Thứ Năm, 15/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân không phải là một nội dung mới. Trước đây, khái niệm này đã xuất hiện nhưng chưa được công nhận trong Bộ luật Hình sự 1999. Việc luật hóa khái niệm này vào Bộ luật Hình sự 2015 được cho là phù hợp với lý luận trong pháp luật quốc tế và các khuyến nghị của Liên Hợp quốc cũng như điều kiện kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại là một dạng trách nhiệm pháp lý, là hậu quả pháp lý bất lợi mà pháp nhân thương mại phải gánh chịu trước nhà nước, do pháp nhân đó thực hiện hành vi gây nguy hiểm cho xã hội mà những hành vi này được quy định là tội phạm trong pháp luật hình sự.

Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có tính chất tương tự như trách nhiệm hình sự của cá nhân: Phát sinh và tồn tại khách quan kể từ khi tội phạm được thực hiện; được xác định bằng trình tự đặc biệt được quy định trong pháp luật tố tụng hình sự; là dạng trách nhiệm pháp lý mang lại hậu quả nghiêm khắc nhất cho chủ thể (ví dụ: Hình phạt, các biện pháp tư pháp hình sự, các biện pháp cưỡng chế trong quá trình tố tụng hình sự…).

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại không chỉ áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam mà còn có thể áp dụng đối với hành vi của pháp nhân thương mại nước ngoài phạm tội ở ngoài lãnh thổ Việt Nam, trừ các đối tượng thuộc trường hợp được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, nhưng hành vi đó xâm hại quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam hoặc xâm hại lợi ích của Việt Nam hoặc được quy định là tội phạm trong điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (Khoản 1, Điều 5, Điều 6, Bộ luật Hình sự sự 2015)

Về chủ thể

 Theo quy định của Bộ luật Dân sự được Quốc hội thông qua ngày 24/11/2015 quy định:

Về pháp nhân nói chung: Khoản 1, Điều 74, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện: Được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật này; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.”

Về pháp nhân thương mại: Theo quy định của Điều 75, Bộ luật Dân sự năm 2015:

- Pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên;

- Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác;

- Việc thành lập, hoạt động và chấm dứt pháp nhân thương mại được thực hiện theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Như vậy, về bản chất, pháp nhân thương mại là pháp nhân có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuận và lợi nhuận được chia cho các thành viên. Đặc điểm này là mấu chốt để phân biệt pháp nhân thương mại với pháp nhân phi thương mại

Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế thỏa mãn các đặc điểm trên, với tư cách độc lập khi tham gia các quan hệ pháp luật, đương nhiên sẽ thụ hưởng các quyền và gánh vác các nghĩa vụ nhất định, đồng thời tự phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của chính mình. Vậy nên, khi chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện, pháp nhân thương mại không thể ủy thác hoặc chuyển cho một pháp nhân khác (bao gồm cả cơ quan quản lý cấp trên hay cho một pháp nhân con của mình) chịu thay mà phải chính do pháp nhân đó gánh chịu sự tác động của các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự (như điều tra, truy tố, xét xử…), bị kết tội, bị áp dụng chế tài hình sự (và) các biện pháp tư pháp, bị mang án tích.

Về căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại

Pháp nhân thương mại chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn đầy đủ các căn cứ sau:

- Không phải mọi pháp nhân đều phải chịu trách nhiệm hình sự (như đã phân tích ở trên). Những pháp nhân có thực hiện hoạt động thương mại (như cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội…) nhưng không có mục tiêu chính là tìm kiếm lợi nhuân, lợi nhuận nếu có cũng không được phân chia cho các thành viên, thì không phải là chủ thể của trách nhiệm hình sự theo Bộ luật Hình sự 2015. Các tổ chức này nếu có hành vi trái pháp luật có thể bị áp dụng các chế tài phi hình sự được quy định trong các ngành luật cụ thể tương ứng (ví dụ: Luật Dân sự, Luật Hành chính, Luật Môi trường…).

- Hành vi do pháp nhân thương mại thực hiện: Gây nguy hiểm cho xã hội, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các mối quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Những hành vi nguy hiểm đó phải được quy định là tội phạm, được liệt kê trong tại Điều 76, Bộ luật Hình sự 2015.

- Lỗi của pháp nhân thương mại trong việc thực hiện tội phạm: Lỗi cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi trái pháp luật hình sự, dựa trên nhận thức và ý chí của chủ thể thực hiện hành vi đó.

Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại: Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi có đủ các điều kiện:

- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;

Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại là hành vi của một người hoặc một số người đang thuộc biên chế của tổ chức kinh tế mà theo pháp luật thì tổ chức kinh tế này là pháp nhân thương mại. Nếu họ không phải trong tổ chức kinh tế được công nhận là pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội của họ không phải là hành vi của pháp nhân thương mại.

Tuy nhiên, nếu một người được pháp nhân thương mại ký hợp đồng hay uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân thương mại giao và khi thực hiện họ nhân danh pháp nhân thương mại đã ký hợp đồng hoặc uỷ quyền cho họ thì hành vi phạm tội của người này vẫn là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại mà họ ký hợp đồng hoặc được uỷ quyền.

- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;

Khi một người hoặc một số người thực hiện hành vi phạm tội do pháp nhân thương mại giao hoặc uỷ quyền đều vì lợi ích của pháp nhân thương mại chứ không vì lợi ích cá nhân của họ. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội họ lại lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện thêm hành vi vì lợi ích cá nhân thì chỉ hành vi nào vì lợi ích của pháp nhân thương mại mới buộc pháp nhân thương mại phải chịu, còn hành vi nào vượt ra ngoài lợi ích của pháp nhân thương mại mà vì lợi ích cá nhân họ thì họ phải chịu. Có thể nói, đây là một dạng hành vi “vượt quá của người thực hành” trong vụ án mà pháp nhân thương mại phạm tội.

- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;

Hành vi phạm tội của một hoặc một số người phải có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại. Sự chỉ đạo điều hành là sự chỉ đạo của những người đứng đầu hoặc của một tập thể pháp nhân thương mại như: Giám đốc, Tổng Giám đốc, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc của công ty.

Sự chỉ đạo, điều hành này cũng tương tự như trường hợp phạm tội có tổ chức mà người tổ chức là người chỉ đạo điều hành mọi hành vi của tất cả các đồng phạm khác. Ngoài sự chỉ đạo, điều hành của những người nhân danh pháp nhân thương mại còn có trường hợp tuy không có sự chỉ đạo, điều hành nhưng lại có sự chấp thuận của những người đứng đầu pháp nhân thương mại thì hành vi phạm tội cũng là hành vi phạm tội của pháp nhân thương mại.

- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.

Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Hình sự năm 2015 tuỳ thuộc vào tội phạm mà pháp nhân thương mại thực hiện: 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng; 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng; 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng; 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Việc xác định thế nào là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đối với pháp nhân thương mại phạm tội được quy định tại Khoản 2, Điều 9, Bộ Luật Hình sự năm 2015. Điều luật này đã được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Theo đó, tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện được phân loại căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và quy định tương ứng đối với các tội phạm được quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (là các tội phạm mà pháp nhân thương mại thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự). Cũng như đối với người phạm tội, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại Khoản 2, Điều 9, Bộ luật Hình sự năm 2015, pháp nhân thương mại lại thực hiện hành vi phạm tội mới mà Bộ luật Hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với người phạm tội ấy trên 01 năm tù, thì thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày thực hiện hành vi phạm tội mới. Khi áp dụng các điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội cần chú ý:

Nếu người của pháp nhân thương mại thực hiện hành vi nhân danh pháp nhân thương mại và pháp nhân thương mại bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì tùy trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tư cách là cá nhân. Quy định này chống việc lợi dụng pháp nhân thương mại để thực hiện hành vi phạm tội nhằm thoát sự trừng trị của pháp luật.

Pháp nhân thương mại tuy là chủ thể của tội phạm, nhưng không phải là chủ thể của tất cả các tội phạm quy định trong Bộ luật Hình sự, mà chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự một số tội phạm có liên quan trực tiếp đến hoạt động của pháp nhân thương mại

Bộ luật Hình sự năm 2015 liệt kê 33 tội danh mà chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một trong 33 tội đó mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Trong đó: 22 tội phạm thuộc Chương XVIII - Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; 09 tội thuộc Chương XIX - Các tội phạm về môi trường; 02 tội thuộc Chương XXI Các tội phạm xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Các tội phạm này được quy định trên cơ sở đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm và phổ biến của tội phạm cũng như những kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thời gian qua; đồng thời, phù hợp với các Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên như: Công ước chống tham nhũng (Công ước UNCAC), Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961; Công ước về các chất hướng thần năm 1971.

Hồ Thị Thu Hiền

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi