Thứ Năm, 12/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Nông thôn Việt Nam hiện nay và sự cần thiết bố trí công an chính quy tại địa bàn nông thôn

Chiếm 2/3 diện tích quốc gia, gần 70% dân số, nông thôn Việt Nam là địa bàn chiến lược của cách mạng, là nền tảng của an ninh quốc gia. Xuất phát từ cội nguồn văn minh lúa nước, với hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, nông thôn Việt Nam có đặc trưng hết sức cơ bản là tính cộng đồng và tính tự trị. Hai đặc trưng này đều có mặt xấu và mặt tốt, tùy theo từng hoàn cảnh, hoặc do những tác động của yếu tố đương đại mà mặt tốt hay mặt xấu được khai triển. Sau 30 năm đổi mới, thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, cấu trúc làng xã, đặc điểm văn hóa, tính chất chính trị và cơ cấu hành chính của nông thôn Việt Nam hiện nay đang có sự trở mình, lột xác với nhiều sắc thái mới. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn là một quá trình kinh tế - xã hội phức tạp, chứa đựng cả yếu tố tích cực và tiêu cực tác động đến an ninh, trật tự.

Trước hết, sự biến đổi về kinh tế tác động đến an ninh, trật tự

Sau 30 năm, nền kinh tế nông nghiệp - nông thôn Việt Nam đã có rất nhiều sự đổi thay theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tồn tại kinh tế thuần nông bị phá vỡ, lực lượng sản xuất phát triển theo hướng hiện đại; quan hệ sản xuất cũng được vận động biến đổi theo hướng đa dạng, sở hữu mang tính hỗn hợp; Năng suất lao động nông nghiệp tăng lên; cơ cấu nông nghiệp có sự dịch chuyển mạnh mẽ. Nền kinh tế nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa, quy luật thị trường chi phối quá trình sản xuất. Xét trên bình diện an ninh, trật tự, kinh tế nông nghiệp tăng trưởng, đời sống của người nông dân được cải thiện, đã tạo ra những điều kiện thuận lợi củng cố quốc phòng và an ninh. Tuy nhiên, sự biến đổi của nền sản xuất nông nghiệp theo cả chiều rộng và chiều sâu, nhiều quan hệ kinh tế mới được hình thành, hệ thống các quan hệ lợi ích trong nông nghiệp vận động theo xu hướng phức tạp, vừa thống nhất, vừa cạnh tranh, xung đột, mâu thuẫn với nhau. Mặt trái của kinh tế thị trường trong sản xuất nông nghiệp bộc lộ rõ nét và tác động mạnh mẽ đến sự ổn định và phát triển lành mạnh của nền kinh tế. Sau hơn 30 năm đổi mới, tính hai mặt của nền kinh tế thị trường trong nông nghiệp đã bộc lộ khá đầy đủ. Cái tốt hiển hiện, cái xấu cũng rõ nét hơn.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp thuần nông truyền thống bị phá vỡ, nhường chỗ cho các quan hệ kinh tế nông nghiệp thời kinh tế thị trường hội nhập ngày càng sâu rộng. Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế quá nhanh, quá nóng trong nông nghiệp đã bộc lộ sự phát triển thiếu bền vững và dẫn đến hệ lụy về an ninh, trật tự. Quá trình đô thị hóa nông thôn là một quá trình chuyển dịch từ xã hội nông thôn sản xuất nông nghiệp phân tán sang xã hội đô thị với hoạt động phi nông nghiệp, sản xuất công nghiệp, dịch vụ là chủ yếu, với mật độ dân cư đông đúc. Quá trình này diễn ra quá nhanh đã dẫn tới những khó khăn, bất cập về công tác quản lý xã hội, bảo đảm an ninh.

Đô thị hóa nông thôn là một quá trình kinh tế - xã hội phức tạp, diễn ra trên một phạm vi không gian rộng lớn với một khoảng thời gian lâu dài. Tuy vậy, đô thị hóa nông thôn quá nóng, quá vội, thiếu sự chuẩn bị cần thiết thì sẽ gây nên những hệ lụy về ổn định và an ninh xã hội. Việc đột ngột thu hồi toàn bộ hoặc một phần diện tích đất nông nghiệp cho mục đích đô thị, không có quy hoạch tổng thể, thiếu sự chuẩn bị kỹ càng, quá trình này dường như mang tính “cưỡng bức”, người nông dân chỉ sau “một đêm” đã trở thành thị dân... và những khó khăn về chuyển đổi nghề nghiệp, định hướng sản xuất, kinh doanh, những bất cập về quản lý xã hội, vấn đề an ninh, trật tự sẽ nảy sinh... Tình trạng khiếu kiện đông người do mất đất canh tác, do chính sách đền bù ruộng đất chưa thỏa đáng, những mâu thuẫn lợi ích giữa nông dân và doanh nghiệp vốn bị tích tụ và dồn nén dẫn đến xung đột, mâu thuẫn trầm trọng. Hàng năm cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh, hàng chục vạn hecta đất nông nghiệp mất dần để xây dựng khu công nghiệp, đường cao tốc, các đô thị và sân golf “xé nát những cánh đồng lúa”. Việc sử dụng tùy tiện, lãng phí ruộng đất, sự yếu kém trong quản lý, quy hoạch và sử dụng đất nông nghiệp đã gây ra những bất bình trong nhân dân. Các nhà nghiên cứu cảnh báo rằng, đô thị hóa nông thôn diễn ra với tốc độ quá nhanh nó sẽ nảy sinh nguy cơ phá vỡ sự ổn định trong quá trình chuyển đổi và mục tiêu phát triển bền vững. Những hệ lụy về an ninh trật tự là khó tránh khỏi.

Thứ hai, biến đổi về xã hội tác động đến an ninh, trật tự

Kinh tế thị trường, bên cạnh mặt tích cực, phát triển hợp quy luật đã mang lại sự đổi thay tích cực, mới mẻ, nhộn nhịp, giàu có, sầm uất của nông thôn Việt Nam. Một thực tế cho thấy, làng xã Việt Nam đang bị tác động dữ dội của mặt trái kinh tế thị trường, các đơn vị làng, xã, thôn, bản, phun, sóc… tính cộng đồng, tương trợ giúp nhau trong sản xuất và cộng đồng trong những công việc chung, trong bảo đảm trật tự trị an dường như có xu hướng giảm đi, lối sống “đèn nhà ai rạng nhà ấy” tăng lên, vai trò gia đình được chú trọng hơn là tính cộng đồng làng xã. Mặt khác, tính tự trị làng xã bị đẩy đến mức cực đoan kiểu “phép vua thua lệ làng”, cục bộ, bè phái, gia trưởng, thậm chí kích động tâm lý người dân đối lập với chính quyền, có hành vi trái pháp luật, bất tuân Hiến pháp, pháp luật, gây mất an ninh trật tự ở nông thôn. Đôi khi do đặc tính “duy tình” của nông thôn Việt Nam mà có lúc vượt lên trên cả các quan hệ pháp lý, thậm chí xung đột với các chuẩn mực pháp lý tới mức “Một bồ cái lý không bằng một tý cái tình”. Do tác động mặt trái kinh tế thị trường mà chủ nghĩa cá nhân phát triển, lối sống thực dụng gia tăng, đề cao cái tôi, các quan hệ vật chất, tiền bạc đã len lỏi vào trong tâm hồn và lối sống của một bộ phận không nhỏ nông dân nhất là thanh, thiếu niên. Tâm lý gia trưởng bị đẩy lên thành tâm lý cục bộ, bản vị, địa phương, bè phái ích kỷ, hương ước lấn át pháp quốc.

Hiện nay, sự phân hóa giàu nghèo ở nông thôn ngày càng lớn. Có tới 90% hộ nghèo của cả nước sống ở các vùng nông thôn; trong khi đó, người nông dân phải có nghĩa vụ đóng góp cho xã hội khá cao. Bình quân mỗi hộ nông dân đang phải đóng góp tới 28 khoản phí khác nhau theo quy định của chính quyền xã, thôn, chưa kể các khoản phí và lệ phí theo quy định của nhà nước. Tình trạng ô nhiễm môi trường gia tăng đang hàng ngày, hàng giờ tác động, hủy hoại sức khỏe, tinh thần của người dân, dồn tụ thành những bức xúc tác động trực tiếp đến an ninh trật tự nông thôn. Trước đây, quan hệ xã hội trong cấu trúc làng xã dựa trên hình thái kinh tế thuần nông, bền vững, ổn định, là cơ sở để bình ổn các quan hệ xã hội theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa các tổ chức thiết chế trong khuôn khổ làng xã như: Gia đình, anh em, dòng tộc, quan hệ giữa các dòng họ, tình làng nghĩa xóm… Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn đã và đang phá vỡ tính chất “khép - kín” của làng xã, làm chuyển đổi tính chất kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Nếu trước đây an ninh, trật tự ở nông thôn mang tính tự quản, tự trị, thì ngày nay, do sự thay đổi nói trên, cần thiết phải tăng cường tính pháp quyền, chính quy hóa các chủ thể nòng cốt trong phong trào bảo vệ an ninh, trật tự tại địa bàn nông thôn.

Chúng tôi cho rằng, sau hơn 30 năm đổi mới, bộ mặt nông thôn phát triển nhiều sắc màu đa dạng, đã và đang có sự trỗi dậy của nhiều mối quan hệ xã hội phi quan phương, những tập tục cũ được phục dựng, những quy ước mới được ồ ạt ra đời, cái truyền thống, cái hiện đại, cái nội sinh và ngoại sinh đan xen, thâm nhập, chồng xếp lên nhau, tạo thành muôn vàn những sợi dây chi phối, níu kéo, ràng buộc người nông dân trong tổ chức làng xã, đôi khi vượt ra khỏi sự tầm soát của cơ quan quản lý nhà nước, nó tiềm ẩn nguy cơ dẫn đến phá vỡ cấu trúc ổn định của nông thôn ngày nay. Rõ ràng, thực trạng này đòi hỏi phải có những thay đổi về cách thức tiếp cận vấn đề an ninh, trật tự ở nông thôn hiện nay.

Nông thôn Việt Nam chứa đựng trong nội tại cả hai yếu tố tự trị và phụ thuộc vào nhà nước. Vấn đề tự trị tự nó không phải là rào cản, nhưng hiện nay, tính tự trị đang có xu hướng cực đoan đối lập với quản lý nhà nước. Tính tự trị nếu cực đoan hóa tất sẽ hình thành sự đối lập khép kín, cố thủ và đầu óc tư hữu ích kỷ, bè phái, nó dễ đưa tới sự quá khích, cực đoan bất chấp kỷ cương, phép nước… Trong khi đó, hệ thống chính trị ở nông thôn cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Tình trạng quan liêu, hành chính hóa trong quản lý nhà nước ở nông thôn của các cấp còn khá nặng nề.

Thứ ba, biến đổi về văn hóa tác động đến an ninh, trật tự

Nông thôn Việt Nam sau hơn 30 năm đổi mới, từ góc độ văn hóa, tâm lý, ý thức đã có rất nhiều biến đổi. Trong đó có quá trình biến đổi tích cực, tạo động lực cho sự thay đổi tích cực thì cũng đang gặp phải những biến đổi văn hóa theo xu hướng tiêu cực. Như sự trỗi dậy các hủ tục vốn đã lạc hậu lỗi thời, sự phục dựng thái quá những yếu tố văn hóa cổ, sự du nhập ồ ạt văn hóa đô thị thiếu chắt lọc, tiếp nhận các sản phẩm phản văn hóa ngoại lai… Chương trình xây dựng nông thôn mới là chương trình quốc gia mang tính tổng thể về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, sau 10 năm thực hiện, đã cho thấy có những vấn đề xã hội phức tạp nảy sinh. Theo thống kê các tiêu chí nông thôn mới đã đạt được nhưng chưa thật bền vững, xuất hiện ngày càng nhiều hơn tình trạng thiếu công ăn việc làm, hiện tượng ly nông, ly hương vẫn tiếp tục diễn ra, thậm chí còn phổ biến hơn so với giai đoạn trước năm 2008. Đời sống người dân thu nhập bấp bênh, phương thức làm ăn mới chưa thật ổn định, lối làm ăn cũ bị phá sản, sự tích tụ ruộng đất tăng lên, người nông dân không còn đất đai để canh tác là một thực tế. Hệ thống chính trị ở nông thôn đã có những đổi mới nhưng dường như chưa theo kịp và chưa đáp ứng được với yêu cầu của thực tiễn. Quá trình triển khai chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới có lúc, có nơi còn nặng căn bệnh thành tích, thiếu thực chất, chưa đặt lợi ích chính đáng của người dân lên hàng đầu.

Tái cơ cấu nông nghiệp còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện, quy hoạch sản xuất, quản lý còn chắp vá, mang tính ngắn hạn; chưa toàn diện, thiếu tính minh bạch. Nhiều dự án, khu công nghiệp, dịch vụ, giải trí mọc lên đã thu hẹp đáng kể diện tích đất canh tác của người nông dân, dẫn tới dòng người di cư từ nông thôn về các đô thị, tình trạng ly nông, ly hương mức độ diễn ra đáng kể hơn; nguồn lao động trôi dạt về thành phố tìm kiếm công ăn việc làm, bên cạnh việc tiếp thu lối sống công nghiệp, tâm lý hiện đại và văn minh đô thị thì do thiếu sự chuẩn bị, thiếu chọn lọc và do cả những bất cập về quản lý văn hóa mà dẫn tới những vấn nạn xã hội đó theo về nông thôn. Trở về nông thôn không ít người trong số đó đem theo những tệ nạn và những phức tạp gây mất an ninh, trật tự. Tất cả điều đó và cộng hưởng với những tính phức tạp mới của nông thôn thời hiện đại nó đã làm vẩn đục môi trường văn hóa, làm rạn nứt, bào mòn những quan hệ tốt đẹp, đồng thuận và thuần phác trong cấu trúc tâm lý văn hóa làng xã ở nông thôn nước ta hiện nay.

Theo thống kê của Công ty nghiên cứu thị trường Nielsen Việt Nam, năm 2017, khu vực nông thôn có tới 22.5 triệu người sử dụng Facebook. Đời sống văn hóa ở nông thôn đang biến động dữ dội, cái tốt, cái xấu đang ồ ạt xâm nhập, tương tác, xung đột và chuyển hóa, hình thành các chuẩn thức văn hóa hiện đại. Song nhìn tổng thể, những giá trị cổ truyền văn hóa đang bị mai một. Sự thuần hậu, giản dị, hòa đồng dường như đang bị xói lở bởi văn hóa công nghệ, bởi văn minh công nghiệp, một sự du nhập thiếu chọn lọc, chắp vá, hối hả, gượng gạo đang làm đời sống văn hóa ở nông thôn ấn chứa những lo ngại về sự bất ổn trong sự vận động phát triển. Những biến đổi trên đã và đang đặt ra yêu cầu nhiệm vụ mới trong vấn đề bảo đảm an ninh, trật tự ở nông thôn.

Từ những phân tích trên, cho thấy sự cần thiết tất yếu phải bố trí lực lượng Công an chính quy bảo vệ an ninh trật tự tại địa bàn nông thôn trong tình hình hiện nay. Việc đưa Công an chính quy về xã là một chủ trương lớn trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo hướng: “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”.

Từ góc độ nghiên cứu lịch sử, việc bố trí Công an chính quy về xã không phải là một việc hoàn toàn mới trong lịch sử làng xã Việt Nam. Trên thực tế, trong mối quan hệ giữa làng xã với Nhà nước thì trước thế kỷ XI, làng xã Việt Nam thuần khiết tính tự trị, tính độc lập, dường như không chịu sự can thiệp của nhà nước. Đến thế kỷ XI, triều đại phong kiến thời họ Khúc bắt đầu xây dựng xã quan, nghĩa là cử các quan lại xuống cai quản đời sống làng xã (xã trưởng, tuần trưởng, xã xử, tư xã). Đặc biệt từ sau thế kỷ XV, Nhà nước ngày càng can thiệp sâu vào đời sống làng xã bằng cách đặt hệ thống quan xã song song với hệ thống Hội đồng kỳ mục trong mô hình quản lý làng xã cổ truyền. Tuy nhiên trên thực tế, hệ thống quan xã do nhà nước xây dựng ít được đề cao trong làng xã mà Hội đồng kỳ mục do người dân xã bầu lên lại được coi trọng hơn. Từ thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX, vì chế độ phong kiến trung ương tập quyền suy yếu, sự can thiệp của nhà nước vào làng xã chỉ mang tính thỏa hiệp, nửa vời, tính tự trị làng xã một lần nữa lại được khẳng định. Nhưng đây cũng chính là giai đoạn đất nước bị kẻ thù ngoại bang xâm lấn an ninh, trật tự bị kẻ thù bên ngoài thôn tính, đất nước bị lệ thuộc vào ngoại bang. Kinh nghiệm lịch sử ấy cho rằng, để an ninh, trật tự ở nông thôn được vững chắc, không thể để tình trạng cát cứ, tự trị (ở góc độ tự quản, tự trị) mà phải có sự hiện diện của lực lượng nhà nước, sức mạnh của nhà nước phải được kết hợp với sức mạnh tự trị của làng xã thì khi đó nền tảng an ninh trật tự mới được bảo vệ vững chắc. Việc đưa Công an chính quy về xã ở góc nhìn nào đó cũng giống như một giải pháp nhằm khắc chế mặt tiêu cực của tính tự trị, tính tự quản khép kín, tính địa phương cục bộ trong đời sống nông thôn Việt Nam hiện nay.

Sự phức tạp của tình hình an ninh nông thôn hiện nay có nguồn gốc do sự chuyển đổi mô hình sản xuất từ thuần nông sang kinh tế thị trường, công nghiệp hóa nông nghiệp đẩy tới sự dư thừa lao động, người nông dân thiếu công ăn việc làm, những khó khăn, túng thiếu, sự chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị; tốc độ đô thị hóa nông thôn quá nóng, quy hoạch chắp vá, đất nông nghiệp bị thu hồi cho các dự án công nghiệp, dịch vụ, giải trí, hạ tầng giao thông… do tác động của các vấn đề kinh tế dẫn tới sự phức tạp xã hội nảy sinh, tư tưởng chống đối, co cụm, đầu óc tư hữu ích kỷ gia tăng. Kinh tế phát triển, đời sống vật chất được cải thiện nhưng đạo đức xã hội xuống cấp, văn hóa giáo dục chưa được chú ý đúng mức, các hủ tục cũ trỗi dậy.

Các nhà nghiên cứu cho rằng, về mặt lịch sử, công xã nông thôn ra đời thay thế cho công xã thị tộc, và từ công xã nông thôn dần dần xuất hiện xã hội đô thị và nền văn minh công nghiệp. Tuy nhiên, nghịch lý của sự phát triển lại ở chỗ, xã hội đô thị khi nó phát triển, nó lại trở thành lực lượng bóc lột nông thôn, đẩy nông thôn xuống lạc hậu đói nghèo. Và đến một mức độ nhất định, sự lạc hậu đói nghèo của nông thôn lại kìm hãm sự phát triển nội tại của chính nông thôn, làm cho biểu đồ phát triển của nông thôn luôn ở trong vòng luẩn quẩn, không có sự bứt phá. Vì thế, về mặt đường lối, quan điểm phát triển đất nước, chúng ta phải bước thu hẹp và xử lý hài hòa giữa đô thị và nông thôn. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, xây dựng nông thôn mới chính là nhằm đến mục tiêu xóa bỏ sự cách biệt, làm cho nông thôn phát triển cả về kinh tế, xã hội ngang với sự phát triển chung của đô thị. Do đó, không nên có sự khác biệt về cơ cấu hành chính cấp xã với cấp phường. Chúng ta đã chính quy hóa Công an ở cấp phường thì chủ trương đưa Công an chính quy về cấp xã là phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và phù hợp với quy luật phát triển xã hội.

Đưa Công an chính quy về xã, cần chú ý điều hòa giữa hệ thống quản lý hành chính và tính tự trị vốn có trong đời sống nông thôn Việt Nam. Quá trình chính quy hóa lực lượng Công an nhân dân ở địa bàn nông thôn cần tính đến đặc thù vùng miền. Nông thôn miền Bắc và miền Trung mang đặc điểm xã hội nông thôn Đông Á, chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và Ấn Độ. Ở đó, quan hệ họ hàng quần tụ, sống lâu đời trong một thôn xóm, sức mạnh của sự gắn kết họ hàng, dòng họ, thân tộc, anh em hết sức mạnh mẽ, tính tự trị, cộng đồng rất cao. Nông thôn miền Nam mang đặc điểm xã hội nông thôn Nam Á. Quan hệ dòng họ, thân tộc lỏng lẻo hơn. Sự gắn kết giữa họ được hình thành trong quá trình khai hoang, lập ấp hoặc do yêu cầu sản xuất, canh tác trên các miền xã ấp, kênh rạch, sông ngòi. Điều này cho thấy, việc bố trí Công an chính quy ở các vùng nông thôn miền Nam sẽ thuận lợi hơn bởi yếu tố tự trị, tự quản, yếu tố dòng họ, bản địa không cao như nông thôn miền Bắc và miền Trung.

Việc bố trí Công an chính quy về nông thôn thực chất là tăng cường quản lý nhà nước về an ninh trật tự tại cơ sở. Điều đó không mâu thuẫn với việc phát huy tính dân chủ, tính tự trị tích cực của nông thôn Việt Nam. Chúng ta đang phấn đấu xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Sự hiện hữu của Công an chính quy đồng nghĩa với tăng cường vai trò pháp luật, quản lý nhà nước bằng pháp luật, bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo đúng Hiến pháp và pháp luật. Trong lịch sử, việc tăng cường các yếu tố quan phương của nhà nước để chế ước sự trỗi dậy của các yếu tố phi quan phương đã được các triều đại phong kiến Việt Nam nhiều lần giải quyết.

Sự cần thiết khách quan phải chính quy hóa lực lượng Công an ở địa bàn nông thôn không chỉ tại bởi sự biến đổi của nông thôn đặt ra mà còn từ thực tế chủ thể Công an xã bán chuyên trách đặt ra. Lực lượng Công an xã bán chuyên trách thuộc hệ thống Công an nhân dân Việt Nam (An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân và Công an xã). Trong nhiều năm qua, lực lượng Công an xã bán chuyên trách đã làm tốt vai trò là nòng cốt trong phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh trật tự tại địa bàn nông thôn rộng lớn ở nước ta. Công an xã bán chuyên trách đã làm tốt vai trò tham mưu cho đảng ủy, chính quyền xã về công tác bảo đảm an ninh, trật tự; thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, phòng ngừa tội phạm và vi phạm pháp luật ở cơ sở; Trực tiếp giải quyết 80% các vụ việc liên quan đến an ninh, trật tự xảy ra trên địa bàn nông thôn. Nhờ vậy mà an ninh, trật tự ở nông thôn về cơ bản được bảo đảm. Toàn quốc hiện nay có 9.327 đơn vị Công an xã bán chuyên trách, trong đó, có 9.075 trưởng Công an xã, 13.947 phó trưởng Công an xã và 112.986 Công an viên. Tuy nhiên hiện nay, lực lượng này đã bộc lộ sự “quá tải”. Gọi là Công an xã là Công an nhưng thực tế họ không phải là Công an theo đúng nghĩa. Đó là một mâu thuẫn cần giải quyết, trong khi đó chủ trương của Đảng là xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Không thể để sự tồn tại một lượng lớn Công an “bán chính quy” trong lực lượng vũ trang mang tính chính quy như vậy. Sự tồn tại của Công an xã “bán chính quy” chỉ mang tính quá độ, phù hợp và cần thiết trong một giai đoạn khi mà nông thôn Việt Nam trong quá trình chuyển đổi và những vấn đề đặt ra về an ninh, trật tự trong mức độ mà lực lượng Công an bán chuyên trách đáp ứng được. Thực tiễn cho thấy, giai đoạn này những nhân tố làm nảy sinh nguy cơ mất an ninh, trật tự cũng có nhưng không nhiều, và tính chất, mức độ không quá nghiêm trọng như ngày nay.

Ở phương diện khác, tình hình an ninh trật tự ở nông thôn hiện nay khác hơn so với những năm đầu của thời kỳ đổi mới. Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật và tệ nạn xã hội ở địa bàn nông thôn diễn biến hết sức phức tạp, phương thức thủ đoạn tinh vi, mức độ nghiêm trọng, đặc biệt xuất hiện các loại tội phạm mới, tội phạm có tổ chức, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh an ninh truyền thống, những nguy cơ thách thức của an ninh phi truyền thống đang tác động rất nghiêm trọng đến sự ổn định của nông thôn hiện nay. Trên thực tế, các vụ án nghiêm trọng xảy ra ở địa bàn cơ sở, các vụ khiếu kiện vượt cấp đông người kéo dài, tình hình tham nhũng, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, tình hình bất ổn về tệ nạn xã hội, những mâu thuẫn nội bộ trong nhân dân kéo dài, hệ thống chính trị cơ sở yếu kém chậm được khắc phục, hiện tượng rào làng, lập bốt trái pháp luật ở một số địa phương cho thấy sự cần thiết phải tăng cường pháp chế, pháp luật, đề cao tính pháp quyền để bảo đảm an ninh nông thôn. Việc bố trí Công an chính quy về địa bàn nông thôn trước hết ở một số địa bàn trọng điểm và tiến tới toàn quốc sẽ bảo đảm việc quản lý đất nước bằng pháp luật, đề cao tính thượng tôn pháp luật. Điều này phù hợp với sự vận động và phát triển của đất nước sau 30 năm đổi mới và phù hợp với xu thế hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay./.

Đại tá, PGS.TS Phạm Thái Bình

                                Trưởng phòng Tạp chí CSND, Học viện CSND

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác