội để lập danh sách đề xuất đưa vào diện sưu tra nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả phòng ngừa; chú trọng kết hợp các biện pháp gọi hỏi, răn đe, cảm hóa, giáo dục các đối tượng sưu tra. Bên cạnh đó, CSKV phối hợp với các lực lượng nghiệp vụ, cung cấp các thông tin, tài liệu về tình hình ANTT tại địa bàn nói chung và tình hình về các loại đối tượng nói riêng để đảm bảo cho việc mở các hồ sơ chuyên đề về hệ loại đối tượng sưu tra, kết hợp công tác sưu tra với các hoạt động nghiệp vụ khác, phục vụ giải quyết các tụ điểm phức tạp về tội phạm và tệ nạn xã hội tại địa bàn cơ sở, góp phần đảm bảo ANTT.

Sáu là, đối với việc xây dựng, sử dụng CSBM cần tăng cường xây dựng CSBM đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng để phục vụ cho công tác đối tượng sưu tra. Đây là biện pháp cần thiết cho công tác nắm tình hình nhằm quản lý tốt địa bàn, các loại đối tượng sưu tra, các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về ANTT… của lực lượng CSKV. Vì vậy, thời gian tới, lực lượng CSKV Công an các đơn vị địa phương cần nhanh chóng rà soát lại hệ thống cơ sở bí mật nhằm xác định rõ những cơ sở bí mật còn tác dụng, hoạt động có hiệu quả, thanh loại những cơ sở hoạt động yếu, trên cơ sở đó, nhanh chóng có kế hoạch bổ sung xây dựng mới cơ sở bí mật để bảo đảm về số lượng và có chất lượng đáp ứng yêu cầu công tác đã và đang đặt ra.

Bảy là, tăng cường quan hệ phối hợp giữa CSKV với các lực lượng nghiệp vụ khác trong thực hiện công tác NVCB. Đối với vấn đề này, lực lượng CSKV cần căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ phạm vi trách nhiệm của từng lực lượng và xác định được nội dung cụ thể, trong đó tập trung vào thu thập thông tin tài liệu, phục vụ cho công tác NVCB, xây dựng, sử dụng cơ sử bí mật và phát hiện lên danh sách đối tượng sưu tra ở địa bàn quản lý; nắm tình hình, diễn biến hoạt động của đối tượng sưu tra để trao đổi, cung cấp kịp thời cho các lực lượng trinh sát phục vụ công tác sưu tra. Trên cơ sở đó, để thực hiện tốt và có hiệu quả cần thiết phải tham mưu cho cấp ủy, lãnh đạo các đơn vị xây dựng quy chế phối hợp để thống nhất các nội dung, mục đích yêu cầu trong phối hợp cũng như phân định rõ vai trò, trách nhiệm của từng lực lượng, đảm bảo tính hiệu quả trong quá trình thực hiện công tác NVCB, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật.

Nguyễn Chí Dũng

Công an tỉnh Lào Cai

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Công an (2015), Thông tư số 09/2015/TT-BCA ngày 10/2/2015 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định Điều lệnh Cảnh sát khu vực, Hà Nội.

2. Bộ Công an (2013), Chỉ thị số 02/CT-BCA (C41), ngày 01/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an về việc tập trung chấn chỉnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác NVCB của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

3. Bộ Công an (2013), Thông tư số 18/2013/TT-BCA-C41, ngày 01/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác NVCB của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

4. Bộ Công an (2013), Thông tư số 19/2013/TT-BCA-C41, ngày 01/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an về công tác sưu tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

5. Bộ Công an (2013), Thông tư số 22/2013/TT-BCA-C41, ngày 01/4/2013 của Bộ trưởng Bộ Công an về cộng tác viên bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân, Hà Nội.

6. Cục Cảnh sát QLHC về TTXH (2014), Hướng dẫn số 80/C64-P7 ngày 10/01/2014 của Cục Cảnh sát QLHC về TTXH về thực hiện công tác NVCB của lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH, Hà Nội.

7. Cục Cảnh sát QLHC về TTXH (2014), Hướng dẫn số 1144/C64-P7 ngày 28/7/2014 của Cục Cảnh sát QLHC về TTXH về thực hiện công tác hồ sơ, thống kê NVCS, Hà Nội.

8. Cục Cảnh sát QLHC về TTXH (2016), Báo cáo sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị số 02, 03 và các Thông tư của Bộ trưởng Công an về công tác NVCB và công tác hồ sơ, thống kê nghiệp vụ Cảnh sát của lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH, Hà Nội.

9. Cục Cảnh sát QLHC về TTXH, Báo cáo tổng kết công tác QLHC về TTXH năm 2010 đến năm 2016, Hà Nội.

 

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi