Thứ Sáu, 22/2/2019
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số công nghệ nền tảng của cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 và yêu cầu đối với công tác đào tạo trong các nhà trường Công an nhân dân

1. Xu thế công nghệ trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0

Hiện nay, thế giới đang trải qua cuộc cách mạng công nghiệp (CMCN) thay đổi căn bản cách thức con người sống, làm việc và quan hệ hợp tác cùng nhau. Với quy mô, phạm vi ảnh hưởng và độ phức tạp, sự chuyển dịch của xã hội loài người từ cuộc cách mạng này sẽ hoàn toàn khác với những gì mà nhân loại đã kinh qua trước đây. Hiện nay, chúng ta chưa định hình được sự thay đổi này sẽ xảy ra như thế nào nhưng một điều chắc chắn rằng cách tiếp cận của mỗi quốc gia đối với cơ hội và thách thức do cuộc cách mạng này đem lại sẽ mang tính tích hợp, toàn diện.

Trong lịch sử nhân loại, các chuyên gia đã phân định 4 giai đoạn lịch sử của các cuộc cách mạng công nghiệp. Bốn cuộc cách mạng này có đặc trưng cơ bản liên quan tới sự cơ giới hóa trong quá trình sản xuất. Đó là:

- Cuộc CMCN 1.0 (từ năm 1784): Sử dụng máy hơi nước trong quá trình sản xuất;

- Cuộc CMCN 2.0 (từ năm 1870): Sử dụng điện năng phục vụ sản xuất hàng loạt;

- Cuộc CMCN 3.0 (từ năm 1969): Liên quan tới công nghệ điện tử, bán dẫn và công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ việc tự động hóa quá trình sản xuất;

- Cuộc CMCN 4.0 (đầu thế kỷ 21): Đang bước đầu chuyển dịch từ cuộc cách mạng lần 3.

Cuộc cách mạng mới nhất dựa trên cuộc cách mạng số xảy ra từ cuối Thế kỷ 20. Cuộc cách mạng này có bản chất là sự hợp nhất của những công nghệ, tạo sự liên kết giữa không gian Vật lý, Số và Sinh học. Hệ thống ở đây là “cyber - physical systems” (CPS). Đó là những hệ thống vật lý phỏng sinh học trong không gian điều khiển. Thuật ngữ CMCN 4.0 sử dụng chủ yếu ở Châu Âu, đặc biệt là Đức [1]. Đối với các nước nói tiếng Anh, nhất là Mỹ, thì thuật ngữ hay được dùng là Internet công nghiệp (Industrial Internet).

Chúng ta đang tiến vào CMCN 4.0, trong đó công nghệ máy tính và kỹ thuật điều khiển tự động hóa sẽ tích hợp vào nhau theo một phương thức mới. Theo đó, các Robot sẽ được kết nối từ xa với các hệ thống tính toán, cài đặt các thuật toán thông minh (trí tuệ nhân tạo) để điều khiển sự vận hành của các Robot với sự can thiệp tối thiểu từ con người. Đây là các hệ thống tích hợp thực và ảo (CPS) gồm những thành phần vật lý, dữ liệu, CNTT và truyền thông. Các hệ thống này sẽ biến đổi những nhà máy sản xuất truyền thống thành những nhà máy thông minh với mục tiêu là các thiết bị máy móc có thể tương tác, nói chuyện với nhau trong khi các sản phẩm và thông tin được xử lý và phân bố trong thời gian tức thời. Hiện nay, một nhận thức chung coi CMCN 4.0 được xây dựng trên nền tảng của 9 công nghệ lõi - các thành phần cơ bản của cuộc cách mạng công nghiệp. Đó là robot tự hành (Autonomous Robots), dữ liệu lớn (Big Data), thực tại tăng cường (Augmented Reality), sản xuất tăng dần [2] (Additive Manufacturing), điện toán đám mây (Cloud Computing), an ninh không gian mạng (Cybersecurity), Internet vạn vật (Internet of Things), tích hợp hệ thống (System Integration) và mô phỏng (Simulation). (1). Dữ liệu lớn: Một trong những thách thức lớn nhất của dữ liệu là dung lượng của nó. Quá nhiều dữ liệu sẽ gây khó khăn cực lớn trong việc xác định thông tin phù hợp và xu thế biến thiên dữ liệu phục vụ các phân tích có tính thông minh. Để xử lý khó khăn này, dữ liệu lớn và các giải thuật phân tích chúng được áp dụng. (2). Điện toán đám mây: Các ngành công nghiệp hiện nay đang chuyển dịch sang giải pháp dựa trên các đám mây và xu thế này vẫn tiếp tục. Đây là công nghệ nền tảng hỗ trợ các loại dịch vụ từ xa, đánh giá hiệu năng và nhiều lĩnh vực kinh doanh khác. Công nghệ này tiếp tục phát triển mạnh trong giai đoạn tới do ngày càng nhiều dữ liệu lưu trữ và chức năng tính toán trên máy sẽ chọn giải pháp đám mây thay vì các hệ thống tính toán riêng lẻ. (3). Internet vạn vật: Đây là công nghệ quan trọng nhất trong các giải pháp thúc đẩy CMCN 4.0. IoT là hệ thống các thiết bị tính toán, máy cơ khí và số hóa, đối tượng và con người có quan hệ liên kết với nhau. Mỗi thực thể sẽ được cấp một định danh (ID - identifier) duy nhất và có năng lực truyền tải dữ liệu trên mạng mà không cần tương tác với con người. Ví dụ, loại đồng hồ thông minh (iWatch của Apple) mới xuất hiện trên thị trường từ năm 2015 đã biến cổ tay của chúng ta thành nơi treo giữ điện thoại thông minh với khả năng nhắn tin, nhận cuộc gọi…. (4). Mô phỏng: Công nghệ mô phỏng các hệ thống cho phép đánh giá nhiều kịch bản khác nhau. Qua đó các giải pháp với chi phí hợp lý được phát triển, kiểm tra và thực thi một cách nhanh chóng để giảm chi phí và thời gian tiếp cận thị trường. (5). Robot tự hành được dùng trong việc tự động hóa sản xuất trên nhiều lĩnh vực khác nhau và dựa trên tính kết nối do IoT mang lại. IoT cho phép các thiết bị công nghiệp và máy tính nói chuyện được với nhau. Vật liệu có thể được vận chuyển trên toàn bộ mặt sàn nhà máy bởi các robot tự hành khi chúng tự tránh vật cản, phối hợp theo từng tổ vận chuyển và xác định vị trí bốc dỡ hàng hóa theo thời gian thực. Thông qua máy chủ trung tâm, các robot có thể được điều phối một cách thông minh và tự động hóa công việc với cấp độ chưa từng có trong lịch sử. (6). Thực tại tăng cường: Đây là công nghệ cho phép con người tích hợp và tương tác với các hệ thống một cách hiệu quả thông qua thông tin thời gian thực. Ví dụ, công nhân trong nhà máy có thể được đào tạo với công nghệ mô phỏng và cận cảnh 3D về trang thiết bị, cơ sở vật chất của nhà máy. (7). An ninh mạng trở thành một yêu cầu tối quan trọng khi con người chuyển từ các hệ thống đơn lẻ, biệt lập sang các hệ thống dựa trên công nghệ kết nối như IoT và điện toán đám mây. An toàn bảo mật thông tin và độ tin cậy của hệ thống đảm bảo sự thành công của một qui trình sản xuất hiện đại được số hóa, tận dụng tất cả tính ưu việt của môi trường kết nối. (8). Tích hợp hệ thống: Hầu hết các hệ thống hiện nay đang tự động hóa một cách riêng biệt và gặp khó khăn trong tương tác với nhau. Các tiêu chuẩn kỹ thuật và kiến trúc mở hỗ trợ sự thuận lợi trong trao đổi thông tin tới cả tổ chức và cá nhân. Các ngôn ngữ tiêu chuẩn chung phục vụ quá trình tương tác, trao đổi dữ liệu… cần được xây dựng hỗ trợ quá trình tích hợp hệ thống. (9). Sản xuất tăng dần (hay công nghệ in 3D) tiếp tục có vai trò quan trọng cho những ứng dụng lô nhỏ hoặc sản phẩm tùy biến theo sở thích từng cá nhân. Kỹ thuật này được dùng trực tiếp với khách hàng và nhà cung cấp để cải tiến thiết kế, tăng hiệu quả, độ linh hoạt và giá thành;

Có thể nói rằng CMCN 4.0 là sự hội tụ của các công nghệ số mang tính đột phá, làm thay đổi lĩnh vực sản xuất ngoài sức tưởng tượng, thúc đẩy bởi dung lượng dữ liệu khổng lồ, sự tích hợp và tính kết nối giữa các hệ thống, sự xuất hiện của những kỹ thuật phân tích dữ liệu và năng lực xử lý bí quyết/tình báo doanh nghiệp tiên tiến, các phương pháp học máy, sự cải tiến truyền tải mệnh lệnh dưới dạng số vào thế giới thực. Báo cáo này cho rằng, các công nghệ nền có tác động trực tiếp lên hoạt động nghiệp vụ của ngành Công an là an ninh mạng, Robot tự hành, dữ liệu lớn, điện toán đám mây, IoT và thực tại tăng cường. Đào tạo, bồi dưỡng trình độ nhân lực của lực lượng CAND trong giai đoạn tới cần ưu tiên nhiệm vụ nghiên cứu, triển khai và ứng dụng các trang thiết bị nghiệp vụ dựa trên các công nghệ nền tảng này. Có như vậy, chất lượng và trình độ nguồn nhân lực mới đảm đương và xứng tầm với trọng trách Đảng và Nhà nước trao cho lực lượng CAND, đặc biệt là bối cảnh quốc tế và kinh tế - xã hội trong nước ngày càng phức tạp, tinh vi.

2. Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0 đối với thế giới và Việt Nam

2.1. Hiện trạng năng lực của Việt Nam

Để đánh giá mức độ sẵn sàng của một quốc gia hay tổ chức đối với CMCN 4.0, một bộ tiêu chí đánh giá năng lực tiếp cận CMCN 4.0 được đề xuất bởi Hiệp hội công nghiệp kỹ nghệ cơ khí Đức (German Mechanical Engineering Industry Association - VDMA). Trong một bản đánh giá quốc tế về mức độ sẵn sàng cho CMCN 4.0 được thực hiện bởi chính phủ Ấn Độ và công ty kiểm toán Grant Thornton dựa trên bộ tiêu chí, Việt Nam cũng được đưa vào danh sách đánh giá gồm khoảng 15 quốc gia (chủ yếu là những quốc gia phát triển và những quốc gia Châu Á tiềm năng cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế với Ấn Độ). Theo đó, Việt Nam đang nhanh chóng trở thành lựa chọn ưa thích cho việc thiết lập cơ sở của nhiều doanh nghiệp khi họ muốn mở rộng sản xuất ở nước ngoài, thay thế cho Trung Quốc và Đài Loan. Việt Nam có lợi thế cạnh tranh với nhiều quốc gia khi tham gia các Hiệp định thương mại quốc tế quan trọng như TPP và đạt được Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu. Ngoài ra, Việt Nam có ưu thế về lực lượng lao động rẻ, khoảng cách địa lý gần với các chuỗi cung ứng đặt tại châu Á. Khu vực sản xuất của Việt Nam đã đạt giá trị 14.5 tỷ USD đầu tư nước ngoài FDI vào năm 2015. Tuy nhiên, hầu hết các ngành công nghiệp của Việt Nam mới dừng lại ở CMCN 2.0. Việt Nam đã có những sản phẩm CNTT và điện tử nhưng chất lượng và số lượng vẫn còn nhiều hạn chế. Do vậy, các doanh nghiệp sản xuất của Việt Nam đang tìm kiếm sự hỗ trợ từ chính phủ về chính sách và cải cách cho phép tiếp nhận những công nghệ và nguồn vốn đầu tư mới. Trong bối cảnh hiện trạng năng lực tiếp cận CMCN 4.0 của quốc gia như vậy, báo cáo này đề xuất một số gợi mở trong việc nâng cao năng lực và trang bị trình độ kỹ thuật cho nguồn nhân lực tại Việt Nam, đặc biệt là các cơ sở đào tạo của Bộ Công an, cho phù hợp với hoàn cảnh mới.

2.2. Tác động của Cách mạng công nghiệp 4.0

Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ có những ảnh hưởng căn bản lên từng quốc gia và mỗi cá nhân.

Mức độ tác động sẽ tùy thuộc vào năng lực thích nghi của mỗi quốc gia đối với làn sóng công nghệ do cuộc cách mạng này mang lại. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Các ảnh hưởng kinh tế - xã hội chính có liên quan tới nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia và TTATXH của Bộ Công an được tóm lược như sau.

Thứ nhất, khả năng lớn có sự phân cực trong lực lượng lao động (labor polarization). Nhiều ý kiến lo sợ về sự xuất hiện của Robot tự hành sẽ thay thế con người làm mọi việc, việc này sẽ tạo nguy cơ thất nghiệp cao. Tuy nhiên, quan điểm khác cho rằng tổng thể số lượng việc làm sẽ không giảm nhiều. Thay vào đó, sẽ có kẻ thắng người thua trên qui mô toàn cầu và từng quốc gia về khía cạnh lao động việc làm. Khi yêu cầu công việc đòi hỏi mức độ tự động hóa và kết nối cao sẽ dẫn đến việc tăng năng suất lao động tại những dạng công việc của thời đại hiện nay hoặc tạo ra những công việc hoàn toàn mới. Tất nhiên, cuộc cách mạng này sẽ làm dịch chuyển lực lượng lao động theo hướng nâng cao chất lượng và trình độ nhân lực. Các công việc kỹ năng thấp chắc chắn sẽ thu hẹp lại và thậm chí, nhiều việc làm cấp trung cũng chịu rủi ro bị thay thế khi nhiều công việc được tự động hóa. Chúng ta sẽ chứng kiến sự phân cực trong lực lượng lao động và xung đột về việc làm cho đến khi nhân lực được đào tạo lại kỹ năng và đưa trở lại vào những công việc cao cấp hơn. Mâu thuẫn xã hội sẽ dâng cao hơn khi nhóm thu nhập cao sẽ sở hữu, tiêu thụ nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn so với số đông trình độ thấp. Hiện tượng này tất yếu sẽ làm nảy sinh những vấn đề mới liên quan tới TTATXH tại Việt Nam.

Thứ hai, sự phân cực lao động sẽ dẫn tới hiện tượng phân phối thu nhập sẽ ngày càng doãng ra giữa thiểu số ở tốp trên so với phần lớn lực lượng lao động. Đây là nhóm người có vị trí tốt nhất từ quan điểm kỹ năng nghề nghiệp, chịu trách nhiệm kiểm soát khả năng tự động hóa và kết nối. Họ vốn đã có nguồn thu nhập, tài sản lớn và thậm chí sẽ còn thu lợi lớn hơn trên nguồn tài sản của mình do giá trị của chúng được định giá cao trong CMCN 4.0. Hình thức phân phối tài sản, thu nhập này không chỉ đúng với các cá nhân riêng lẻ. CMCN 4.0 còn có đặc điểm sử dụng vốn tài chính ít. Một mẫu hình doanh nghiệp ở giai đoạn này có thể với nguồn nhân lực nhỏ nhưng có giá trị kinh tế to lớn (dù được lượng hóa dưới dạng doanh nghiệp tư nhân hay vốn hóa thị trường). Ví dụ, công ty WhatsApp được Facebook mua lại với giá 22 tỷ USD vào năm 2014 với chỉ 55 nhân viên. Trong khi đó, hãng hàng không lớn nhất thế giới là United Continental với vốn hóa cũng khoảng 22 tỉ USD. Đây là một tổ chức khổng lồ với hơn 82.000 nhân viên. Như vậy, 1 nhân viên của WhatsApp có giá trị trung bình khoảng 400 triệu USD là một ví dụ, dù vẫn bị cho rằng định giá quá cao, thể hiện những lợi ích vốn và bất bình đẳng một cách không tưởng đối với những mô hình kinh doanh dựa trên tài sản tri thức. Hiện tượng này trở nên bình thường khi các tập đoàn công nghệ luôn dẫn đầu trên danh sách vốn hóa thị trường, với dòng tiền mặt cực kỳ dư dả như Apple, Google, Microsoft hay Facebook…

Thứ ba, là vấn đề ổn định của đồng đô-la Mỹ trong quan hệ quốc tế. Nước Mỹ nắm giữ nhiều chìa khóa quan trọng cho sự thành công của CMCN 4.0. Dù quốc gia này còn nhiều vấn đề mang tính cấu trúc như sự đi xuống của giáo dục phổ thông, khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn và vấn đề trong hệ thống y tế, Mỹ vẫn là địa điểm ưa thích của các dòng vốn đầu tư, nơi các doanh nghiệp đặt trụ sở. Việc này đảm bảo ưu thế của đồng bạc xanh. Thực tế là trong vài năm gần đây, tình hình chu kỳ kinh doanh và tín dụng của Mỹ luôn tốt hơn những khu vực khác. Sự mạnh lên của đồng đô-la sẽ tạo khó khăn cho những nền kinh tế mới nổi. Làn sóng đưa công việc trở lại nước Mỹ và xu thế rút ngắn chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ ảnh hưởng nặng nề tới lợi ích các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, đặt họ trước những rủi ro lớn trên bối cảnh cạnh tranh và hợp tác đan xen trên thế giới hiện nay.

Thứ tư, là những rủi ro liên quan tới chiến tranh mạng và địa chính trị. Tính kết nối mọi lúc, mọi nơi do CMCN 4.0 đưa lại tăng rủi ro gây ra bởi hoạt động bất hợp pháp trên không gian mạng. Ở khía cạnh tích cực, khả năng tự động hóa và kết nối cao độ thông qua các hệ thống mạng lưới thông minh sẽ nâng cao hiệu suất sử dụng/tiêu thụ năng lượng và khớp nối nguồn cung với nhu cầu năng lượng một cách hiệu quả. Ở chiều ngược lại, các hệ thống này rất dễ tổn thương đối với những cuộc tấn công mạng. Tương tự, công nghệ điện toán đám mây cho phép thuê ngoài dịch vụ CNTT thông qua năng lực kết nối, lưu trữ dữ liệu mọi lúc mọi nơi, bao gồm cả cài đặt phần mềm và bảo trì máy chủ. Công nghệ này ở khía cạnh tích cực cho phép các doanh nghiệp tập trung nguồn vốn vào mảng kinh doanh lõi [3]. Tuy nhiên, nếu hạ tầng CNTT của một số lượng lớn doanh nghiệp đặt vào tay một nhà cung cấp dịch vụ đám mây, hậu quả một cuộc tấn công mạng vào nhà cung cấp này sẽ lớn hơn rất nhiều nếu chỉ nhằm vào một Công ty.

Ngoài ra, việc kết nối dễ dàng cũng tạo ra những căng thẳng địa chính trị thế giới theo các cách khác nhau. Những chiến dịch phản đối trên mạng xã hội thế giới cùng với làn sóng truyền bá tư tưởng và tuyển mộ lực lượng khủng bố cực đoan cũng dễ dàng thực hiện với vài bản tin/blog và cú nhấn chuột. Đây chính là quyền lực mềm của mạng xã hội. Các ví dụ điển hình gần đây là Mùa xuân Ả - rập và các vụ khủng bố tại Paris trong năm 2016. Các hình ảnh bạo lực do các nhân chứng đẩy lên mạng xã hội cũng tạo ra sức ảnh hưởng khủng khiếp tới quan điểm của người dân về cách thức và hiệu quả điều hành của chính phủ. Đây chính là điều mà các nhóm khủng bố mong muốn. Công nghệ cũng đem lại nhiều căng thẳng chính trị giữa các quốc gia do bất bình đẳng lợi ích kinh tế. Khi sự hội tụ của thế giới vật lý, số hóa và sinh học đang tiếp tục diễn ra, các công nghệ và nền tảng mới cho phép công dân kết nối nhiều hơn với chính phủ; có tiếng nói hay quan điểm riêng; thống nhất ý chí của họ và thậm chí giúp họ qua mặt sự giám sát của các cơ quan chính phủ. Ở khía cạnh ngược lại, chính phủ có thêm những công cụ tăng cường sự kiểm soát của mình đối với người dân dựa trên các hệ thống giám sát mọi lúc, mọi nơi và hạ tầng số. Về mặt tổng thể, các chính phủ sẽ chịu nhiều sức ép hơn trong việc thay đổi cách tiếp cận hiện nay đối với việc lôi kéo quần chúng và đưa ra chính sách. Về bản chất, vai trò trung tâm quyền lực trong việc tạo lập chính sách của chính phủ sẽ suy yếu dần do sự xuất hiện của những lực lượng cạnh tranh mới cùng với sự phân tán quyền lực bắt nguồn từ những công nghệ mới. Để đảm đương trọng trách an ninh quốc gia và TTATXH, lực lượng CAND cần phải hiểu được tác động của CMCN 4.0 lên quyền lực nhà nước và từ đó cần xây dựng cách tiếp cận mới trong thực thi nhiệm vụ của mình. Chính phủ cần sử dụng quyền lực một cách thông minh để đạt được mục đích của mình. Quyền lực thông minh là sự kết hợp khéo léo giữa quyền lực cứng (chức năng quản lý nhà nước của lực lượng CAND) và quyền lực mềm (các yếu tố tác động lên tâm lý, quan điểm của các chủ thể chịu sự quản lý hoặc tương tác với chúng ta, dù ở trong nước hay nước ngoài). Ví dụ, các hình ảnh, video clip ghi lại cách hành xử hợp tình, hợp lý của CBCS trong lực lượng được chia sẻ trên các diễn đàn, mạng xã hội… sẽ có sức mạnh vô cùng to lớn, ảnh hưởng tới quan điểm của người dân. Ngược lại, những vấn đề tiêu cực sẽ có tác động rất lớn, giảm hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ của lực lượng CAND khi thiếu sự đồng lòng, giúp sức của quần chúng nhân dân.

Khả năng hệ thống chính quyền và cơ quan quản lý nhà nước thích nghi được với môi trường mới sẽ quyết định sự tồn tại của nó. Nếu chính quyền có đủ năng lực để chấp nhận một thế giới có những biến động bất ngờ, áp đặt cấu trúc chính phủ theo tiêu chí minh bạch và hiệu quả thì chính phủ sẽ tiếp tục duy trì quyền lực của mình. Ngược lại, nếu không thể tiến hóa theo xu thế mới, chính quyền sẽ càng gặp nhiều vấn đề phải giải quyết. Thực tế trong thời gian qua, các cơ quan lập pháp và hành pháp đang gặp khó ở mức độ chưa từng thấy và hầu hết chưa có khả năng kiểm soát tình hình. Ví dụ: những vấn đề pháp lý liên quan tới tội phạm công nghệ cao, quyền sở hữu trí tuệ ở cấp độ luật còn nhiều lỗ hổng và việc thực thi luật còn nhiều khó khăn, đặc biệt trên qui mô toàn cầu.

3. Đào tạo kỹ năng công nghệ cho cán bộ, chiến sĩ Công an nhân dân để thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0

Sự phát triển vượt bậc của KHCN của CMCN 4.0 có ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng của mỗi quốc gia. Mọi sự kiện đều có tính hai mặt của nó. Tuy nhiên, đối với hiện trạng của Việt Nam đã đề cập ở trên và năng lực cạnh tranh, trình độ phát triển của mình, về cơ bản, CMCN 4.0 đem lại nhiều thách thức cho chúng ta hơn là những cơ hội. Với trọng trách đảm bảo an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội, lực lượng CAND sẽ phải hoạt động trên một quy mô rất lớn, thay đổi căn bản môi trường tác nghiệp từ thế giới thực như trước đây sang sự kết hợp của các yếu tố thực và ảo, tương tác với các tổ chức cá nhân ở cả trong và ngoài nước. Có thể nói, trong bối cảnh quốc tế và trong nước ngày càng phức tạp và tinh vi, môi trường tác nghiệp thực ảo lẫn lộn, mỗi CBCS phải luôn ý thức nâng cao trình độ công nghệ cho phù hợp với thời đại để có thể hoàn thành nhiệm vụ. Báo cáo này cho rằng đây chính là thách thức lớn nhất cho từng CBCS và các đơn vị trong lực lượng CAND để thích ứng với tình hình mới.

3.1. Cơ hội ứng dụng công nghệ vào nghiệp vụ

Như đã trình bày ở trên, CMCN 4.0 xuất hiện dựa trên liên kết của một số công nghệ đột phá như Robot tự hành, dữ liệu lớn, thực tại tăng cường, điện toán đám mây, an ninh không gian mạng, Internet vạn vật sẽ ảnh hưởng lớn tới qui trình và hoạt động nghiệp vụ trong ngành công an. Ở đây yếu tố thông tin, dữ liệu được thể hiện rất rõ bên cạnh phần tự động hóa, điều khiển thông minh. Trong CMCN 4.0, dữ liệu có dung lượng cực lớn, được thu thập từ nhiều nguồn (mạng xã hội, thiết bị cảm biến…) từ công nghệ kết nối IoT; được lưu trữ một cách hệ thống, có mối liên hệ với nhau giữa các nguồn thông tin; và được xử lý/tính toán một cách thông minh dựa trên trí tuệ nhân tạo để rồi quá trình điều khiển phù hợp sẽ được phần mềm máy tính gửi tới các hệ thống tự hành. Như vậy, việc ứng dụng thành công các công nghệ ở trên tại Bộ Công an sẽ giảm tải công việc cho CBCS đang chịu áp lực xử lý thông tin cực lớn hiện nay từ vô số nguồn như mạng xã hội, trang báo/diễn đàn trực tuyến, kênh truyền hình số, email và tài liệu lưu chuyển trên Internet giữa Việt Nam và thế giới… Những công việc cấp thấp như thu thập, trích lọc nội dung sơ bộ và tiền xử lý dữ liệu và lập báo cáo tổng hợp có thể sẽ được máy tính đảm nhiệm (đúng như xu thế phân cực lao động mà CMCN 4.0 tác động ở Mục 2.2 ở trên). CBCS sẽ phải nâng cao trình độ chuyên môn, tập trung vào nghiệp vụ tổng hợp thông tin từ các báo cáo do máy tính đưa lại và ra quyết định cuối cùng trước những sự việc, hiện tượng phản ánh từ các dòng thác thông tin đang xảy ra hàng ngày trên cả không gian thực và ảo. Họ sẽ chuyển dịch lên dạng nhân lực trình độ cao hơn và đây là vấn đề có tính hai mặt như báo cáo đã trình bày. Công cụ có thể hỗ trợ, thay thế CBCS ở những công việc cấp thấp, đòi hỏi nhiều lao động. Tuy nhiên, thách thức sẽ đặt ra đối với những nhân lực này nếu họ không đủ linh hoạt, thích nghi với tình hình, môi trường làm việc với công nghệ mới.

Nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia và TTATXH sẽ cần đánh giá ở 2 khía cạnh: Trong nước (người dân, các cơ quan tổ chức) và quốc tế (các tác nhân nhà nước và tổ chức phi nhà nước). Từ góc độ soi chiếu này, đối với các vấn đề trong nước, lực lượng CAND có thể tận dụng những công cụ tăng cường sự kiểm soát của mình đối với người dân dựa trên các hệ thống giám sát mọi lúc, mọi nơi và hạ tầng số. Ngoài ra, đối với vấn đề đối ngoại, chúng ta cũng có những công cụ để tổng hợp thông tin liên quan tới chính sách của các nước. Trong bối cảnh nguồn thông tin vô cùng đa dạng như hiện nay, dung lượng dữ liệu cực lớn thì năng lực xử lý thông tin bởi từng CBCS là không thể. Phần mềm công cụ thông minh trích lọc, xử lý thông tin hỗ trợ các CBCS là cực kỳ cần thiết. Điểm quan trọng là phương thức làm việc của Bộ Công an sẽ chuyển từ dựa theo kinh nghiệm cá nhân, năng lực của từng chuyên gia sang việc sử dụng các công cụ hỗ trợ, cung cấp thông tin tổng hợp, phản ánh xu thế chung từ vô vàn những luồng thông tin dữ liệu thu thập được. Các CBCS này sẽ là những người ra quyết định cuối cùng dựa trên các báo cáo tổng hợp bởi máy móc. Các hệ thống phần mềm sẽ tự động đảm nhiệm những công việc đòi hỏi nhiều nhân lực trước đây như thu thập thông tin, xử lý nội dung sơ bộ và lưu trữ các thông tin này một cách có hệ thống phục vụ việc tra cứu, chia sẻ thông tin giữa các đơn vị sau này. Với dung lượng dữ liệu cực lớn như hiện nay, sức con người là không thể và CMCN 4.0 liên tục giám sát và thu thập, xử lý sơ bộ nội dung giúp chúng ta. Con người sẽ chỉ tập trung vào nghiệp vụ của mình, dựa trên báo cáo tổng hợp được trích lọc từ kho dữ liệu cực lớn được liên tục bổ sung các nguồn thông tin dữ liệu gửi tới từ các trang thiết bị giám sát trong môi trường tác nghiệp thực và ảo của lực lượng CAND. Xét ở khía cạnh trình độ lao động, cán bộ chiến sỹ đã được nâng cấp từ việc xử lý tin bài đơn lẻ thành quản lý và tổng hợp nhiều luồng tin bài được hỗ trợ bởi máy tính trước khi đưa ra quyết định.

3.2. Thách thức nâng cao trình độ kỹ thuật

Trên bình diện quốc tế, năng lực cạnh tranh, năng suất lao động của Việt Nam còn hạn chế. Do vậy, về cơ bản, Việt Nam sẽ nằm trong nhóm đa số các nước chịu thách thức lớn của CMCN 4.0. Nhiều công nghệ chúng ta không làm chủ được cho nên đối với nhiệm vụ của ngành Công an, câu hỏi đặt ra là liệu chúng ta có thể tự làm chủ/phát triển được những hệ thống hỗ trợ việc giám sát, thu thập và cảnh báo những dấu hiệu bất thường trong các hoạt động kinh tế - xã hội ở trong nước hiện nay không. Nếu chúng ta sử dụng công cụ do nước ngoài phát triển thì đây là lỗ hổng mà các lực lượng bên ngoài có thể can thiệp và nắm rõ tình hình của chúng ta. Chưa kể là liệu trình độ ứng dụng các công nghệ nền trong ngành công an đã sẵn sàng, theo kịp với CMCN 4.0 chưa khi nó đang tiến vào mọi ngóc ngách, các ngành lĩnh vực kinh tế - xã hội của đất nước. Về nguyên tắc, để quản lý hiệu quả và thực thi nhiệm vụ đảm bảo an ninh quốc gia và TTATXH thì trình độ KHCN trong ngành ít nhất phải ngang tầm mức độ ứng dụng KHCN các lĩnh vực khác. Có như vậy, chúng ta mới giám sát và kiểm soát được tình hình ở trong nước. Ví dụ, tội phạm trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng có thể dùng các công nghệ cao để giả mạo chủ tài khoản, chiếm quyền điều khiển và truy cập vào tài khoản ngân hàng, thực hiện các giao dịch phi pháp khi các dạng dịch vụ Internet banking và Mobile banking trở nên phổ biến. Để điều tra hoặc thậm chí ngăn ngừa được các hoạt động tội phạm công nghệ như vậy, lực lượng thực thi pháp luật trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng cũng phải hiểu rõ và ứng dụng được các biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ trong lĩnh vực này.

Trong quan hệ quốc tế, vấn đề còn phức tạp hơn. Như đã trình bày ở trên, khi chúng ta ở trình độ phát triển kém hơn thì chúng ta khó có khả năng kiểm soát, nắm bắt tình hình và bước đi của các quốc gia (quan hệ thân thiện với chúng ta hoặc không). Trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay, an ninh quốc gia liên quan mật thiết với khả năng chúng ta làm chủ tình hình trong sự thay đổi nhanh chóng cục diện địa chính trị, kinh tế trên thế giới. Để làm chủ tình huống, điều kiên tiên quyết là chúng ta phải có thông tin đầy đủ, chính xác và kịp thời về các bước đi của các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn. Việc này đương nhiên sẽ cần sự hỗ trợ của các hệ thống thu thập và xử lý tin bài tự động từ nhiều nguồn trên thế giới, tổng hợp và nêu bật những đặc điểm chủ đạo và thậm chí phát hiện những sự kiện bất thường trong các quan hệ quốc tế để cấp lãnh đạo cao nhất có thể đưa ra các quyết định phù hợp.

3.3. Yêu cầu trong công tác đào tạo tại các trường Công an nhân dân

Như trình bày ở trên, từ góc độ quản lý nhà nước của lực lượng CAND, CMCN 4.0 đặt ra nhiều nguy cơ tiềm ẩn đối với sự ổn định an ninh - quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội của nước ta. Yêu cầu quan trọng là phải phát triển một đội ngũ cán bộ chuyên trách có đủ phẩm chất chính trị, trình độ nghiệp vụ, am hiểu về khoa học kỹ thuật để đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao trước mắt cũng như lâu dài. Đối tượng đấu tranh rất đa dạng, có thể trong nước và quốc tế, đơn lẻ và có tổ chức, công khai hoặc bí mật có yếu tố chính phủ các nước. Để xây dựng được đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ trong nhiệm vụ của ngành, chúng ta cần chú ý những vấn đề sau trong công tác đào tạo.

Một là, cần xác định đầy đủ các phẩm chất cần có và riêng có của CBCS của lực lượng CAND để xây dựng chuẩn đầu ra cho sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật và công nghệ tại các trường Công an nhân dân như Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân hoặc Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân. Trước hết, mỗi học viên phải là một chiến sĩ Công an nhân dân, bởi vậy, phải có phẩm chất chính trị vững vàng, trung thành với Đảng, với lợi ích của đất nước; phải nắm vững kiến thức pháp luật (Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật về Công nghệ thông tin, Luật An toàn thông tin); có hiểu biết sâu sắc về đặc điểm, phương thức, thủ đoạn của tội phạm sử dụng công nghệ cao; tri thức lý luận về các hoạt động nghiệp vụ trinh sát, nghiệp vụ điều tra hình sự đặc biệt là các kỹ năng trinh sát CNTT, thu thập, phân tích, phục hồi dữ liệu điện tử.

Bên cạnh đó, để hoàn thành nhiệm vụ phối hợp hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và đảm bảo an ninh quốc gia, cán bộ, giảng viên và học viên tại các trường CAND cần thông thạo ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh - ngôn ngữ dùng chung trong lĩnh vực KHCN, đặc biệt là CNTT trên thế giới. Những CBCS phải có khả năng vận dụng, xử lý linh hoạt các tình huống nảy sinh trong quá trình công tác; có kỹ năng làm việc độc lập, tự chủ, có kế hoạch, tỷ mỉ, thận trọng, khách quan; kỹ năng tổ chức, lôi cuốn quần chúng, các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao. Về ý chí, CBCS phải có bản lĩnh vững vàng, dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm, có ý thức tấn công đối tượng đến cùng trên cơ sở hiểu biết và phương pháp làm việc khoa học, linh hoạt, nhạy bén. Những phẩm chất nêu trên là rất cần thiết đối với lực lượng Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Những phẩm chất đó cần phải được hình thành ngay từ khi còn học tập tại các nhà trường và sẽ được củng cố, phát triển trong quá trình công tác. Bởi vậy, trong giáo dục đào tạo, cơ sở đào tạo phải nghiên cứu đưa các phẩm chất đó thành tiêu chuẩn trong học tập và rèn luyện của sinh viên. Trên cơ sở đó, đơn vị giảng dạy thiết kế nội dung các môn học, bài giảng để đảm bảo các chuẩn đầu ra nói trên được hình thành ngay từ quá trình đào tạo.

Hai là, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên chuyên ngành Kỹ thuật - Công nghệ, đặc biệt là các công nghệ nền tảng của CMCN 4.0 có đủ trình độ lý luận và thực tiễn. Tăng cường cho các giảng viên của các cơ sở đào tạo chuyên ngành phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao đi thực tế dài hạn tại các đơn thực tiễn. Bên cạnh đó, đơn vị đào tạo và đơn vị thực tiễn cần phối hợp, lựa chọn những cán bộ thực tiễn có nhiều kinh nghiệm, có khả năng sư phạm để xây dựng đội ngũ giảng viên kiêm nhiệm giảng dạy trong các trường Công an nhân dân. Ngoài ra, xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực giảng dạy, các đơn vị giảng dạy chủ động phát hiện, tìm kiếm những giảng viên, các chuyên gia trong lĩnh vực CNTT đang công tác tại các cơ sở đào tạo, các doanh nghiệp, ngân hàng phù hợp với nội dung giảng dạy để bổ sung vào đội ngũ giáo viên thỉnh giảng. Cơ sở đào tạo cần nghiên cứu, đề xuất với Bộ Công an những chế độ đặc thù để có thể huy động được những chuyên gia giỏi, cán bộ thực tiễn có kinh nghiệm tham gia vào đội ngũ giảng viên chuyên ngành phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao.

Ba là, tăng cường đầu tư, trang thiết bị hiện đại hóa các phòng học chuyên dùng dành cho giảng dạy sinh viên chuyên ngành phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, xét trên xu hướng của các công nghệ nền tảng CMCN 4.0 ở trên. Trên cơ sở chương trình, mục tiêu đào tạo và tình hình trang thiết bị của các đơn vị thực tiễn, đơn vị giáo dục xác định nhu cầu đầu tư, trang cấp các phương tiện cần thiết đối với công tác đào tạo. Các công cụ, thiết bị phải thiết thực. Cần trang bị đủ số lượng để có thể tổ chức cho sinh viên thực hành, rèn luyện tay nghề, chuyên môn kỹ thuật CNTT ngay từ trong quá trình đào tạo. Kết hợp với sự tham gia của các kỹ thuật viên của đơn vị thực tiễn để truyền đạt kinh nghiệm khai thác, sử dụng có hiệu quả các trang thiết bị đó.

Bốn là, đẩy mạnh quan hệ phối hợp và hợp tác quốc tế trong đào tạo về phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao. Bởi lẽ, so với nhiều cơ sở đào tạo chuyên ngành CNTT, các cơ sở đào tạo trong ngành Công an còn thiếu kinh nghiệm về giảng dạy trong lĩnh vực này cũng như thiếu những chuyên gia hàng đầu. Do đó, cần nghiên cứu đề xuất gửi một số giảng viên và sinh viên các trường Công an sang học tập tại các cơ sở đào tạo về CNTT có uy tín trong nước để tăng cường tri thức CNTT cho sinh viên và giảng viên. Đặc biệt, lực lượng chuyên trách cần tăng cường cử cán bộ ra nước ngoài học tập, đào tạo, bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, không ngừng nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao.

Thực tế là giải pháp đề xuất nâng cao năng lực chuyên môn, trình độ khoa học - kỹ thuật của cán bộ và sinh viên chuyên ngành CNTT tại Bộ Công an đang được tích cực vận dụng. Việc nâng cao trình độ nghiệp vụ, cập nhật kỹ năng công nghệ cho cán bộ nghiệp vụ, giảng viên và sinh viên chuyên ngành CNTT đang được các cơ sở đào tạo của Bộ Công an phối hợp chặt chẽ với đơn vị nghiên cứu phát triển hàng đầu của quốc gia là Viện Công nghệ thông tin (CNTT) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Tác giả của báo cáo đã nhận thấy nhu cầu rất lớn trong sự phối hợp từ các đơn vị của Bộ Công an và thực tế là nhiều hợp tác ký kết giữa đơn vị của tác giả báo cáo này với những cơ sở đào tạo trọng điểm và các cục vụ chuyên ngành CNTT của Bộ Công an đang được tích cực hiện thực hóa và đưa vào thực hiện. Điều này thể hiện sự biến chuyển về nhận thức, ưu tiên ứng dụng khoa học - kỹ thuật tiên tiến trong nghiệp vụ quản lý của lãnh đạo các đơn vị trực thuộc Bộ Công an. Đó là sự hợp tác giữa Viện CNTT - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với các cơ sở đào tạo như Học viện An ninh nhân dân, Đại học Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân… và các đơn vị nghiệp vụ như Tổng cục Cảnh sát, Cục Công nghệ thông tin, Cục Kỹ thuật nghiệp vụ 1… trong rất nhiều lĩnh vực như đào tạo nhân lực trình độ cao, xây dựng giáo trình, hỗ trợ hội nhập quốc tế.

Viện CNTT là đơn vị tiên phong về KHCN tại Việt Nam, đặc biệt là các công nghệ nền tảng cho CMCN 4.0. Trong bối cảnh của cuộc CMCN lần thứ 4 đang tới, Thủ tướng đã ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04 tháng 05 năm 2017 về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Theo đó, Chỉ thị có một số điểm chính sau:

- Xây dựng kế hoạch và các nhiệm vụ trọng tâm để triển khai phù hợp với xu thế phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tại Việt Nam;

- Xây dựng chiến lược chuyển đổi số, nền quản trị thông minh, ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh, đô thị thông minh;

- Rà soát, lựa chọn phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm cạnh tranh chiến lược của quốc gia bám sát các công nghệ sản xuất mới, tích hợp những công nghệ mới để tập trung đầu tư phát triển.

Trong nội dung Chỉ thị 16/CT-TTg, Thủ tướng giao Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nhiệm vụ chính như sau: “Nghiên cứu, đánh giá xu hướng vận động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4, kịp thời báo cáo Thủ tướng Chính phủ làm cơ sở chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương xây dựng các nhiệm vụ, chiến lược, quy hoạch phát triển ngành, vùng, địa phương. Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam nắm bắt các xu thế phát triển khoa học và công nghệ; chủ trì, tổ chức triển khai các hướng nghiên cứu khoa học và công nghệ mũi nhọn, tiếp cận xu hướng công nghệ tiên tiến, hiện đại của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4; trong đó bao gồm các nghiên cứu về công nghệ thông tin, vật lý, sinh học, trí tuệ nhân tạo, vật liệu,…”.

Có thể nói, phần nội dung KHCN mà Thủ tướng giao cho Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam về cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 trong đó cốt lõi là lĩnh vực CNTT với kỹ thuật số và trí thông minh nhân tạo do Viện CNTT đảm trách. Việc tư vấn xu thế phát triển KHCN, tiếp cận xu hướng công nghệ mũi nhọn của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 theo yêu cầu của Chính phủ ở qui mô quốc gia, là trách nhiệm thuộc Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam, trong đó có vai trò hết sức quan trọng của Viện CNTT.

4. Kết luận

Cuộc CMCN lần thứ 4 đã lan toả đến Việt Nam, đang đặt Việt Nam trước nhiều cơ hội lớn và thách thức lớn cho sự phát triển của mình. Sự chuẩn bị của Việt Nam nói chung, nguồn nhân lực của ngành công an nói riêng, đối với cuộc cách mạng này có vai trò hết sức quan trọng đối với tương lai phát triển của đất nước. Báo cáo này phần nào đáp ứng yêu cầu thực tiễn đó khi điểm ra một số công nghệ nền tảng của cuộc cách mạng này. Theo đó, báo cáo trình bày cơ hội và khó khăn từ khía cạnh kỹ thuật mà các công nghệ nền tảng này đem lại đối với các tổ chức, cá nhân cán bộ, chiến sĩ CAND. Dựa vào đó, với mục tiêu chuẩn bị nguồn nhân lực phục vụ hoạt động của ngành trong bối cảnh sắp tới của CMCN 4.0, báo cáo gợi mở một số ý kiến ưu tiên nguồn lực cho việc cập nhật nội dung đào tạo và phương pháp bồi dưỡng đối với các công nghệ này tại các cơ sở giáo dục CAND./.

TS. Nguyễn Trường Thắng

 Viện CNTT - Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam

Tài liệu tham khảo

1. Deloitte, Industry 4.0- Challenges and solutions for the digital transformation and use of exponential technologies, 2015.

2. Grant Thornton, India’s Readiness for Industry 4.0, 2017.

3. PwC, Industry 4.0 - Opportunities and Challenges of the Industrial Internet, 2014.

4. Klaus Schwab, The Fourth Industrial Revolution: what it means, how to respond, World Economic Forum, 14/01/2016. (Klaus Schwab là sáng lập viên và chủ tịch điều hành của Diễn đàn kinh tế thế giới).

5.The Hague Center for Strategic Studies and TNO, The future of Cybersecurity, 2011.

[1] Thuật ngữ CMCN 4.0 do chính phủ Đức đề xuất năm 2006 trong một chiến lược số hóa lĩnh vực sản xuất của quốc gia này tới năm 2020.

[2] Còn gọi là công nghệ in 3D (3D printing) có xuất xứ từ Mỹ.

[3] Hiệu quả kinh tế lớn hơn khi doanh nghiệp tập trung vào sở trường chuyên môn chính, chuyển phần dịch vụ như CNTT thành dạng thuê ngoài (outsourcing).

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi