Thứ Năm, 13/12/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam

Theo số liệu thống kê của đơn vị có chức năng hợp tác với Interpol trong đấu tranh phòng, chống tội phạm (nay chức năng này thuộc Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra), hàng năm ghi nhận hàng nghìn vụ việc phạm tội có yếu tố nước ngoài mà Việt Nam phải phối hợp với cơ quan cảnh sát, các cơ quan tư pháp của nước ngoài để giải quyết. Tội phạm do người nước ngoài gây ra ở Việt Nam có nhiều loại, nhiều hình thức, chủ yếu là trộm cắp, lừa đảo, rửa tiền, sử dụng kỹ thuật, công nghệ cao để chiếm đoạt tài sản của cá nhân, tổ chức, cá biệt có vụ giết người, cướp tài sản ở khu vực biên giới Tây Nam; buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài. Không loại trừ khả năng một số đối tượng trong các tổ chức tội phạm ở nước ngoài đã vào Việt Nam ẩn náu, nhen nhóm gây dựng cơ sở kinh tế để hoạt động.

Phương thức, thủ đoạn phạm tội của người nước ngoài ngày càng tinh vi, xảo quyệt, gây khó khăn không nhỏ cho hoạt động điều tra, khám phá của cơ quan thực thi pháp luật. Đặc biệt, xu thế tội phạm sử dụng công nghệ cao nhằm chiếm đoạt tài sản với giá trị đặc biệt lớn như: Lừa đảo qua điện thoại, thuê người Việt Nam mở tài khoản ATM tại các ngân hàng và giao thẻ này cho các đối tượng sử dụng vào việc chuyển tiền, rút tiền chiếm đoạt. Một số đối tượng còn mạo danh cán bộ của cơ quan Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án… gọi điện thoại cho người bị hại để đe dọa tài sản mà họ đang có liên quan rửa tiền, mua bán ma túy, buôn lậu… đề nghị chuyển tiền vào các tài khoản ATM do đối tượng chỉ định để cơ quan chức năng kiểm tra, nếu không liên quan sẽ trả lại. Ngay sau khi người bị hại chuyển tiền vào tài khoản, các đối tượng lừa đảo rút hết tiền hoặc chuyển ngay qua một tài khoản khác để đối tượng chủ mưu, cầm đầu rút tiền tại nước ngoài… Một số người gốc Hoa lợi dụng vào Việt tìm kiếm việc làm, đi du lịch song trên thực tế đã cấu kết với nhau để tổ chức các hoạt động lừa đảo chiếm đoạt phí viễn thông, trộm cắp các số tài khoản tín dụng của những người ở nước ngoài.

Tình hình tội phạm người nước ngoài gia tăng ở Việt Nam những năm qua là quy luật tất yếu của quá trình hội nhập. Để chủ động đối phó, trong thời gian vừa qua, lực lượng Công an nhân dân đã tập trung lực lượng, đề ra nhiều giải pháp phòng, chống loại tội phạm này, trong đó chú ý đẩy mạnh hợp tác với các quốc gia trên thế giới và khu vực, các tổ chức quốc tế như: Interpol, Aseanpol, Văn phòng Liên Hợp quốc về phòng, chống ma túy và tội phạm (UNODC)… Trong những năm qua, Việt Nam đã ký Hiệp định tương trợ tư pháp với 27 nước, Hiệp định chuyển giao người bị kết án với 5 nước và Hiệp định dẫn độ với 5 nước, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác điều tra, xử lý tội phạm có yếu tố nước ngoài. Hàng năm, Cảnh sát Việt Nam có kế hoạch phối hợp phòng, chống tội phạm có yếu tố nước ngoài với Cảnh sát Lào, Cảnh sát Campuchia, Công an Trung Quốc, Cảnh sát  Đức, Australia. Bộ Công an Việt Nam cũng đã ký với công an một số nước các kế hoạch, chương trình về phòng, chống buôn bán người.

Đây là các căn cứ pháp lý quan trọng phục vụ cho công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay sự hiểu biết về tội phạm có yếu tố nước ngoài và kinh nghiệm đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này của các cơ quan chức năng còn nhiều hạn chế. Một số văn bản pháp lý liên quan đến phòng, chống tội phạm này có nhiều điểm không phù hợp thực tế. Bên cạnh đó việc giải quyết theo con đường ngoại giao thường kéo dài và gặp nhiều khó khăn đối với các vụ án tội phạm có yếu tố nước ngoài liên quan đến các nước mà Việt Nam chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trên chủ yếu là do cơ chế hợp tác quốc tế về phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. Nhận thức của một bộ phận lãnh đạo các cấp về hợp tác quốc tế còn chưa phù hợp với tình hình hiện nay. Cơ sở pháp lý còn chưa đầy đủ, hoàn chỉnh. Trình độ ngoại ngữ của cán bộ điều tra còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn. Các hoạt động hợp tác quốc tế vẫn chưa thường xuyên, liên tục, các hình thức hợp tác chưa đa dạng.

Trong thời gian tới, để nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam, theo chúng tôi cần phải chú ý một số vấn đề sau:

Một là, lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ, chiến sĩ Công an cần thay đổi tư duy về hợp tác quốc tế để phù hợp hơn với tình hình mới. Chuyển từ tư duy thụ động sang chủ động hội nhập, sẵn sàng cùng tham gia, chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi, đảm bảo hợp tác quốc tế phải trở thành vai trò là đầu mối xây dựng và phát triển các quan hệ hợp tác có chiều sâu chuyên môn trong phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam nói riêng.

Hai là, đề xuất các cơ quan thi hành pháp luật, trực tiếp là lực lượng Công an nhân dân cần nhanh chóng tham mưu cho Nhà nước, Chính phủ xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý lâu dài cho các hoạt động phối hợp nghiệp vụ, hợp tác phòng, chống tội phạm và hợp tác tư pháp hình sự giữa Việt Nam với các nước, đặc biệt là với các nước chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp. Lên kế hoạch thực hiện có hiệu quả các Hiệp định đã ký kết, đồng thời cụ thể hóa bằng các cơ chế, thỏa thuận nhằm triển khai có hiệu quả các văn bản hợp tác song phương nói trên.

Đồng thời, tiếp tục duy trì mối quan hệ hợp tác bền vững với các đối tác truyền thống và mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế khác nhằm huy động nguồn lực phục vụ cho công tác phòng, chống tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam. Chủ động hợp tác, hội nhập quốc tế, coi trọng việc tham gia và thực hiện các điều ước quốc tế, thúc đẩy hợp tác Á - Âu, châu Á - Thái Bình Dương, ASEAN…

Ngoài ra, để giảm bớt khó khăn trong quá trình điều tra, giải quyết các vụ án do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam, các cơ quan tố tụng cần thống nhất về việc xác minh lý lịch, trích lục tiền án, tiền sự của bị can, bị cáo là người nước ngoài thì không cần ủy thác tư pháp mà chỉ thông báo bằng văn bản cho Đại sứ quán, Lãnh sự quán của quốc gia mà bị can, bị cáo có quốc tịch biết. Đồng thời, kiến nghị cho phép cơ quan tố tụng không phải trả hồ sơ điều tra bổ sung để chờ văn bản trả lời mới xét xử.

Ba là, chú trọng nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ điều tra. Lãnh đạo Công an các cấp cần quyết liệt nâng cao trình độ ngoại ngữ, đặc biệt là Anh ngữ cho cán bộ điều tra. Đây chính là công cụ, phương tiện đặc biệt quan trọng trong hợp tác quốc tế cũng như phục vụ hiệu quả cho công tác điều tra, giải quyết các vụ án do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam. Đào tạo ngoại ngữ sẽ giúp cho cán bộ, chiến sĩ Công an tự tin giao tiếp, tuyên truyền pháp luật cho đối tượng phạm tội là người nước ngoài, qua đó nâng cao vị thế và hình ảnh của người Công an Việt Nam trong mắt nhân dân và bạn bè quốc tế. 

Để đảm bảo chất lượng đào tạo cần chú ý một số vấn đề sau trong quá trình tổ chức đào tạo: Lựa chọn đối tượng đào tạo là những cán bộ trẻ, có năng lực ngoại ngữ. Gắn kết quả học tập với chỉ tiêu công tác. Các đơn vị cần tạo điều kiện thuận lợi nhất để cán bộ tập trung học tập, nghiên cứu, không giao việc trong quá trình đi học. Kết thúc mỗi khóa học cần tổ chức kiểm tra, đánh giá chính xác, khách quan kết quả học tập của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Chỉ ra hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót trong công tác đào tạo, từ đó xác định phương hướng đào tạo sau này cho phù hợp với thực tiễn.

Bốn là, cần đa dạng hóa nội dung và hình thức hợp tác, cụ thể như sau:

- Về nội dung hợp tác cần chú trọng các mặt công tác sau:

+ Hợp tác trao đổi thông tin, tài liệu, kinh nghiệm về các lĩnh vực, hoạt động có liên quan trực tiếp đến công tác phòng, chống tội phạm do người nước ngoài gây ra tại Việt Nam; đồng thời hợp tác dự báo xu hướng diễn biến của tội phạm trong khu vực và trên thế giới, trong việc kiểm soát và giám sát các hoạt động đầu tư công nghệ của các dự án có liên quan đến yếu tố nước ngoài. Những nguồn thông tin đáng tin cậy là cơ sở trong việc lập kế hoạch chủ động phối hợp với các cơ quan, tổ chức quốc tế tiến hành các hoạt động điều tra, xử lý các hành vi phạm pháp từ bên ngoài vào Việt Nam.

+ Hợp tác trong đào tạo, huấn luyện chuyên sâu nhằm nâng cao trình độ nghiệp vụ, kiến thức pháp luật, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm do người nước ngoài gây ra.

+ Hợp tác trong nghiên cứu, chuyển giao các thành tựu của khoa học kỹ thuật trong phòng, chống tội phạm. Đây là hình thức hợp tác đem lại hiệu quả rất cao, nhất là trong điều kiện nền tảng khoa học công nghệ ở nước ta phát triển còn chậm, lạc hậu, trình độ đội ngũ cán bộ làm công tác phòng, chống tội phạm chưa cao. Đây cũng là hình thức để tiếp cận, tiếp thu những tinh hoa, công nghệ mới phục vụ công tác phòng, chống tội phạm ở nước ta.

- Về hình thức hợp tác:

+ Cử chuyên gia có trình độ cao sang báo cáo về công tác phòng, chống tội phạm. Việt Nam cần mời nhiều chuyên gia giỏi của các nước phát triển đến tập huấn dài hạn nhằm cập nhật những tri thức mới cho cán bộ, chiến sĩ Công an.

+ Hợp tác với các trường Công an, trung tâm đào tạo uy tín của các nước trên thế giới để mở các lớp đào tạo ngắn hạn (tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ), đào tạo dài hạn (đại học, thạc sĩ, tiến sĩ), tổ chức các hội nghị, hội thảo khoa học liên quan đến đấu tranh phòng, chống tội phạm có yếu tố nước ngoài.

+ Đẩy mạnh các hoạt động kết nghĩa, giao lưu, liên kết đào tạo giữa lực lượng Công an Việt Nam, các trường Công an nhân dân với các Viện nghiên cứu, các trường Công an ở các nước trong khu vực và trên thế giới để đào tạo nguồn nhân lực và giải quyết các yêu cầu thực tiễn và liên kết đấu tranh phòng chống tội phạm.

Trung tá Tô Anh Dũng

Trưởng Công an Quận Long Biên

Tài liệu tham khảo:

1. Văn phòng Bộ Công an (2018), Báo cáo tổng kết công tác các năm 2014 - 6/2018), Hà Nội.

2. Tổng cục Thống kê (2017), Số khách quốc tế đến Việt Nam phân theo một số quốc tịch, Hà Nội, 10/11/2018. < https://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=720> 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi