Thứ Bảy, 14/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Hội nhập cộng đồng kinh tế ASEAN và những vấn đề đặt ra trong đấu tranh phòng, chống tội phạm kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Trung tướng, GS. TS. Nguyễn Xuân Yêm - Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân

Quan điểm này đã được đề cập trong nhiều Văn kiện của Đảng. Đại hội IX của Đảng đề ra chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”; ngày 27-11-2001, Bộ Chính trị khóa X ban hành Nghị quyết số 07-NQ/ TW “Về hội nhập kinh tế quốc tế”; Đại hội X của Đảng khẳng định: “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác”; ngày 5-2-2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW “Về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới”.

Toàn cầu hóa kinh tế có tính hai mặt. Một mặt toàn cầu hóa về kinh tế cũng tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng tiềm ẩn nhiều yếu tố thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trước đòi hỏi tất yếu của việc hội nhập kinh tế, phát triển kinh tế bền vững với đảm bảo an ninh, trật tự trên lĩnh vực kinh tế, Đại hội XI của Đảng xác định vấn đề “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; ngày 10-4-2013, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 22-NQ/TW “Về hội nhập quốc tế”.

Trong tiến trình toàn cầu hóa, năm 2003, các nhà lãnh đạo ASEAN thống nhất chiến lược xây dựng ASEAN thành một khối thống nhất vào năm 2020 với ba trụ cột chính là Cộng đồng An ninh - Chính trị ASEAN (APSC), Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Cộng đồng Văn hóa - Xã hội ASEAN (ASCC). Tuy nhiên, trước sự phát triển nhanh của thời đại, để phù hợp với sự phát triển chung lợi ích của các nước thành viên, năm 2007, các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý rút ngắn tiến trình hội nhập kinh tế khu vực bằng việc thành lập Cộng đồng kinh tế ASEAN vào năm 2015.

1. Cơ hội và thách thức của Cộng đồng kinh tế ASEAN đối với Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế

- Cơ hội từ AEC

Sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN là một bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập khu vực một cách toàn diện của các nền kinh tế Đông Nam Á, hướng tới mô hình cộng đồng kinh tế - an ninh - xã hội theo kiểu Liên minh châu Âu. Kinh tế khu vực sẽ được nâng cao tính cạnh tranh, giúp ASEAN trở thành một thị trường rộng lớn đồng thời là nhà xuất khẩu lớn của thế giới. AEC sẽ là một thị trường chung có quy mô lớn với hơn 600 triệu dân và tổng GDP hàng năm vào khoảng 2.000 tỷ USD. Trong đó, Việt Nam chiếm tỷ trọng khoảng 7,36% kim ngạch xuất khẩu; và 8,5% kim ngạch nhập khẩu.

AEC ra đời dự kiến sẽ mở ra một thị trường rộng lớn, bình đẳng cho các doanh nghiệp trong khối. Doanh nghiệp của các nước thành viên có thể tận dụng những hiệp định thương mại tự do (FTA) mà ASEAN đã kí kết với Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, New Zealand như ưu đãi thuế quan 0%, cũng như Hiệp định đối tác toàn diện khu vực (RCEP). Thương mại nội khối cũng sẽ được củng cố và tạo điều kiện phát triển.

AEC sẽ là thị trường thống nhất, cho phép tự do chu chuyển nguồn nhân lực có trình độ cao và luân chuyển linh hoạt những thị trường lao động phổ thông. Một thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất ASEAN bao gồm năm yếu tố cơ bản: chu chuyển tự do hàng hóa, dịch vụ, lao động có tay nghề; chu chuyển tự do hơn nữa các dòng vốn và dòng đầu tư.

Các doanh nghiệp sẽ có cơ hội mở rộng thị trường trao đổi thương mại, thu hút đầu tư, tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất và cung ứng khu vực, với hoạt động xuất khẩu thuận lợi hơn nhờ rào cản thuế quan, phi thuế quan được tháo gỡ. Các nhà đầu tư ASEAN sẽ được tự do đầu tư vào tất cả mọi lĩnh vực trong khu vực.

Một thị trường hàng hóa và dịch vụ thống nhất sẽ thúc đẩy phát triển mạng lưới sản xuất trong khu vực, nâng cao năng lực của ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng, xây dựng một trung tâm sản xuất toàn cầu đáp ứng yêu cầu đối với chuỗi cung ứng toàn cầu. Ngoài ra, thị trường và cơ sở sản xuất thống nhất mang lại lợi ích cho các ngành công nghiệp ưu tiên tham gia hội nhập như: nông nghiệp, hàng không (vận chuyển bằng đường hàng không), ô tô, e-ASEAN, điện tử, ngư nghiệp, chăm sóc sức khỏe, cao su, dệt may và thời trang, du lịch, ngành công nghiệp gỗ và các dịch vụ logistics khác…

Cộng đồng kinh tế ASEAN hướng tới mục tiêu tạo dựng một khu vực kinh tế có năng lực cạnh tranh cao, thịnh vượng và ổn định, theo đó khu vực này sẽ ưu tiên 6 yếu tố chủ chốt là: chính sách cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, quyền sở hữu trí tuệ, phát triển cơ sở hạ tầng, hệ thống thuế khóa và thương mại điện tử.

Với thị trường tương tác lẫn nhau và các ngành công nghiệp hội nhập, có thể nói ASEAN hiện đang hoạt động trong một môi trường toàn cầu hóa ngày càng cao. Do đó, không chỉ dừng lại ở AEC mà các quốc gia thành viên ASEAN cũng nhất trí tham gia nhiều hơn nữa vào mạng lưới cung ứng toàn cầu bằng việc nâng cao năng suất và hiệu quả công nghiệp. AEC sẽ trở thành tâm điểm của ASEAN với vai trò chủ động tham gia cùng các đối tác FTA ASEAN và đối tác kinh tế bên ngoài trong việc đổi mới kiến trúc khu vực.

- Thách thức từ AEC

AEC là một thị trường thống nhất, hàng hóa thương mại nội khối, hàng rào thuế quan và phi thuế quan giữa các quốc gia thành viên AEC sẽ dần xóa bỏ. Đến năm 2015, Việt Nam sẽ phải giảm khoảng 98% số dòng thuế trong biểu thuế xuống 0-5%. Có nghĩa là hàng hóa của các nước ASEAN sẽ có nhiều hơn cơ hội bành trướng thị trường Việt Nam, dẫn đến việc cải thiện tình trạng nhập siêu của Việt Nam với các nước ASEAN càng trở nên khó khăn hơn.

Ngoài ra, trao đổi thương mại ngoài khối, trong thời gian qua, Việt Nam đã cùng tham gia ký kết các Hiệp định thương mại tự do ASEAN với nhiều nước như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, liên minh thuế quan Liên bang Nga, Belarus, Kazacxtan... trong đó đều đưa ra lộ trình thực hiện tự do hóa thương mại. Đây cũng chính là nguy cơ tiềm ẩn của việc gia tăng tình trạng nhập siêu của Việt Nam.

Thách thức trong cạnh tranh, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh của hàng hóa các nước khác trên thị trường ASEAN. Trong thời gian tới, AEC hình thành sẽ tạo ra thị trường chung, không còn rào cản hàng hóa, dịch vụ, vốn... Hàng hóa ở các nước thành viên ASEAN sẽ có mức thuế ưu đãi như nhau, khi đó sức cạnh tranh sẽ tập trung vào chất lượng và giá trị gia tăng của sản phẩm. Trong khi đó, với thiết bị, công nghệ hiện nay, sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh với sản phẩm xuất khẩu của các nước trong khối.

AEC không chỉ là một thị trường thống nhất dành cho những hàng hóa thông thường mà nó còn là thị trường thống nhất của thị trường tài chính tiền tệ. Ngoài việc nó giúp tạo dựng một thị trường tài chính liên thông, hỗ trợ các thị trường khác phát triển thì nó cũng tạo ra những rủi ro lớn cho thị trường tài chính trong nước.

Mặc dù Việt Nam đã gia nhập WTO được một số năm, nhưng hệ thống pháp luật chưa hoàn chỉnh, chồng chéo và còn nhiều sơ hở, nhiều nội dung chưa phù hợp với quy định của pháp luật và các thông lệ quốc tế. Việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các văn bản hướng dẫn còn chậm hoặc các văn bản ban hành không theo kịp với thực tế phát triển kinh tế của đất nước trong thời kỳ hội nhập.

Năng lực thực thi công vụ yếu, tư tưởng, đạo đức nghề nghiệp thấp kém của một bộ phận không nhỏ của cán bộ công chức, viên chức đã làm giảm năng suất lao động, làm đình trệ các hoạt động thực hiện chính sách của Nhà nước dẫn đến lãng phí, thất thoát tài sản nhà nước, là nguyên nhân, điều kiện làm nảy sinh nhiều loại tội phạm mới như tội phạm rửa tiền, tội phạm có tổ chức và tội phạm mang tính quốc tế

Hội nhập kinh tế giúp tăng trưởng kinh tế, nhưng sự tăng trưởng này lại không được phân phối đều. Sự phân hóa giàu nghèo giữa các vùng, giữa thành thị và nông thôn, giữa các tầng lớp dân cư tăng nhanh chóng.

2. Dự báo tình hình và những vấn đề đặt ra trong đấu tranh phòng, chống tội phạm kinh tế ở Việt Nam hiện nay

2.1. Như trên đã trình bày, sự hình thành Cộng đồng kinh tế ASEAN đem đến nhiều cơ hội và cũng đặt ra không ít thách thức cho nền kinh tế Việt Nam. Trên cơ sở tình hình kinh tế thế giới với những ý kiến nhận định, đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, có thể dự báo tình hình tội phạm kinh tế ở nước ta trong thời gian tới trên một số khía cạnh sau:

- Về nhóm các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế:

Đối với tội phạm trốn thuế: Các công ty nước ngoài vào Việt Nam, các doanh nghiệp, công ty cổ phần trong nước đều hoạt động nhằm mục đích kiếm lợi nhuận cao nhất, giảm thiểu các chi phí và các khoản thuế phải nộp. Đó là các loại thuế: Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân… Việc trốn thuế có thể diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi nếu công tác quản lý, kiểm tra giám sát trong các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư, chứng khoán, sản xuất kinh doanh lỏng lẻo. Cần chú ý những hành vi trốn thuế diễn ra trong quá trình khai báo làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa, áp mã hàng, ký hợp đồng xuất nhập khẩu, kê khai các loại thuế của doanh nghiệp hoặc trong quá trình liên doanh đầu tư các đối tượng thực hiện hành vi khai khống giá trị liên doanh, che dấu các khoản thu nhập, danh nghĩa nhập nguyên, phụ liệu để gia công xuất khẩu, nhưng lại bán ở thị trường nội địa nhằm trốn thuế.

Đối với tội phạm buôn lậu và các hành vi gian lận thương mại:

Hiện nay, Việt Nam đang thực hiện lộ trình cắt giảm thuế quan, từng bước loại bỏ các hàng rào thuế quan, mở cửa thị trường theo như cam kết khi gia nhập WTO. Tuy nhiên, thuế vẫn là công cụ điều tiết thị trường, bảo hộ sản xuất trong nước. Vì vậy, trong điều kiện suy thoái kinh tế hiện nay thì các hành vi buôn lậu, gian lận thương mại vẫn tồn tại và nó sẽ phát triển với hình thức tinh vi hơn, mang màu sắc quốc tế, có sự thông đồng giữa trong và ngoài nước với mức độ cao và chặt chẽ hơn từ khâu sản xuất đến khâu vận chuyển và tiêu thụ. Đặc biệt chú ý buôn lậu trên tuyến đường hàng không những mặt hàng có giá trị cao như vàng, bạc, ngoại tệ, đá quý, điện thoại di động, đồng hồ, thuốc tân dược, đồ thời trang; trên tuyến đường thủy chú ý buôn lậu xăng dầu; trên tuyến đường bộ cần chú ý buôn bán hàng cấm, hàng giả, tội phạm sử dụng công nghệ cao mang tính quốc tế sẽ gia tăng. Nếu công tác quản lý của các cơ quan nhà nước không sâu sát, không có những quy định cụ thể, chặt chẽ sẽ tiềm ẩn những rủi ro cho môi trường kinh doanh và người tiêu dùng.

- Về nhóm các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam trong thời gian tới

Trong điều kiện gia nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế, các thành phần cơ hội sẽ lợi dụng cơ chế thông thoáng để mang hàng giả vi phạm SHTT sản xuất tại nước ngoài vào Việt Nam tiêu thụ. Phương thức tiêu thụ hàng hóa vi phạm ngày càng tinh vi, trong đó cần lưu ý hình thức giao bán hàng giả vi phạm SHTT qua mạng internet, tránh được sự kiểm soát của cơ quan chức năng vì hiện nay quản lý thông tin mạng là điều rất khó khăn, nhất là đối với các nước đang phát triển như chúng ta.

Các hành vi xâm phạm tới nhiều đối tượng SHTT, nhưng tập trung là xâm phạm tới kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, tên gọi xuất xứ hàng hóa, chỉ dẫn địa lý. Các mặt hàng bị xâm phạm đa dạng, từ những mặt hàng thông thường (thực phẩm, phân bón, mỹ phẩm, quần áo, hàng hiệu, đồ gia dụng, những mặt hàng liên quan đến sức khỏe người tiêu dùng) đến những mặt hàng có tính kỹ thuật, mặt hàng cao cấp (hàng điện tử, điện thoại di động)... Những mặt hàng này thường nổi lên tùy theo từng thời điểm, theo thị hiếu của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, sẽ ngày càng xuất hiện những đối tượng mới như: phần mềm máy vi tính, phụ tùng máy bay, tàu thủy, bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa, các chủng vi sinh. Lưu ý các đối tượng làm giả nhãn hiệu sản phẩm của các công ty Việt Nam có uy tín trên thị trường nội địa hoặc xâm phạm SHTT có yếu tố nước ngoài sẽ phát triển và có diễn biến phức tạp trong thời gian tới, gây khó khăn cho công tác đấu tranh của cơ quan chức năng.

            - Về nhóm các tội xâm phạm an toàn công cộng: Cần chú ý những hành vi lợi dụng các thành tự khoa học công nghệ để tiến hành các vụ lừa đảo thông quan các giao dịch kinh tế, thương mại, văn hóa và du lịch. Bên cạnh đó, cần chú ý hành vi rửa tiền. Các đối tượng phạm tội sẽ tìm mọi cách để hợp thức hóa tiền kiếm được bằng các hoạt động buôn lậu, tham nhũng, buôn ma túy, vũ khí… để rồi được “rửa sạch” thông qua các hoạt động đầu tư từ nước ngoài vào Việt Nam hoặc từ Việt Nam ra nước ngoài.

          - Về nhóm các tội phạm trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và các tội phạm tham nhũng

Tình hình tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đang hết sức nghiêm trọng, gây thiệt hại hàng năm hàng trăm nghìn tỷ đồng. Bên cạnh những tội phạm trốn thuế, chuyển giá, buôn lậu, gian lận tài chính gia tăng trong thời gian vừa qua, trên thị trường tài chính sẽ xuất hiện loại tội phạm làm sai lệch và công bố thông tin không chính xác, thiếu đầy đủ, cập nhật đã có tác động xấu đến thị trường và tiềm ẩn rủi ro đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp đối tác. Ngoài ra, thông tin “gốc” bị khai thác cho các mục đích thu lợi thông qua các thủ đoạn như mua bán nội gián, bán khống, cho vay chứng khoán, lũng đoạn thị trường, thâu tóm và sáp nhập doanh nghiệp... nhằm thu lợi bất chính, phạm pháp, hơn thế nữa còn tiềm ẩn nguy cơ gây ra những đổ vỡ khôn lường theo kiểu chấn động dây chuyền, làm mất ổn định chung đời sống kinh tế-xã hội khu vực và quốc gia.

Vấn nạn tham nhũng trong các doanh nghiệp Nhà nước không những gây ra thất thoát và làm thiệt hại rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước mà còn làm hủy hoại đến sự phát triển của doanh nghiệp, đến sự phát triển của một ngành mà còn làm ảnh hưởng đến sự phát triển chung của nền kinh tế nước Nhà. Các vụ án nổi cộm như tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin), hậu quả để lại khoản nợ trên 80.000 tỷ Đồng; sự phá sản của Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines); các sai phạm tại Công ty cho thuê tài chính II của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam, sai phạm tại các Tổng công ty PVC, PV EIC của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và hàng loạt các sai phạm ở các Tập đoàn và Tổng công ty nhà nước, khác theo sự kết luận của Thanh tra Chính phủ và Kiểm toán nhà nước.

2.2. Xây dựng Cộng đồng ASEAN là nhiệm vụ trọng tâm và xuyên suốt của Việt Nam và các nước thành viên, trong đó AEC sẽ là cơ hội tốt để Việt Nam nhanh chóng bắt nhịp với xu thế và trình độ phát triển kinh tế của khu vực và thế giới. Để góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tội phạm kinh tế trong điều kiện hình thành Cộng đồng ASEAN, cần chú ý thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất: Trên cơ sở tổ chức phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế, Cảnh sát kinh tế phải phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong hệ thống pháp luật và cơ chế, chính sách mà tội phạm kinh tế lợi dụng hoạt động, nhất là những chính sách về quản lý kinh tế, từ đó kiến nghị các cấp sửa đổi, bổ sung kịp thời. Bên cạnh đó, phải tham mưu xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật mang tính đồng bộ, chặt chẽ không để tội phạm kinh tế lợi dụng hoạt động. Tham mưu Bộ Công an đề xuất Chính phủ ký kết và triển khai có hiệu quả các Hiệp định, Nghị định tương trợ tư pháp với các quốc gia, nhất là các quốc gia có mối quan hệ xuất nhập khẩu hàng hóa thường xuyên hoặc có nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam. Nghiên cứu kỹ những điều khoản, hợp đồng kinh tế; những hiệp định kinh tế mà Việt Nam đã ký kết với các nước để chủ động có kế hoạch phòng ngừa, đấu tranh. Đối với các vụ án kinh tế và thông lệ quốc tế, không vì giải quyết vụ án kinh tế mà ảnh hưởng đến môi trường đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

Thứ hai: Thường xuyên làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tham gia tố giác tội phạm, nhất là tội phạm kinh tế có yếu tố nước ngoài. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, doanh nghiệp trong công tác trao đổi thông tin để các cơ quan, doanh nghiệp kịp thời nắm bắt thông tin về thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm, về đối tác, về pháp luật trong nước, pháp luật và thông lệ quốc tế. Từ đó các cơ quan, doanh nghiệp chủ động trong sản xuất, kinh doanh, hội nhập quốc tế, phòng ngừa những vi phạm và tội phạm.

Thứ ba: Tập trung làm tốt công tác nghiệp vụ cơ bản trên tất cả các lĩnh vực phòng chống tội phạm kinh tế, đặc biệt đáng chú ý là:

Làm tốt công tác điều tra cơ bản nhằm chủ động nắm chắc tình hình, địa bàn tuyến trọng điểm, phát hiện và xử lý kịp thời các hành vi phạm pháp luật về kinh tế. Việc thu thập thông tin theo lĩnh vực, địa bàn và ngành hàng trọng điểm phải được mở rộng bằng nhiều hình thức, từ nhiều nguồn, đảm bảo hồ sơ điều tra cơ bản phải phục vụ đắc lực cho công tác nắm tình hình và chủ động phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn kịp thời các hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra cơ bản tuyến, lĩnh vực, ngành hàng trọng điểm cần chú ý việc thu thập, tổng hợp phân tích thông tin tài liệu qua các phương tiện thông tin đại chúng, các nguồn thông tin trên mạng, các thông tin từ đối tác trong và ngoài nước. Những thông tin thu thập được phải tích lũy, tổng hợp và phân tích sâu sắc để nắm chắc tình hình địa bàn, tuyến, lĩnh vực, ngành hàng trọng điểm phục vụ tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

 Tập trung chủ yếu vào các ngành: ngân hàng, tài chính, kho bạc, thuế, giao thông, xây dựng, y tế, giáo dục, các chương trình phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn và các tuyến, ngành hàng trọng điểm, như: tuyến biên giới, cửa khẩu, tuyến quốc lộ 1A, tuyến biển…

Nâng cao chất lượng công tác sưu tra đối tượng kinh tế là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Để phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả hoạt động của tội phạm kinh tế, nhất là các đối tượng, các vụ việc có yếu tố nước ngoài, trên cơ sở kết quả công tác sưu tra, nếu phát hiện người, việc hiện tượng nghi vấn hoạt động phạm tội, phải tiến hành xác lập và tổ chức xác minh hiềm nghi để có kết luận chính xác nhằm đảm bảo phát hiện được tội phạm và phòng ngừa oan sai.

Thứ tư: Chủ động phát hiện, tổ chức điều tra triệt để, xử lý nghiêm minh những đối tượng chủ mưu, cầm đầu trong các vụ án về kinh tế, nhất là các vụ án kinh tế có yếu tố nước ngoài. Đảm bảo tính răn đe giáo dục kịp thời.

Tăng cường công tác đấu tranh chuyên án, có sự chỉ đạo tập trung, thống nhất phối hợp chặt chẽ của nhiều lực lượng, sử dụng đồng bộ các biện pháp, phương tiện kỹ thuật, chiến thuật nghiệp vụ, nhằm vào những đối tượng nguy hiểm phức tạp đã xác định để phòng ngừa, ngăn chặn, khám phá, truy bắt tội phạm, đảm bảo kịp thời, hiệu quả. Đồng thời, xác định nguyên nhân, điều kiện của tội phạm, mở rộng công tác điều tra nghiên cứu và kiến nghị các cơ quan chức năng và doanh nghiệp có biện pháp khắc phục kịp thời, bịt kín những sơ hở thiếu sót không để tội phạm kinh tế lợi dụng hoạt động. Trong đấu tranh chuyên án phải chú trọng áp dụng biện pháp trinh sát bí mật. Khi đã khởi tố vụ án, phải phối hợp chặt chẽ với viện kiểm soát khi quyết định các biện pháp ngăn chặn, thu giữ tài sản… Với những vụ án kinh tế có yếu tố nước ngoài, đảm bảo yêu cầu đấu tranh chống tội phạm kiên quyết, triệt để, nhưng không ảnh hưởng đến môi trường đầu tư.

Thứ năm: Đối mới công tác đào tạo cán bộ đáp ứng yêu cần công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm kinh tế trong hình hình mới.

Các cơ sở đào tạo chuyên ngành cảnh sát kinh tế của Bộ cần phải phối hợp chặt chẽ với Cục Cảnh sát kinh tế, các Cục an ninh kinh tế trong xây dựng chương trình, giáo trình chuyên sâu về công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong tình hình mới để đào tạo và đào tạo lại nghiệp vụ hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm. Trong đó, cần chú ý trang bị những kiến thức chuyên sâu cho sinh viên chuyên ngành Cảnh sát kinh tế về nghiệp vụ quản lý kinh tế, kế toán, kiểm toán; quản trị doanh nghiệp và quản lý kinh doanh thương mại và tài chính ngân hàng. Đối với cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của lực lượng cũng phải chú ý đào tạo và đào tạo lại để nâng cao nhận thức và năng lực chỉ đạo hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Tăng cường trang bị phương tiện cho lực lượng cảnh sát kinh tế theo hướng chuyên sâu, từng bước hiện đại hóa đáp ứng yêu cầu phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm trong tình hình mới.

Thứ sáu: Tăng cường hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm kinh tế, trong đó cần chú ý thực hiện tốt các nội dung sau:

Tổ chức thực hiện có hiệu quả các điều ước quốc tế đa phương, song phương, các hiệp định, nghị định tương trợ tư pháp hình sự, các văn bản pháp quy đã ký kết về hợp tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm giữa Việt Nam với các quốc gia. Tham mưu cho lãnh đạo Bộ Công an đề xuất Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật quốc tế làm cơ sở cho hoạt động hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm cho phù hợp với tình hình hiện nay. Đồng thời, xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý liên quan đến hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng. Bên cạnh đó, phải chủ động phối hợp với các đơn vị liên quan tham mưu cho Bộ Công an xây dựng và hoàn thiện quy trình tiếp nhận, xử lý thông tin tội phạm nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng là một yêu cầu quan trọng trong tình hình hội nhập quốc tế hiện nay. Tham gia xây dựng các chính sách, quy trình, quy chế hoạt động của các doanh nhân nước ngoài trong các hoạt động thương mại, đầu tư, dịch vụ nhằm loại bỏ được các doanh nghiệp xấu, lừa đảo từ nước ngoài vào cũng như hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật của các doanh nghiệp nước ngoài.

Kết nối mạng thông tin tội phạm kinh tế với Cảnh sát các nước ASEAN và với Interpol. Tăng cường giao lưu, trao đổi kinh nghiệm công tác nghiệp vụ Công an và công tác bảo vệ kinh tế của một số nước đã trải qua giai đoạn đầu của hội nhập kinh tế quốc tế hoặc có hoàn cảnh kinh tế như nước ta đã vào WTO để học tập những kinh nghiệm quý báu, tránh những bỡ ngỡ ban đầu, thích ứng nhanh với quá trình hội nhập. Nắm bắt tình hình kịp thời và đưa ra được những giải pháp đúng đắn nhất, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị của lực lượng Cảnh sát kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Trung tướng, GS. TS. Nguyễn Xuân Yêm - Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới trong tình hình mới"  tháng 1/2015 tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác