Thứ Sáu, 18/10/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Những điểm mới trong Luật Hải quan 2014 liên quan đến công tác đấu tranh chống tội phạm buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo chức năng của lực lượng Kiểm soát Hải quan

1. Giới thiệu chung về Luật Hải quan năm 2014

Ngày 23/6/2014, tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội Khóa XIII đã thông qua Luật Hải quan số 54/2014/QH13 với 91,16% số phiếu tán thành (sau đây gọi là Luật Hải quan năm 2014). Ngày 30/6/2014, Chủ tịch nước ký Lệnh số 12/2014/SL-CTN công bố Luật Hải quan. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015.

- Quan điểm xây dựng Luật Hải quan năm 2014: Quan điểm xuyên suốt trong quá trình xây dựng Luật Hải quan năm 2014 là đổi mới toàn diện hoạt động hải quan thông qua tạo điều kiện áp dụng quản lý hải quan hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền và an ninh quốc gia; góp phần thu hút đầu tư nước ngoài và nâng cao sức cạnh tranh trong nước và quốc tế của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. 

- Mục tiêu xây dựng Luật Hải quan năm 2014: (a) Góp phần tạo nền tảng pháp luật thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 đã được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Chiến lược phát triển ngành Tài chính, chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; tháo gỡ vướng mắc phát sinh, bất cập chồng chéo trong hệ thống pháp luật hải quan, đảm bảo đồng bộ với các pháp luật liên quan; (b) Sửa đổi, bổ sung những quy định phù hợp với các cam kết quốc tế Việt Nam mới tham gia nhất là từ khi gia nhập Tổ chức thương mại quốc tế (WTO) và chuẩn bị cơ sở pháp luật để phục vụ hội nhập sâu, rộng hơn trong giai đoạn tới; (c) Sửa đổi, bổ sung các quy định nhằm cải cách thủ tục hải quan theo hướng đơn giản, rõ ràng, công khai, thuận tiện, thống nhất, tạo thuận lợi thương mại, thực hiện hải quan điện tử, một cửa quốc gia; (d) Nâng cao hiệu lực và hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh kinh tế; trong phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan với cơ quan hải quan trong việc thực hiện pháp luật hải quan.

- Bố cục của Luật Hải quan năm 2014: Luật Hải quan năm 2014 được bố cục thành 8 chương gồm 104 điều, cụ thể:

- Chương I: Những quy định chung: gồm 11 điều (từ Điều 1 đến Điều 11).

- Chương II: Nhiệm vụ, tổ chức của hải quan: gồm 4 điều (từ Điều 12 đến Điều 15).

- Chương III: Thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra, giám sát hải quan: có 67 điều, chia thành 9 mục (từ Điều 16 đến Điều 82): Mục 1. Quy định chung; Mục 2. Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp; Mục 3. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, tài sản di chuyển, hành lý; Mục 4. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu để gia công, sản xuất hàng hóa xuất khẩu; Mục 5. Kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa tại kho ngoại quan, kho bảo thuế, địa điểm thu gom hàng lẻ; Mục 6. Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa vận chuyển chịu sự giám sát hải quan; Mục 7. Thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với phương tiện vận tải; Mục 8. Kiểm tra, giám sát, tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu có yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; Mục 9. Kiểm tra sau thông quan.

- Chương IV: Tổ chức thu thuế và các khoản thu khác đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: gồm 4 điều (từ Điều 83 đến Điều 86).

- Chương V: Phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới: gồm 6 điều (từ Điều 87 đến Điều 92).

- Chương VI: Thông tin hải quan và thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu: gồm 6 điều, chia thành 2 mục (từ Điều 93 đến Điều 98): Mục 1. Thông tin hải quan; Mục 2. Thống kê hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

 - Chương VII: Quản lý nhà nước về hải quan: gồm 2 điều (Điều 99 và Điều 100);

- Chương VIII: Điều khoản thi hành: gồm 4 điều (từ Điều 101 đến Điều 104);

2. Một số điểm mới của Luật Hải quan năm 2014

Thứ nhất, Quy định về địa bàn hoạt động hải quan được bổ sung đầy đủ và minh bạch hơn, Tại Điều 7 - Luật Hải quan năm 2014 quy định rõ về phạm vi địa bàn hoạt động của hải quan. Theo đó:

- Đối với địa bàn đã được quy định là địa bàn hoạt động hải quan: Luật hải quan chuẩn hóa lại tên gọi của cảng biển, cảng thủy nội địa cho phù hợp với pháp luật có liên quan (Luật hàng hải, Luật Giao thông đường thủy).

Bổ sung các địa điểm là địa bàn hoạt động hải quan, gồm: Khu vực, địa điểm khác đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, được phép xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; khu vực đang lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát Hải quan.

Thứ hai, thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử

Các nội dung của Luật Hải quan quy định trên cơ sở thủ tục hải quan được thực hiện chủ yếu bằng phương thức điện tử. Đây là phương thức căn bản để giảm bớt thời gian và chi phí làm thủ tục hải quan cho cả người khai hải quan và cơ quan hải quan, tạo thuận lợi cho việc thông quan hàng hóa nhanh chóng. Tại khoản 2 Điều 29 Luật hải quan quy định việc khai Hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử, việc khai trên tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định.

Thứ ba, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính về hải quan. Tại khoản 1 điều 24 của Luật quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan theo đó: chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan, đối với các chứng từ khác thuộc hồ sơ hải quan giao Bộ Tài chính quy định cụ thể trường hợp phải nộp hoặc xuất trình phù hợp với quy định của pháp luật liên quan.

Về thời hạn cơ quan hải quan làm thủ tục hải quan: tại Điều 23 của Luật đã quy định rõ công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc kể từ thời điểm cơ quan hải quan tiếp nhận đầy đủ hồ sơ hải quan; thời gian kiểm tra thực tế hàng hóa là 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai hải quan xuất trình đầy đủ hàng hóa cho cơ quan hải quan (Luật hiện hành là 02 ngày làm việc); trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời gian gia hạn tối đa không quá 2 ngày. Khoản 4 Điều 23 Luật hải quan cũng quy định rõ Cơ quan hải quan thực hiện thủ tục hải quan đối với hàng hóa vào ngày lễ, ngày nghỉ và ngoài giờ làm việc để bảo đảm kịp thời việc xếp dỡ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, việc xuất cảnh, nhập cảnh của hành khách, phương tiện vận tải hoặc trên cơ sở đề nghị của người khai hải quan và phù hợp với điều kiện thực tế của địa bàn hoạt động hải quan.

Thứ tư, áp dụng đầy đủ nguyên tắc quản lý rủi ro trong kiểm tra, giám sát hải quan. Điều 17 Luật Hải quan quy định các các nội dung mang tính nguyên tắc về quản lý rủi ro trong hoạt động nghiệp vụ hải quan, theo đó cơ quan hải quan sẽ áp dụng quản lý rủi ro để quyết định việc kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải; hỗ trợ hoạt động phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Khoản 2 Điều 17 Luật hải quan cũng quy định cụ thể hoạt động quản lý rủi ro, bao gồm việc thu thập, xử lý thông tin hải quan; xây dựng tiêu chí và tổ chức đánh giá việc tuân thủ pháp luật của người khai hải quan, phân loại mức độ rủi ro; tổ chức thực hiện các biện pháp quản lý hải quan phù hợp.

Thứ năm, Luật Hải quan 2014 (từ Điều 77 đến Điều 82) quy định cụ thể hoạt động kiểm tra sau thông quan để Doanh nghiệp có thể giám sát việc thực thi của cơ quan Hải quan.Điều 32 Luật Hải quan 2001 quy định về kiểm tra sau thông quan nhưng chưa quy định rõ về địa điểm tiến hành kiểm tra sau thông quan, quyền, nghĩa vụ của các bên có liên quan trong quá trình kiểm tra sau thông quan nên khó khăn trong quá trình thực hiện.

Tại các Điều từ 77 đến Điều 82 quy định rõ về kiểm tra sau thông quan tập trung vào một số nội dung về: các trường hợp kiểm tra sau thông quan, địa điểm kiểm tra; nội dung kiểm tra, cách thức xử lý kết quả kiểm tra; thẩm quyền quyết định kiểm tra sau thông quan. Quy định cụ thể quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của trưởng đoàn kiểm tra; quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan.

Thứ sáu, quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan trong lĩnh vực Hải quan.Luật Hải quan hiện hành chưa quy định đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu như: doanh nghiệp kinh doanh vận tải, kinh doanh cảng, kho bãi, doanh nghiệp xếp dỡ… dẫn đến khó khăn cho cơ quan hải quan trong việc yêu cầu cung cấp thông tin liên quan đến hàng hóa xuất nhập khẩu, xác định trách nhiệm của các bên liên quan trong quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu... Ngoài ra, Luật hiện hành chưa có quy định trách nhiệm của các cơ quan liên quan trong việc bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, khu vực xếp hàng hóa, khu vực kiểm tra thực tế hàng hóa khi quy hoạch, xây dựng cảng, cửa khẩu… Vì thế nhiều cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan khi được thành lập không có mặt bằng để bố trí địa điểm làm thủ tục hải quan, hàng hóa được xếp đặt không khoa học, không phân biệt khu vực chứa hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu với khu vực chứa hàng hóa nội địa nên khó khăn cho công tác quản lý hải quan.

Để khắc phục bất cập nêu trên, Luật Hải quan đã bổ sung, quy định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên liên quan trong các hoạt động đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu. Cụ thể:

- Tại các Điều 18, 40, 82: Quyền, nghĩa vụ của người khai hải quan, chủ hàng trong việc làm thủ tục hải quan, thực hiện chế độ kiểm tra, giám sát hải quan. 

- Tại các Điều 19, 39, 81: Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan hải quan, công chức hải quan.

- Tại Điều 40, Điều 41, Điều 63: Trách nhiệm của người vận chuyển trong giám sát hải quan; trách nhiệm của doanh nghiệp kinh doanh kho, bãi, cảng.

- Tại Điều 22: Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân, cơ quan có thẩm quyền khi quy hoạch, thiết kế xây dựng cảng, cửa khẩu, khu phi thuế quan...

- Tại Điều 24: Trách nhiệm của các Bộ quản lý chuyên ngành khi thực hiện cơ chế một cửa quốc gia.

- Tại Điều 91: Quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

3. Những điểm mới trong Luật Hải quan năm 2014 liên quan đến công tác đấu tranh chống tội phạm buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới theo chức năng của lực lượng kiểm soát hải quan

Qua thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới cho thấy nhiều quy định về phạm vi, biện pháp, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới trong Luật Hải quan 2001 chưa đầy đủ so với thực tế tổ chức triển khai thực hiện, một số quy định hiện đang được thực hiện tại các văn bản dưới Luật dẫn đến những hạn chế hiệu quả hoạt động của công tác này.

Nhằm khắc phục những hạn chế nói trên, Luật Hải quan năm 2014 quy định theo hướng tăng cường hoạt động của cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong công tác đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới; tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các tổ chức, cá nhân có liên quan với cơ quan hải quan trong việc thực hiện pháp luật hải quan.

Trong Luật Hải quan năm 2014, Chương V là Chương quy định về phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Chương này gồm 6 điều từ Điều 87 đến Điều 92, trong đó: giữ nguyên 01 điều (Điều 87), sửa đổi 04 điều (Điều 88, Điều 89, Điều 90, Điều 92), bổ sung 01 điều (Điều 91). So với Luật Hải quan năm 2001, Luật Hải quan năm 2014 đã được bổ sung nhiều quy định mang tính quan trọng, nâng cao thẩm quyền của cơ quan hải quan trong công tác phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, cụ thể như sau:

Một là, phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 88). Phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới quy định trong Luật Hải quan năm 2014 đã bổ sung thêm 04 quy định mới, cụ thể là:

- Về quyền truy đuổi liên tục: Luật hải quan 2001 quy định: trong phạm vi địa bàn hoạt động hải quan cơ quan hải quan chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, kiểm soát đối với hàng hóa, phương tiện vận tải. Ngoài địa bàn hoạt động hải quan cơ quan Hải quan phải phối hợp với các lực lượng chức năng khi tiến hành bắt giữ hàng hóa buôn lậu, chưa có quy định cho phép cơ quan hải quan thực hiện việc truy đuổi, bắt giữ hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới từ trong địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động. Trong nhiều trường hợp do việc phối hợp không kịp thời đã không ngăn chặn được vi phạm.

Để kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, tại Điều 88 Luật hải quan năm 2014 đã bổ sung quy định sau:

+ Cơ quan hải quan tiếp tục truy đuổi khi có căn cứ xác định hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới, phương tiện vận tải chở hàng hóa buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan.

- Về giám sát đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan đang vận chuyển trên các tuyến đường:

Để đảm bảo giám sát, kiểm soát được hàng hóa, phương tiện vận tải ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan nhưng vẫn đang chịu sự giám sát, kiểm soát hải quan như đối với hàng hóa, phương tiện vận tải tạm nhập - tái xuất, tạm xuất - tái nhập, quá cảnh cho đến khi hàng hóa, phương tiện vận tải đã thực xuất, thực nhập hay thay đổi mục đích sử dụng hoặc ra khỏi lãnh thổ Việt Nam, Luật Hải quan năm 2014 đã bổ sung quy định: Đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan đang vận chuyển trên các tuyến đường, cơ quan hải quan có trách nhiệm giám sát bằng các biện pháp nghiệp vụ hải quan; khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan kiểm tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

- Về tuần tra, kiểm soát trên biển: Ngày 21/06/2012 Quốc hội đã thông qua Luật Biển Việt Nam, theo đó tại khoản 2 Điều 14 Luật này quy định: Nhà nước thực hiện kiểm soát trong vùng tiếp giáp lãnh hải nhằm ngăn ngừa và trừng trị hành vi vi phạm pháp luật về hải quan, thuế, y tế, xuất nhập cảnh xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.

Ngoài ra, tại khoản 1 Điều 47 Luật này cũng quy định: Lực lượng tuần tra, kiểm soát trên biển bao gồm: các lực lượng có thẩm quyền thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, các lực lượng tuần tra, kiểm soát chuyên ngành khác.

Để đảm bảo phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động kiểm soát hải quan, phù hợp với quy định của Luật Biển Việt Nam, bảo đảm chủ động trong hoạt động kiểm soát hải quan, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia trên biển, Luật Hải quan năm 2014 đã bổ sung quy định sau: Cơ quan hải quan thực hiện, phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, nhằm ngăn ngừa hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

- Về thẩm quyền quy định chi tiết biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan, trách nhiệm phối hợp của cơ quan hữu quan với cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới:

Luật Hải quan năm 2014 giao Chính phủ quy định chi tiết biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan; trách nhiệm phối hợp của cơ quan hữu quan với cơ quan hải quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Quy định này nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc ban hành những văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành Luật Hải quan năm 2014.

Hai là, về thẩm quyền của cơ quan hải quan trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 89). Luật Hải quan năm 2014 không sử dụng thuật ngữ “nghiệp vụ trinh sát” như Luật hải quan năm 2001 mà sử dụng thống nhất thuật ngữ “biện pháp nghiệp vụ kiểm soát hải quan”. Theo đó, khi tiến hành kiểm soát hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan được áp dụng biện pháp tuần tra, điều tra, xác minh hoặc biện pháp nghiệp vụ khác theo quy định của Luật Hải quan, pháp luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật tổ chức điều tra hình sự. Luật Hải quan năm 2014 cũng quy định cụ thể cơ quan hải quan có quyền sử dụng: cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi, loa; sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (khoản 5 Điều 89).

Ba là, về thẩm quyền của cơ quan hải quan, công chức hải quan trong việc xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 90 Luật Hải quan năm 2014 quy định cơ quan hải quan có thẩm quyền dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm trong trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới. Các quy định này nhằm bảo đảm phù hợp với đặc thù của hoạt động chống buôn lậu, phạm vi địa bàn ở vùng cửa khẩu giáp biên giới, sân bay, trên biển; nếu không được dừng phương tiện vận tải; tạm giữ ngay người có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới thì các đối tượng sẽ nhanh chóng tẩu thoát sang bên kia biên giới hoặc lên máy bay, phương tiện vận tải khác để xuất cảnh.

Để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tại Điều 102 Luật Hải quan năm 2014 sửa đổi, khoản 1 Điều 122 Luật xử lý vi phạm hành chính theo hướng bổ sung trường hợp tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Khoản 1 Điều 90 Luật Hải quan năm 2014 cũng quy định rõ thẩm quyền áp dụng các biện pháp nêu trên là Chi cục trưởng Chi cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát thuộc Cục Hải quan, Đội trưởng Đội Kiểm soát chống buôn lậu và Hải đội trưởng Hải đội Kiểm soát trên biển thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu.

Như vậy, để phù hợp với Luật Xử lý vi phạm hành chính, thống nhất với các quy định của Luật Biển Việt Nam, Luật Hải quan năm 2014 đã bổ sung thẩm quyền của Hải đội trưởng Hải đội kiểm soát trên biển trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, dừng, truy đuổi phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm.

Bốn là,quyền và nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới (Điều 91: Luật Hải quan năm 2001 mới chỉ quy định trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan hải quan trong việc phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới không quy định rõ quyền, nghĩa vụ của các đối tượng có liên quan khi cơ quan Hải quan thực hiện các quyền của mình.

Luật Hải quan năm 2014 đã bổ sung Điều 91để quy định cụ thể quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân có liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, trong đó khoản 1 quy định về quyền, khoản 2 quy định về nghĩa vụ.

Theo khoản 1 Điều 91, tổ chức và cá nhân liên quan có những quyền sau: (a) Cung cấp các thông tin, hồ sơ tài liệu và chứng cứ liên quan đến vụ việc vi phạm cho cơ quan hải quan; đề nghị cơ quan hải quan trưng cầu giám định để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; (b) Được bảo vệ bí mật, bảo vệ tính mạng và được hưởng các đãi ngộ theo quy định của pháp luật khi cung cấp thông tin, tố giác, tố cáo về các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Xuất phát từ thực tế trong quá trình điều tra, xác minh làm rõ hành vi vi phạm, cơ quan Hải quan (cũng như các cơ quan chức năng khác) cần phải thu thập chứng cứ, lấy lời khai người có hành vi vi phạm, nghi can, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Tuy nhiên, Luật Hải quan năm 2001 không quy định nghĩa vụ của những người này trên thực tế họ thường không chấp hành yêu cầu của cơ quan Hải quan, làm hạn chế hiệu quả hoạt động phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới của cơ quan hải quan. Do vậy, khoản 2 Điều 91 đã bổ sung các nghĩa vụ của tổ chức, các nhân có liên quan trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới như sau: (a) Người điều khiển, người có mặt trên phương tiện vận tải phải chấp hành lệnh dừng phương tiện, khám xét và xuất trình giấy tờ, chứng từ, tài liệu theo yêu cầu của công chức hải quan. Người điều khiển phương tiện vận tải có trách nhiệm cung cấp sơ đồ hầm hàng, chỉ dẫn, mở nơi nghi vấn cất giữ hàng hóa trên phương tiện vận tải để công chức hải quan tiến hành khám xét; (b) Tổ chức tín dụng, tổ chức bảo hiểm có nghĩa vụ cung cấp hồ sơ, tài liệu liên quan đến các giao dịch thanh toán, giao dịch bảo hiểm theo yêu cầu của cơ quan hải quan để phục vụ hoạt động điều tra, xác minh và xử lý các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; (c) Tổ chức và cá nhân có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh có nghĩa vụ cung cấp thông tin, hồ sơ, tài liệu liên quan phục vụ hoạt động điều tra, xác minh và xử lý hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; có mặt tại trụ sở cơ quan hải quan để giải trình các nội dung liên quan khi được yêu cầu.

Năm là, trang bị và sử dụng thiết bị kỹ thuật (Điều 92): Để đảm bảo tính minh bạch của pháp luật cũng như để nâng cao hiệu quả hoạt động của hải quan trong việc thực hiện nhiệm vụ phòng, chống buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, tại Điều 92 của Luật Hải quan năm 2014 quy định cụ thể hơn các thiết bị mà cơ quan hải quan được sử dụng như: thiết bị quan sát, soi chiếu, công nghệ sinh hóa, thiết bị cơ khí, điện, điện tử và các phương tiện khác.

Tóm lại, theo quy định của Luật Hải quan năm 2014, phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền của cơ quan hải quan trong phòng chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới được bổ sung thêm nhiều quy định mới như: tiếp tục truy đuổi từ trong địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động; Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật thì cơ quan hải quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan kiểm tra, xử lý đối với hàng hóa chịu sự giám sát hải quan đang vận chuyển trên các tuyến đường; Thực hiện, phối hợp thực hiện tuần tra, kiểm soát tại vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, thực hiện các biện pháp ngăn chặn và xử lý vi phạm theo thẩm quyền trong vùng nội thủy, lãnh hải phù hợp với quy định của Luật biển Việt Nam; được dừng phương tiện vận tải, tạm giữ người, áp giải người vi phạm trong trường hợp có căn cứ cho rằng có hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; sử dụng cờ hiệu, đèn hiệu, pháo hiệu, còi, loa; sử dụng vũ khí và công cụ hỗ trợ khi thực hiện nhiệm vụ.

Luật Hải quan bổ sung các quy định này nhằm bảo đảm phù hợp với đặc thù của hoạt động phòng,chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, đặc biệt trên các địa bàn ở vùng cửa khẩu giáp biên giới, sân bay, trên biển.

Để hướng dẫn thi hành những điểm mới trên của Luật Hải quan năm 2014, Bộ Tài chính chủ trì xây dựng trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định là Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan và Nghị định quy định chi tiết phạm vi địa bàn hoạt động hải quan; quan hệ phối hợp trong phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

ThS. Đặng Công Thành - Trưởng phòng, Tổng cục Hải quan

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới trong tình hình mới" tháng 1/2015 tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác