Thứ Ba, 26/3/2019
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Tìm hiểu một số quy định về điều kiện an ninh, trật tự đối với kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Kinh doanh dịch vụ cầm đồ là ngành nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, cần phải có các quy định chặt chẽ để quản lý. Trước tình hình đó, Nhà nước đã ban hành các quy định mới về điều kiện an ninh, trật tự đối với kinh doanh dịch vụ cầm đồ. Đặc biệt, ngày 01/07/2016 Chính phủ đã ban hành Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện (sau đây gọi tắt là Nghị định 96/2016/NĐ-CP), đây là điều kiện quan trọng về mặt pháp lý để củng cố, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác quản lý ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự, trong đó có kinh doanh dịch vụ cầm đồ.

Kinh doanh dịch vụ cầm đồ là ngành nghề được xếp vào nhóm một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Theo khoản 4, Điều 3, Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định:“Kinh doanh dịch vụ cầm đồ, gồm: Kinh doanh dịch vụ cho vay tiền mà người vay tiền phải có tài sản hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố.”. Điều này cho thấy, nội hàm của kinh doanh dịch vụ cầm đồ đã được bổ sung tương đối đầy đủ, trước đây kinh doanh dịch vụ cầm đồ gồm các hoạt động kinh doanh cho vay tiền với điều kiện người vay phải có tài sản cầm cố tức là nội hàm rất rộng và chung chung chưa làm rõ nguồn gốc tài sản của người cầm cố (chưa làm rõ tính hợp pháp của tài sản cầm cố) và nơi thực hiện giao dịch cầm cố tài sản. Do đó, kinh doanh dịch vụ cho vay tiền chỉ hợp pháp khi thỏa mãn điều kiện có tài sản cầm cố hợp pháp mang đến cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ để cầm cố, tức là cơ sở kinh doanh cầm đồ đảm bảo đầy đủ các điều kiện về an ninh trật tự theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:

1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ cầm đồ

- Được đăng ký, cấp phép hoặc thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam

Căn cứ vào quy định Nghị định số 59/2006/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh doanh có điều kiện, các nghị định sửa đổi bổ sung của nghị định này, chủ thể kinh doanh dịch vụ cầm đồ phải là thương nhân có đăng ký kinh doanh. Do đó, chủ thể này có thể là hộ kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã đăng ký và được cấp một trong các giấy tờ: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh, đơn vị trực thuộc doanh nghiệp; Giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Giấy chứng nhận đăng ký chi nhánh, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh.

- Điều kiện về Người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh:

Người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ là: Người đại diện theo pháp luật, người quản lý cơ sở kinh doanh, chủ cơ sở kinh doanh có tên trong các văn bản: Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; giấy chứng nhận đăng ký hoạt động của chi nhánh, đơn vị trực thuộc doanh nghiệp; giấy chứng nhận đăng ký hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; giấy chứng nhận đăng ký chi nhánh, địa điểm kinh doanh của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh… hoặc người được những người này ủy quyền đứng tên trong giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự.

Người chịu trách nhiệm về an ninh trật tự, của cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ phải đáp ứng các điều kiện về an ninh, trật tự áp dụng chung cho ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Tại Điều 3, Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh phải không thuộc một trong các trường hợp sau: Đối với người Việt Nam đã bị khởi tố hình sự mà các cơ quan tố tụng của Việt Nam hoặc của nước ngoài đang tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, có tiền án về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác do lỗi cố ý bị kết án từ trên 03 năm tù trở lên chưa được xóa án tích, đang trong thời gian được tạm hoãn chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, đang bị quản chế, cấm cư trú, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự theo quyết định của Tòa án; đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; có quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời gian chờ thi hành quyết định; đang nghiện ma túy; đang được tạm hoãn, tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; đã bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính nhưng chưa đủ thời hạn để được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính. Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài mang hộ chiếu nước ngoài và người nước ngoài chưa được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp phép cư trú. Quy định trên đã đưa ra những tiêu chí cụ thể nhằm hạn chế những người có khả năng, điều kiện có thể lợi dụng kinh doanh dịch vụ cầm đồ để hoạt động vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, đồng thời đã cụ thể hóa đối tượng không được kinh doanh ngành, nghề này giúp cho cơ quan quản lý nhà nước thuận tiện trong quá trình phân loại trong quá trình thực hiện quản lý.

Bên cạnh đó, người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ phải là người có hộ khẩu thường trú ít nhất 05 năm tại xã, phường, thị trấn nơi đăng ký đặt địa điểm hoạt động kinh doanh và trong thời gian 05 năm liền kề trước thời điểm đăng ký kinh doanh không bị cơ quan chức năng xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi: Chống người thi hành công vụ, gây rối trật tự công cộng, cố ý gây thương tích, cho vay lãi nặng, đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc, trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, chiếm giữ trái phép tài sản. Điều này nhằm bảo đảm người có trách nhiệm kinh doanh dịch vụ cầm đồ là những người có nơi thường trú rõ ràng đảm bảo các điều kiện về lai lịch phục vụ hiệu quả cho yêu cầu quản lý con người. Tuy nhiên, theo tác giả, việc quy định điều kiện thời gian thường trú và thời gian tiền sự đối với một số tội danh như trên chỉ đáp ứng phục vụ yêu cầu hiệu quả của cơ quan quản lý nhưng chưa phù hợp với quyền tự do kinh doanh của công dân theo quy định của pháp luật. Một vấn đề cũng cần phải làm rõ đó là đối với các trường hợp không đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ cầm đồ có thể núp danh cho một người khác đủ điều kiện đứng tên để hoạt động, điều này sẽ tạo ra khó khăn cho quá trình quản lý theo quy định của pháp luật.

- Điều kiện về phòng cháy chữa cháy:

Các cơ sở kinh doanh phải đủ các điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy năm 2001, sửa đổi năm 2013; các Nghị định, Thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Phòng cháy và chữa cháy.

Như vậy, các điều kiện về an ninh, trật tự đối với dịch vụ cầm đồ đã được quy định rõ ràng, đã khắc phục được những hạn chế so với các quy định trước đây. Trong đó, một mặt người kinh doanh dịch vụ cầm đồ phải đáp ứng các quy định chung đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh, trật tự (Điều 7, Nghị định số 96/2016/NĐ-CP), mặt khác người kinh doanh dịch vụ cần đồ cần đáp ứng các quy định riêng về điều kiện an ninh, trật tự (Điều 9, Nghị định số 96/2016/NĐ-CP).

2. Trách nhiệm của các cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ

Ngoài những trách nhiệm chung áp dụng đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì cơ sở kinh doanh dịch vụ cầm đồ có trách nhiệm được quy định tại Điều 29, Nghị định 96/2016/NĐ-CP như: Kiểm tra giấy tờ tùy thân của người mang tài sản đến cầm cố, lập hợp đồng cầm cố, kiểm tra giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản cầm cố, không được nhận tài sản không có nguồn gốc hoặc tài sản có được do các hành vi vi phạm pháp luật mà có, tỷ lệ lãi suất cho vay tiền khi nhận cầm cố tài sản không vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ Luật dân sự.

Theo Khoản 6, Điều 29, Nghị định 96/2016/NĐ-CP quy định: “Tỷ lệ lãi suất cho vay tiền khi nhận cầm cố tài sản không vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự.” Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực. Như vậy, với quy định lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay thì lãi suất cao nhất tính theo tháng không được vượt mức 1,67%/tháng và 0,056%/ngày. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ. Trong trường hợp này thì mức lãi suất thỏa thuận không được vượt quá 10%/năm của khoản tiền vay thì lãi suất cao nhất tính theo tháng không được vượt mức 0,835%/tháng và 0,028%/ngày. Với những quy định trên của pháp luật thì tỷ lệ lãi suất cho vay tiền khi nhận cầm cố tài sản không vượt quá tỷ lệ lãi suất theo quy định của Bộ luật dân sự. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

Thượng úy Trần Văn Tư

 Bộ Môn Nghiệp Vụ Cơ Bản, Học viện CSND

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi