Thứ Năm, 13/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao trong bối cảnh hiện nay
Tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp trong thời gian qua (Ảnh minh họa)

Trong thời gian gần đây, trên cả nước xuất hiện nhiều vụ việc các đối tượng sử dụng mạng Internet để lừa đảo, chiếm đoạt tài sản, gây ảnh hưởng lớn đến tình hình an ninh, trật tự. Theo báo cáo của Bộ Công an, từ năm 2016 đến 6 tháng đầu năm 2018, đã phát hiện, khởi tố 531 vụ, 1.048 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao. Cụ thể: Năm 2016 đã phát hiện, khởi tố điều tra 217 vụ, 493 bị can phạm tội sử dụng công nghệ cao (nhiều hơn 75% số vụ và 129,3% số bị can so với năm 2015). Năm 2017, đã phát hiện, khởi tố điều tra 197 vụ, 359 bị can (ít hơn 9,22% số vụ và 27,18% số bị can so với năm 2016). Riêng từ đầu năm 2018 đến nay, đã khởi tố điều tra 117 vụ, 196 bị can (giảm 13,97% vụ, tăng 4,26% bị can so với cùng kỳ năm 2017).

Trong đó đã phát hiện, triệt phá nhiều vụ án lớn như: Vụ án Công ty CNC tổ chức đánh bạc, đánh bạc trực tuyến trên mạng Internet bằng hình thức game bài với gần 43 triệu tài khoản; 25 đại lý cấp 1 và 5.877 đại lý cấp 2 trên phạm vi toàn quốc để giao dịch mua, bán Rik (tiền ảo) với tổng số tiền thu lợi bất chính trên 9.853 tỷ đồng, thu giữ trên 1.760 tỷ đồng; khởi tố điều tra, làm rõ 105 bị can về các tội danh liên quan.

Đặc biệt, trong thời gian qua, tình trạng trộm cắp, mua bán thông tin thẻ tín dụng để làm giả thẻ thanh toán dịch vụ, rút tiền qua máy ATM hoặc mua hàng hóa tiếp tục diễn biến phức tạp, gây thiệt hại nghiêm trọng. Đáng lưu ý, đã phát hiện tình trạng khách du lịch nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, thực hiện giao dịch bằng các thẻ nội địa do ngân hàng nước ngoài phát hành tại máy mPOS (máy chấp nhận thanh toán thẻ không dây, có thể sử dụng ở bất kỳ vị trí nào chỉ với một chiếc sim điện thoại 3G), không thông qua hệ thống ngân hàng và trung gian thanh toán Việt Nam, ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ quốc gia. Đây là hình thức chiếm đoạt thông tin và tiền từ tài khoản ATM của người dùng, dù không quá phổ biến nhưng cũng cho thấy sự tinh vi của tội phạm công nghệ cao.

Nổi lên nữa là tình trạng một số đối tượng sử dụng dịch vụ cuộc gọi thoại trên nền Internet (VoIP) giả danh các cơ quan pháp luật (công an, tòa án, viện kiểm sát...) gọi điện cho người dân để đe dọa, nhắc nợ cước viễn thông hoặc vi phạm pháp luật, sau đó yêu cầu nạn nhân chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng của chúng để chiếm đoạt diễn ra ở nhiều địa phương.

Đáng chú ý, nhiều loại tội phạm truyền thống đang có xu hướng chuyển sang sử dụng công nghệ cao để hoạt động phạm tội như: Trộm cắp; lừa đảo; tống tiền; đánh bạc, cá độ bóng đá; mại dâm; buôn bán hàng cấm; phát tán văn hóa phẩm đồi trụy; rửa tiền…

Đa phần người dân bị lừa đảo là do lòng tham và sự thiếu hiểu biết. Từ việc nạp thẻ mua hồ sơ để nhận giải xe máy hoặc tiền mặt đến chiêu trò tống tiền qua điện thoại; gần đây trên mạng Internet đã xuất hiện 1 nhóm đối tượng chuyên lập các website, kho ứng dụng cho điện thoại di động, máy tính bảng có nội dung khiêu dâm. Từ đó chúng phát tán link trên các mạng xã hội nhằm lừa người sử dụng click vào để chiếm đoạt tiền của họ. Sau khi được cảnh báo, các nội dung khiêu dâm bị xóa bỏ trên các kho ứng dụng, tội phạm lại biến thể sang các trò lừa đảo mới như: Việc tạo ra các trò chơi với hình dạng bên ngoài bình thường có tiêu đề rất “hot” để câu khách song tiềm ẩn bên trong lại chứa các “mã độc” có khả năng gửi tin nhắn về tổng đài để chiếm đoạt tiền trong tài khoản của người sử dụng. Nguy hiểm hơn, có những “mã độc” có thể đánh cắp được các dữ liệu như: Ảnh, video, danh bạ, tin nhắn, thông tin về tài khoản Facebook, E-mail, tài khoản ngân hàng…

Tình trạng trên do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác nhau nhưng có thể khái quát thành một số nguyên nhân sau:

Thứ nhất, tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao trên thế giới và các nước trong khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Trong khi đó, đặc thù của loại tội phạm này là tính quốc tế và hội nhập nhanh, do đó, đã tác động mạnh đến tình hình tội phạm sử dụng công nghệ cao tại Việt Nam.

Thứ hai, tính “ẩn danh” và phương thức hoạt động “phi truyền thống” của tội phạm công nghệ cao là một trong những yếu tố kích thích đối tượng hoạt động phạm tội với niềm tin không thể hoặc rất khó bị phát hiện. Thực tế cho thấy, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, đối tượng phạm tội không cần có một giao tiếp trực tiếp nào với người hoặc cơ quan tổ chức bị hại, nhiều trường hợp, người bị hại không xác định được máy tính, hệ thống thông tin của mình đã bị tấn công, thâm nhập, sao chép dữ liệu...

Thứ ba, hiện nay, nhiều chương trình phần mềm có những lỗ hổng bảo mật nghiêm trọng và các đối tượng phạm các tội về mạng máy tính thường tập trung khai thác các lỗ hổng bảo mật này để thực hiện các hoạt động phạm tội. Cùng với đó, các cơ quan, doanh nghiệp và người dân chưa ý thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác bảo mật cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin, chủ quan với các cảnh báo an ninh, an toàn mạng; tình trạng sử dụng các phần mềm không có bản quyền, phần mềm đã được “bẻ khóa” (crack) rất phổ biến dù chi phí cho việc mua và sử dụng các phần mềm bảo vệ thường không lớn. Đây là nguyên nhân dẫn đến việc lây lan các phần mềm độc hại trở lên nhanh chóng, là tiền đề để đối tượng phạm tội thực hiện các hành vi phạm tội về mạng máy tính.

Thứ tư, hệ thống pháp luật của nước ta trong lĩnh vực đấu tranh, xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao chưa đầy đủ và chưa theo kịp diễn biến tình hình thực tế; mặc dù đã được quan tâm xây dựng, bổ sung, sửa đổi nhưng vẫn chưa đáp ứng yêu cầu hiện nay.

Thứ năm, lực lượng chuyên trách phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao chưa đáp ứng yêu cầu về số lượng; phần lớn tuổi đời của đội ngũ cán bộ, chiến sĩ còn trẻ, chưa được đào tạo chuyên sâu về chuyên môn, kỹ thuật và nghiệp vụ, thiếu kinh nghiệm thực tế. Cơ sở vật chất kỹ thuật mặc dù đã được quan tâm đầu tư, nhưng vẫn còn thiếu, lạc hậu chưa theo kịp sự thay đổi liên tục của lĩnh vực công nghệ cao dẫn đến gặp nhiều khó khăn trong triển khai các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện, thu thập, bảo quản tài liệu, chứng cứ.

Trước thực trạng trên, để đấu tranh có hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao, trong thời gian tới, tác giả bài viết xin đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, các ngành chức năng cần kịp thời ban hành các chính sách, biện pháp cụ thể bảo đảm an ninh, trật tự trong phát triển các lĩnh vực khoa học - công nghệ nhằm phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Đồng thời cần tăng cường phối hợp trong công tác quản lý nhà nước và nâng cao ý thức, trách nhiệm phòng ngừa những nguy cơ xâm hại của tội phạm sử dụng công nghệ cao; gắn công tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này với các lĩnh vực phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ của đất nước.

Hai là, các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, nghiên cứu và đề xuất hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác đấu tranh với tội phạm sử dụng công nghệ cao, như: Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính… Cần tập trung nghiên cứu, đề xuất bổ sung vào Bộ luật Tố tụng hình sự các quy định có liên quan đến chứng cứ điện tử, các thủ tục tố tụng hình sự về việc thu thập, bảo quản, phục hồi và giám định chứng cứ điện tử phù hợp với đặc điểm, tính chất của tội phạm sử dụng công nghệ cao. Nghiên cứu, đề xuất quy định rõ quyền năng pháp lý của lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trong tố tụng hình sự và thẩm quyền xử phạt hành chính. Cần xây dựng dự thảo Nghị định về công tác đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm và các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực sử dụng công nghệ cao trình Chính phủ ban hành.

Ba là, lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cần tiếp tục tăng cường phối hợp với các bộ, ngành trong việc quản trị mạng máy tính và tuyên truyền, giáo dục pháp luật, như: Phối hợp trong việc phân định phạm vi trách nhiệm trong quản lý nhằm tránh sự chồng chéo, tạo sự đồng thuận và hiệu quả hoạt động của các lực lượng; phối hợp trao đổi, cung cấp thông tin tình hình chung liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm; tăng cường phối hợp với các đơn vị có liên quan để giải quyết các yêu cầu phát hiện, xác minh, điều tra tội phạm một cách kịp thời, triệt để. Phối hợp với các ngành chức năng trong các hoạt động triển khai ứng dụng công nghệ, thiết lập hệ thống phòng vệ để chủ động và nâng cao hiệu quả phòng ngừa tội phạm.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, tranh thủ nguồn nhân lực và học hỏi kinh nghiệm của các nước có nhiều kinh nghiệm về quản trị, vận hành hệ thống mạng trên thế giới. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu tranh thủ các dự án tài trợ về trang bị, phương tiện; các khóa tập huấn, hội nghị, hội thảo quốc tế về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao để chia sẻ thông tin và phối hợp phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao hiệu quả.

Năm là, các cá nhân cần có trách nhiệm tham gia phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao bằng cách bảo vệ mật khẩu, khóa mật khẩu, cơ sở dữ liệu, thông tin cá nhân, thông tin tài khoản và hệ thống thiết bị công nghệ cao của mình; kịp thời phát hiện, tố giác tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao với cơ quan Công an hoặc chính quyền cơ sở gần nhất; phối hợp chặt chẽ với Cơ quan chuyên trách trong quá trình xác minh làm rõ tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao, cung cấp các thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan cho Cơ quan chuyên trách khi được yêu cầu theo quy định của pháp luật.

Trung tá Nguyễn Thị Thu

Thượng úy Bùi Thị Thúy Quỳnh

Trung tâm Lưu trữ và Thư viện, Học viện CSND

Tài liệu tham khảo:

1.http://csnd.vn/Home/Nghien-cuu-Trao-doi/307/Dac-diem-toi-pham-hoc-cua-toi-pham-su-dung-cong-nghe-cao-va-giai-phap-nang-cao-hieu-qua-phong-ngua-dau-tranh

2.http://vneconomy.vn/bo-truong-cong-an-toi-pham-cong-nghe-cao-kho-phong-ngua-va-dau-tranh-hon-truoc-20180813084443184.htm

3. http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/687

 

 

 

 

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi