Thứ Bảy, 14/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số vấn đề trong đấu tranh chống buôn lậu khi áp dụng Hải quan điện tử

1. Khái quát về Hải quan điện tử

Sau 7 năm triển khai thí điểm thủ tục hải quan điện tử (TTHQĐT) theo Quyết định số 149/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính đã trình Chính phủ ban hành Nghị định 87/2012/NĐ-CP ngày 23/10/2012 chính thức áp dụng TTHQĐT từ ngày 01/01/2013. Đến nay, TTHQĐT đã được triển khai tại 34/34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố và được cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan chức năng, Chính phủ đánh giá cao trong việc mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng doanh nghiệp, đơn giản hóa việc làm thủ tục hải quan, giảm thời gian, chi phí thông quan của hàng hóa xuất nhập khẩu. Tiếp theo đó, ngày 01/04/2014, ngành Hải quan đã thực hiện TTHQĐT đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thương mại trên Hệ thống thông quan hàng hóa tự động Việt Nam (Vietnam Automated Cargo Clearance System) theo thông tư số 22/2014/TT-BTC ngày 14/2/2014 của Bộ Tài chính tại tất cả các Chi cục Hải quan trên toàn quốc.

* Quá trình triển khai thủ tục hải quan điện tử cũng đã đạt được những kết quả nhất định.

Việc triển khai hệ thống mới mang lại hiệu quả to lớn trong việc giảm thời gian, tiết kiệm chi phí trong quá trình thông quan hàng hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu. Cụ thể:

- Trong thời gian ngắn (3 tháng), Tổng cục Hải quan đã triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS trong phạm vi toàn quốc với 34/34 Cục Hải quan tỉnh, thành phố. Trước sức ép về thời gian, nguồn lực, tiến độ và mức độ phức tạp, nhưng Tổng cục Hải quan và các Cục Hải quan tỉnh, thành phố vẫn đảm bảo triển khai theo đúng tiến độ, kế hoạch đặt ra. Các hoạt động triển khai đều được kiểm soát chặt chẽ.

- Việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS không chỉ thay đổi về mặt công nghệ mà còn thay đổi về mặt quy trình thủ tục, thói quen và cách thức làm thủ tục hải quan của cả cán bộ, công chức hải quan và doanh nghiệp. Nhưng nhờ quá trình chuẩn bị tốt (Đào tạo, tập huấn, hướng dẫn, tuyên truyền và hỗ trợ trực tiếp, kịp thời), cả doanh nghiệp và Hải quan đã nhanh chóng tiếp cận hệ thống mới.

- Việc vận hành Hệ thống và các điều kiện hạ tầng kỹ thuật, đường truyền mạng ổn định.

- Công tác chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn và hỗ trợ của Tổng cục Hải quan và các Cục Hải quan tỉnh, thành phố rất kịp thời, quyết liệt. Tổng cục đã cử hơn 100 đoàn công tác gồm các chuyên gia hàng đầu đến tất cả các Cục Hải quan tại mọi miền đất nước để hỗ trợ triển khai và tháo gỡ khó khăn.

- Tỷ lệ phân luồng hàng hóa phù hợp với tình hình triển khai, tạo niềm tin của doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan trên Hệ thống mới.

- Các vướng mắc được xử lý kịp thời, thông tin về tình hình triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS giữa Tổng cục và các Cục Hải quan tỉnh, thành phố được thông suốt.

- Việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS đã tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực hải quan. Việc áp dụng Hệ thống VNACCS/VCIS rút ngắn thời gian thông quan (thời gian xử lý thông quan trung bình đối với hàng luồng xanh của Hệ thống không quá 3 giây). Hệ thống VNACCS/VCIS hỗ trợ khai tự động rất nhiều chỉ tiêu giúp doanh nghiệp hạn chế được sai sót trong quá trình nhập dữ liệu nên không phải khai đi khai lại nhiều lần. Đồng thời cả doanh nghiệp và Hải quan sẽ giảm được việc phụ thuộc vào văn bản, giấy tờ như hiện nay bởi các hệ thống văn bản đã được mã hóa, cập nhật vào hệ thống.

- Nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về hải quan, hiện thực hóa mục tiêu nêu trong Chiến lược phát triển Hải quan Việt Nam đến năm 2020: Thay đổi phương pháp hải quan hướng tới quản lý doanh nghiệp thay vì quản lý thiên về hàng hóa như hiện nay; Các quy trình thủ tục được đơn giản hóa, chuẩn hóa, áp dụng tối đa công nghệ thông tin nên vừa giảm tải áp lực công việc cho cán bộ, công chức, vừa hỗ trợ tối đa công tác giám sát, quản lý của cơ quan hải quan. Việc thực hiện Hệ thống VNACCS/VCIS hướng đến triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, giảm thiểu giấy tờ do sử dụng chữ ký số. Đây là động lực để đẩy mạnh cải cách hành chính nằm trong chủ trương chung của Chính phủ.

* Một số hạn chế trong việc triển khai hệ thống Hải quan điện tử

Bên cạnh những mặt được nêu trên, việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS trong thời gian vừa qua còn bộc lộ một số hạn chế, tồn tại sau:

 Một số lĩnh vực nghiệp vụ thực hiện chưa tốt, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan như:

+ Khâu giám sát hàng hóa: Quy trình hướng dẫn chưa thực sự lường hết các tình huống phát sinh tại khâu giám sát, cùng với việc áp dụng máy móc của cán bộ, công chức hải quan tại một số chi cục dẫn đến khó khăn cho doanh nghiệp trong việc hoàn thành thủ tục hải quan, gây ách tắc hàng hóa của doanh nghiệp tại cảng. Giải quyết vấn đề này, Tổng cục Hải quan đã kịp thời ban hành các công văn hướng dẫn cụ thể công tác giám sát, chấn chỉnh kỷ cương, kỷ luật và quán triệt cán bộ, công chức toàn ngành hết lòng, hết sức phục vụ người dân và doanh nghiệp.

+ Vấn đề nộp thuế: Thông tin nộp thuế của doanh nghiệp chuyển đến cơ quan hải quan chậm, làm chậm quá trình thông quan hàng hóa. Nhiều trường hợp doanh nghiệp phải mang chứng từ nộp thuế đến xuất trình cho cơ quan Hải quan để đẩy nhanh quá trình thông quan hàng hóa;

+ Vấn đề nợ thuế: Khi đưa Hệ thống VNACCS/VCIS vào vận hành, thì ngành hải quan cũng vận hành hệ thống Kế toán thuế tập trung (được nâng cấp từ hệ thống Kế toán thuế phân tán), cùng một lúc vận hành nhiều hệ thống mới, nên trong giai đoạn đầu triển khai, một số công chức sử dụng hệ thống chưa thành thạo, dẫn đến số liệu nợ thuế của một số doanh nghiệp trên hệ thống chưa chính xác, gây ra tình trạng cưỡng chế thuế hoặc xét ân hạn thuế một số trường hợp chưa chính xác gây bức xúc cho doanh nghiệp. Giải quyết vấn đề này, Tổng cục Hải quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn Cục Hải quan các tỉnh, thành phố về công tác xử lý nợ, quản lý nợ thuế trên hệ thống kế toán thuế.

+ Vấn đề 1 tờ khai chỉ khai được tối đa 50 dòng hàng dẫn đến phát sinh chi phí cho các trường hợp lô hàng có nhiều hơn 50 dòng hàng, phải tách thành nhiều tờ khai. Giải quyết vấn đề này, Bộ Tài chính đã có công văn cho phép doanh nghiệp chỉ nộp lệ phí hải quan cho 01 tờ khai của lô hàng.

- Mặc dù Tổng cục Hải quan đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng việc xử lý các vướng mắc của cán bộ, công chức hải quan và doanh nghiệp đôi lúc còn chậm, ảnh hưởng không tốt đến việc xử lý quy trình nghiệp vụ và làm thủ tục hải quan của cán bộ, công chức hải quan và doanh nghiệp.

- Hệ thống thông tin liên quan kết nối với Hệ thống VNACCS/VCIS còn đôi lúc còn chưa thông suốt và thiếu một số chức năng phục vụ quản lý dẫn đến một số khó khăn trong quá trình làm thủ tục hải quan của doanh nghiệp và công chức hải quan.

- Việc trao đổi thông tin với các Bộ, Ngành chưa được thực hiện chính thức dẫn đến việc chưa tận dụng hết hiệu quả triển khai thủ tục Hải quan điện tử.

* Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong hải quan điện tử

- Nguyên nhân chủ quan: Về phía cơ quan Hải quan, số lượng cán bộ, công chức triển khai hạn chế, trong khi số lượng công việc tăng nhanh và sức ép lớn nên việc xử lý một số việc, vướng mắc đôi lúc còn bị chậm. Bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một bộ phận cán bộ, công chức hải quan chưa nắm vững quy định nghiệp vụ, có thái độ gây phiền hà, sách nhiễu làm kéo dài thời gian thông quan, tăng chi phí của doanh nghiệp; Về phía doanh nghiệp: Hệ thống VNACCS/VCIS là hệ thống mới, đòi hỏi việc chuẩn hóa cao, trong giai đoạn đầu, một số doanh nghiệp còn bỡ ngỡ, chưa thành thạo trong khai báo nên dẫn đến khai chưa chính xác và ảnh hưởng đến quá trình thông quan.

- Nguyên nhân khách quan: Vấn đề phối hợp trao đổi thông tin kịp thời giữa các cơ quan Nhà nước (các Bộ, ngành cấp giấy phép, Ngân hàng thương mại, Kho bạc...) cũng còn hạn chế nên ảnh hưởng phần nào đến thủ tục thông quan của doanh nghiệp (thí dụ độ trễ trong luân chuyển thông tin từ Ngân hàng thương mại đến kho bạc ảnh hưởng đến xác nhận tình trạng ân hạn thuế cho doanh nghiệp...).

Song song với việc nảy sinh những vấn đề trong cơ chế hệ thống thông quan điện tử mới chính là vấn đề công tác kiểm soát của ngành Hải quan nói chung và lực lượng kiểm soát nói riêng. Trong đó nổi lên một số hiện tượng đáng chú ý sau:

- Hiện tượng lợi dụng thủ tục hải quan điện tử để buôn lậu, gian lận thương mại vẫn tiếp diễn với các hình thức: Với chương trình thông quan điện tử hiện nay, doanh nghiệp có thể biết trước thông tin phân luồng cho lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu của mình. Đối với hàng xuất khẩu khi doanh nghiệp nhận được thông tin phân luồng (miễn kiểm tra thực tế hàng hóa) có thể đưa những container hàng hóa không đúng với khai báo để xuất khẩu. Đối với các lô hàng nhập khẩu doanh nghiệp cố tình khai báo sai: trường hợp được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa (doanh nghiệp thực hiện trót lọt); trường hợp phải kiểm tra thực tế (luồng đỏ) hoặc có sự phối hợp công tác của các lực lượng chức năng (như Công an, Quản lý thị trường, các lực lượng chống buôn lậu khác…), doanh nghiệp đối phó bằng cách xin sửa chữa, khai bổ sung cho phù hợp với bộ chứng từ thật hay xin hủy tờ khai sau đó khai lại tờ khai khác; Hiện nay các tờ khai luồng xanh - vàng thông quan rất nhanh và rất nhiều rủi ro, qua kiểm tra đã phát hiện rất nhiều vi phạm qua luồng xanh - vàng, rất nhiều trường hợp cố tình khai báo tên hàng có thuế suất thấp, không ảnh hưởng đến chính sách để được máy phân luồng xanh, luồng vàng nhằm trốn thuế, gian lận thương mại; Hệ thống VNACCS/VCIS còn mới, dữ liệu đánh giá doanh nghiệp bước đầu còn thiếu thông tin dẫn đến vẫn còn hiện tượng một số doanh nghiệp lợi dụng để vi phạm.

- Sự thuận lợi của cơ chế, chính sách quản lý nhà nước vẫn đang bị các đối tượng lợi dụng để buôn lậu, gian lận thương mại: Loại hình quá cảnh, hàng chuyển khẩu: xuất hiện hiện tượng lợi dụng chính sách xuất nhập khẩu, mở tờ khai theo các loại hình này để khai báo cho các lô hàng không đúng với thực tế hoặc các lô hàng cần phải có giấy phép chuyên ngành…; Loại hình phi mậu dịch thời gian gần đây xuất hiện nhiều sai phạm với các thủ đoạn khai báo không đúng số lượng thực tế, khai báo sai xuất xứ để gian lận về giá, tránh né các giấy phép phải nộp theo quy định; Loại hình tạm nhập tái xuất: tại một số địa bàn khu vực biên giới như Nà Lạn - Cao Bằng, Bản Vược, Mường Khương, Bản Quẩn - Lào Cai tiềm ẩn nguy cơ lợi dụng các chính sách, quy định của Chính phủ, của địa phương để buôn lậu, vận chuyển trái phép các mặt hàng cấm, hàng có thuế suất cao, hàng xuất nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành qua biên giới; xuất khống, xuất ít khai nhiều hoặc quay vòng hàng hóa xuất khẩu để hoàn thuế GTGT thông qua loại hình tạm nhập, tái xuất.

- Chưa thực sự đẩy mạnh cũng như phát triển được công tác quản lý rủi ro của toàn Ngành: Thông tin được Ban quản lý rủi ro thu thập, cập nhật vào hệ thống mới chỉ phục vụ công việc phân luồng tờ khai theo một bộ quy định sẵn, chưa có tác dụng nhiều trong phục vụ công tác kiểm soát của Ngành

2. Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật trên các tuyến theo chức năng của lực lượng Hải quan

* Tại tuyến đường bộ, địa bàn trọng điểm là Khu vực Cửa khẩu Tây Trang, Hổi Puốc, Chiềng Khương tỉnh Điện Biên; Móng Cái tỉnh Quảng Ninh; Tân Thanh, Hữu Nghị, Chi Ma tỉnh Lạng Sơn; Tà Lùng, Nà Lạn tỉnh Cao Bằng; cửa khẩu phụ Bản Vược, cửa khẩu Mường Khương, Cửa khẩu quốc tế Lào Cai tỉnh Lào Cai; Nậm Cắn tỉnh Nghệ An; Cầu Treo tỉnh Hà Tĩnh; Lao Bảo tỉnh Quảng Trị; Thường Phước tỉnh Đồng Tháp; Tịnh Biên, Vĩnh Xương tỉnh An Giang; Mộc Bài tỉnh Tây Ninh;... Thủ đoạn phổ biến vẫn là: lợi dụng tiêu chuẩn định mức hàng hóa được miễn thuế đối với cư dân biên giới, xé lẻ hàng, giấu hàng nhập lậu lẫn với hàng hóa nằm trong danh mục thuộc diện miễn thuế theo định mức; lợi dụng sự sơ hở trong công tác kiểm tra, kiểm soát cất giấu hàng hóa trong người, hành lý, phương tiện vận tải của hành khách xuất nhập cảnh; lợi dụng sơ hở của các lực lượng chức năng, tổ chức tuồn hàng qua hàng rào hành lang hai bên cánh gà cửa khẩu ra ngoài; lợi dụng đêm tối, sử dụng thuyền nan, mảng, vận chuyển hàng lậu qua sông, suối biên giới hoặc lợi dụng địa hình đường biên sát khu dân cư có nhiều đường mòn, lối mở, các đầu nậu thuê cửu vạn chia nhỏ hàng hóa, vác qua biên giới để vận chuyển vào nội địa. Hàng hóa vi phạm bao gồm nhiều chủng loại, tập chung vào các mặt hàng cấm, hàng tạm nhập tái xuất, hàng tiêu dùng, các mặt hàng rượu, bia, thuốc lá, gia cầm,... trong đó nhiều mặt hàng là có thuế suất cao, hàng thuộc danh mục Cites như gỗ Trắc, quặng các loại, phế liệu, hàng bách hóa,...

Năm 2014, tuyến đường bộ nổi lên một số hiện tượng, cụ thể:

- Buôn bán, vận chuyển trái phép động thực vật, hoang dã chưa có dấu hiệu giảm: Mặc dù Tổng cục Hải quan đã quyết liệt chỉ đạo các đơn vị tăng cường kiểm tra, kiểm soát hoạt động buôn bán, vận chuyển trái phép động, thực vật hoang dã, sản phẩm từ động vật hoang dã, nhưng hoạt động này vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, tập trung ở các địa bàn Tây Bắc, miền Trung, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Các đối tượng lợi dụng việc triển khai các dự án phát triển kinh tế - xã hội để phá rừng, khai thác, vận chuyển gỗ trái phép, thu mua gỗ lậu sau đó hợp thức hóa giấy tờ để vận chuyển, sử dụng hóa đơn quay vòng để buôn lậu gỗ qua các cửa khẩu đường bộ; cất giấu động vật hoang dã, sản phẩm từ động vật hoang dã lẫn các hàng hóa khác để vận chuyển trái phép vào Việt Nam. Điển hình, tại địa bàn Cục Hải quan Quảng Ninh đã kiểm tra 01 phương tiện xe ô tô phát hiện 71 cá thể Tê tê có trọng lượng 220 kg không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc; tiếp đến trong 02 ngày 25/6, 04/7/2014, Cục Hải quan tỉnh Quảng Trị phát hiện 02 đối tượng mua bán 1,564m3 gỗ Hương không có chứng từ hợp pháp trong địa bàn hoạt động hải quan; Trị giá hàng vi phạm ước tính: 46.860.000 đồng.

- Buôn lậu thuốc lá tại các khu vực biên giới có sự thay đổi về quy mô, thủ đoạn. Thuốc lá được buôn lậu về Việt Nam bằng nhiều con đường qua các bến bãi, đường mòn, lối mở, dọc các bờ sông biên giới. Bên cạnh các vụ việc buôn lậu thuốc lá nhỏ lẻ (dưới 1500 bao) như thời gian trước đây, đã xuất hiện những vụ buôn lậu với quy mô lớn, thủ đoạn tinh vi, các đối tượng cử người cảnh giới, khi phát hiện lực lượng chức năng thì báo động bỏ chạy. Từ ngày 16/12/2013 đến 15/10/2014, các Cục Hải quan tỉnh, thành phố đã thu giữ: 389.949 bao thuốc lá và 1.271 kg thuốc lá. Đáng chú ý, tại địa bàn Quảng Ninh, từ ngày 26/7 đến ngày 8/8/2014, Chi cục HQCK Móng cái - Cục Hải quan Quảng Ninh liên tiếp phát hiện 06 vụ vận chuyển trái phép thuốc lá điếu, thu giữ: 23.160 bao thuốc lá hiệu Salem, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính 316,4 triệu đồng.

- Tình trạng vận chuyển trái phép gia cầm, sản phẩm gia cầm có chiều hướng gia tăng. Đề án Phòng ngừa, ngăn chặn vận chuyển và kinh doanh gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập khẩu trái phép theo Quyết định số 2088/QĐ-TTg ngày 27/12/2012 của Thủ tướng Chính phủ đã được các lực lượng chức năng trong đó có ngành Hải quan triển khai quyết liệt, nhưng hoạt động vận chuyển gia cầm, sản phẩm gia cầm trái phép qua biên giới có chiều hướng gia tăng trở lại. Các đối tượng buôn lậu từ Trung Quốc các loại gia cầm, thủy hải sản, nội tạng như: gà, vịt giống, trứng gia cầm, chế phẩm thực phẩm, cá các loại,... với quy mô nhỏ (vài trăm kg), sau đó dùng xe mô tô vận chuyển trốn tránh các lực lượng chức năng. Khi bị phát hiện chúng bỏ hàng tẩu thoát nên công tác bắt giữ và xử lý đối tượng gặp nhiều khó khăn. Chỉ tính riêng địa bàn Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh đã bắt giữ 22 vụ, tịch thu, tiêu hủy 39.800 quả trứng, 66.850 con gà, ngỗng, vịt giống, 1.070 kg thịt gia cầm các loại.

* Tuyến Hàng không - Bưu điện. Địa bàn trọng điểm là kho hàng nội địa Sân bay Tân Sơn Nhất, chuyển phát nhanh Fedex, DHL, Bưu điện trung tâm TP. Hồ Chí Minh; Kho hàng Gia Lâm, ICD Mỹ Đình, kho hàng, nhà ga sân bay quốc tế Nội Bài, trạm trả hàng Fedex - Hà Nội; Các chuyến bay trọng điểm như: tuyến bay xuất đi Úc, Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, các tuyến bay nhập từ Thái Lan, Lào, Cam puchia, Hồng Kông, Pháp, Mỹ, Đức, Ấn Độ, Pakistan, Malaysia, các nước châu Phi,...

Nổi lên trên tuyến này là tình trạng vận chuyển trái phép chất ma túy diễn biến phức tạp, nhiều thủ đoạn cất giấu tinh vi với số lượng lớn và thường xuyên thay đổi để đối phó với các lực lượng chức năng như ngụy trang trong thực phẩm, mỹ phẩm để vận chuyển, gửi ra nước ngoài làm quà biếu hay gửi qua đường bưu phẩm với địa chỉ người gửi không có thật.

Nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn nên các Chi cục Hải quan cửa khẩu sân bay và bưu điện, chuyển phát nhanh phối hợp với các lực lượng chức năng đã bắt giữ 234 vụ buôn bán, vận chuyển trái phép chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hướng thần, trong đó, đáng chú ý là các thủ đoạn mới được lực lượng hải quan phát hiện tại: sân bay Nội Bài - Hà Nội bắt giữ 02 vụ, thu giữ 1.984,83 gram ma túy tổng hợp, 4.572,46 gram cocain được ngụy trang bằng những  hộp Knorr chicken powder; sân bay quốc tế Đà Nẵng bắt giữ 02 vụ, thu giữ 4,355 gram tiền chất Ephedrine được các đối tượng dùng bao bì, nhãn hiệu của cơ sở sản xuất đường Thốt nốt Lan Nhi để bọc bên ngoài; sân bay Tân Sơn nhất - TP Hồ Chí Minh bắt giữ 03 vụ tiền chất, cocain và 63 vụ vận chuyển trái phép thuốc gây nghiện hướng thần, thu giữ 5.340 viên, vỉ, lọ các loại.

Đối với mặt hàng cấm là sản phẩm từ động vật hoang dã như ngà voi, sừng tê giác,... tuyến hàng không bưu điện luôn được các đối tượng buôn lậu chọn để vận chuyển vì trọng lượng và kích thước loại mặt hàng này nhỏ, dễ ngụy trang, cất giấu, lợi nhuận kinh tế cao. Điển hình, ngày 20/6/2014, Chi cục HQ CK SBQT Tân Sơn Nhất phát hiện 01 vụ vận chuyển trái phép 90 kg ngà voi gồm 39 khúc ngà, 20 chuỗi hạt, 80 vòng đeo tay được ngụy trang trong kiện hàng; liên tiếp trong các ngày 27/10/2014, 01/11/2014, Chi cục Hải quan CKSBQT Nội Bài đã phối hợp phát hiện, bắt giữ 04 hành khách không khai báo 26 miếng sừng, tổng trọng lượng khoảng 12.7 kg, nghi là sừng tê giác.

Cùng trong loại hàng thuộc danh mục cấm vận chuyển là các loại công cụ hỗ trợ, văn hóa phẩm có nội dung xấu cũng được phát hiện, điển hình, ngày 11/7/2014, Chi cục HQ chuyển phát nhanh - Cục Hải quan TP Hồ Chí Minh đã kiểm tra và phát hiện lô hàng 05 bộ máy phá sóng lắp trên các loại xe ô tô để phát hiện và vô hiệu hóa sóng phát ra từ súng bắn tốc độ của lực lượng CSGT, trị giá hàng hóa vi phạm ước tính 80 triệu đồng.

* Tuyến đường biển, Trọng điểm là khu vực cảng biển TP. Hải Phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai,… vùng biển Đông Bắc và Miền Trung. Đây là tuyến đường có lưu lượng hàng hóa rất lớn, nên các mặt hàng vi phạm trọng điểm đa dạng. Trong đó, đáng chú ý là súng, xăng, dầu, gỗ, khoáng sản, động thực vật hang dã vi phạm Công ước CITES; rác thải, phế liệu gây ảnh hưởng môi trường, vi phạm Công ước Basel; hàng tiêu dùng, thực phẩm, gia súc, gia cầm, hàng hóa không đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng...

Đối tượng trọng điểm tuyến này là các thuyền viên, các doanh nghiệp thường xuyên đăng ký kiểm tra vào giờ cao điểm, thường xuyên hủy tờ khai xuất khẩu đã được phê duyệt kiểm tra. Đặc biệt lưu ý: các DN hoạt động kinh doanh kho ngoại quan và những doanh nghiệp thường xuyên XNK hàng hóa qua kho Ngoại quan.

Các hiện tượng đáng chú ý trên tuyến biển năm 2014:

Tại vùng biển các tỉnh, thành phố: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình,... hàng lậu thường được các đối tượng tổ chức theo hai chiều: hàng xuất thường là gỗ quý các loại, nông sản, nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp,... hàng nhập gồm vải, đồ điện tử dân dụng, kính xây dựng, động vật hoang dã, hàng hóa ảnh hưởng đến môi trường,... Điển hình, ngày 24/7/2014, Đội kiểm soát chống buôn lậu khu vực miên Bắc - Cục Điều tra chống buôn lậu chủ trì phối hợp với Cục Hải quan thành phố Hải Phòng khám xét lô hàng container phát hiện 56 sọt, nghi là vảy Tê tê với tổng trọng lượng ước tính khoảng 1,4 tấn; trị giá vi phạm ước khoảng 10 tỷ đồng; Ngày 6/8/2014, Đội Kiểm soát chống buôn lậu khu vực miền Bắc - Cục Điều tra chống buôn lậu phối hợp với Cục Hải quan thành phố Hải Phòng phát hiện Công ty TNHH MTV Phúc Hoàng có hành vi khai báo sai về tên hàng và số lượng hàng, tịch thu 37 kiện phế liệu nhựa dạng bánh xe khối lượng ước tính 15.270kg.

Buôn lậu vận chuyển trái phép khoáng sản chưa có dấu hiệu giảm do Nghị định 142/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước và khoáng sản không có điều khoản nào quy định hình thức xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi mua, bán, vận chuyển, tiêu thụ và tàng trữ khoáng sản không có nguồn gốc hợp pháp. Vì vậy, tại các vùng biển trọng điểm như Đông Bắc, Đông Nam Bộ và Tây Nam, xăng dầu, than, khoáng sản,... được buôn lậu, vận chuyển trái phép với thủ đoạn chủ yếu là thu mua hàng trôi nổi, không có nguồn gốc trên thị trường, sau đó tập kết trên bờ sông, bến bãi thuộc các tỉnh Hải Phòng, Quảng Ninh (khu vực vùng biển Đông bắc) rồi bốc rót xuống các bè, mảng, tàu có trọng tải lớn, dùng hóa đơn, chứng từ vận chuyển nội địa có điểm đến là các tỉnh miền Trung, miền Nam. Khi đi qua khu vực đảo Bạch Long Vỹ, các tàu này đột ngột chuyển hướng chạy bám theo đường phân định, trà trộn vào các tàu đánh bắt xa bờ của ngư dân để lẩn tránh lực lượng chức năng và chờ cơ hội sang mạn xăng dầu trái phép ngay trên biển hoặc đưa sang các cảng của Trung Quốc để bán. Điển hình, ngày 24/6/2014, Cục Hải quan Quảng Ninh phát hiện, bắt giữ 01 tàu vận chuyển 2.860,71 tấn quặng sắt không có giấy tờ chứng minh nguồn gốc, trị giá hàng vi phạm 1.436 triệu đồng; ngày 21/8/2014, Cục Điều tra chống buôn lậu với phối hợp Cục Phòng chống tội phạm ma túy BĐBP - Tiền Giang phát hiện 02 vụ vận chuyển trái phép xăng dầu trên biển, thu giữ: 240.000 lít xăng A92; 320.000 lít dầu DO. Trị giá hàng hóa vi phạm ước tính trên 12 tỷ đồng.

Gần đây, lợi dụng sự tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nhập khẩu thông qua việc áp dụng hệ thống thông quan tự động, nhiều đối tượng đã khai báo sai về số lượng, chủng loại, trị giá, làm giả hồ sơ hải quan, khai báo nhiều chủng loại mặt hàng cùng lô "hàng bách hóa",... để gian lận, trốn thuế.

Sự phức tạp trong lợi dụng hình thức tạm nhập - tái xuất để buôn lậu vẫn còn tồn tại. Loại hình này có nhiều ưu đãi về chính sách thuế, mặt hàng (không tính thuế, cấp phép đối với hàng hóa có điều kiện...) phương thức vận chuyển chủ yếu là container, quãng đường vận chuyển dài, qua nhiều địa bàn. Đã phát hiện một số vụ vi phạm với thủ đoạn tái xuất không đúng tuyến đường, không đúng cửa khẩu ghi trong giấy phép và tờ khai, khai báo không đúng về tên hàng, số lượng, trọng lượng, chủng loại hàng hóa theo tờ khai; làm giả hồ sơ hải quan, giả chữ ký của công chức hải quan,... Một số lô hàng là hàng cấm nhập khẩu, hàng đã qua sử dụng, rác thải công nghiệp, hàng thực phẩm đông lạnh…

Hiện tượng vi phạm trong lĩnh vực gia công đầu tư nước ngoài vẫn diễn biến phức tạp, qua công tác thu thập thông tin doanh nghiệp gia công trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh, cho thấy những phương thức, thủ đoạn gian lận trong loại hình gia công chủ yếu là: lợi dụng sơ hở trong việc thành lập, giải thể doanh nghiệp dễ dàng, các đối tượng đã thành lập công ty nhưng không có năng lực thực hiện gia công (trụ sở thuê, giám đốc thuê, thuê hoặc mượn máy móc), sau khi nhập nguyên phụ liệu bán ra thị trường nhằm trốn thuế nhập khẩu. Gian lận về số lượng, chủng loại của nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu. Khai gian định mức (kê khai định mức nguyên phụ liệu cao hơn thực tế) để đưa số nguyên phụ liệu dư thừa, sản phẩm hoàn chỉnh từ nguyên phụ liệu dư thừa vào tiêu thụ nội địa nhằm trốn thuế nhập khẩu.

Trong năm 2014, tình hình buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ có xu hướng gia tăng, diễn biến phức tạp cả về hình thức, tính chất, mức độ và phương thức thủ đoạn vi phạm. Vi phạm chủ yếu là lợi dụng việc hàng hóa được phân luồng xanh không kiểm tra thực tế để gian lận, không khai báo trên tờ khai hải quan nhãn hiệu hàng hóa nhập khẩu, trộn lẫn hàng hóa không vi phạm với hàng hóa vi phạm, khai báo giá trị thấp để trốn thuế. Những mặt hàng vi phạm khá đa dạng, từ thời trang cao cấp, các mặt hàng tiêu dùng thông dụng như rượu ngoại, thuốc lá điếu, phụ tùng xe máy, mũ bảo hiểm, phân bón, đến các mặt hàng ảnh hưởng đến sức khỏe như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng, thuốc chữa bệnh,...

Tình hình buôn bán, vận chuyển trái phép các chất ma túy

Các đường dây mua bán, vận chuyển trái phép chất ma túy hoạt động có tính chất xuyên quốc gia, nguồn ma túy chủ yếu được vận chuyển từ nước ngoài vào Việt Nam với số lượng lớn, chủ yếu diễn ra trên tuyến đường bộ và tuyến hàng không, bưu điện, trong khi đó, tuyến đường biển tiềm ẩn nguy cơ cao về ma túy với số lượng lớn. Địa bàn trọng điểm là Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng, Điện Biên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh, An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp,...

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác phòng chống tội phạm buôn lậu trong thời gian tới

Đứng trước yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới, được lãnh đạo Chính phủ, lãnh đạo Bộ Tài chính tin tưởng, giao phó nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia, chống buôn lậu và gian lận thương mại, Tổng cục Hải quan đã chỉ đạo triển khai quyết liệt công tác chống buôn lậu với các mục tiêu chủ yếu gồm: tập trung hoàn thiện cơ sở pháp lý; các biện pháp nghiệp vụ; Nâng cao năng lực lực lượng chuyên trách chống buôn lậu; đầu tư trang thiết bị, phương tiện hiện đại; tăng cường phối hợp với các lực lượng chức năng; xác lập chuyên đề, chuyên án đấu tranh hiệu quả với buôn lậu, gian lận thương mại, góp phần bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và chống thất thu thuế. Các kế hoạch đặt ra cụ thể như sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ sở pháp lý và quy trình thủ tục, Trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan sẽ khẩn trương rà soát lại toàn bộ văn bản, quy định pháp lý liên quan để ban hành hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành đầy đủ, kịp thời các văn bản pháp lý, quy trình thủ tục phục vụ cho triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS theo nội dung của Luật Hải quan sửa đổi đã được Quốc hội thông qua ngày 23/6/2014 và áp dụng từ ngày 01/01/2015.

Trong công tác kiểm soát của ngành Hải quan nói chung và công tác phòng, chống buôn lậu nói riêng vẫn còn một số bất cập về cơ sở pháp lý liên quan đến thẩm quyền của cơ quan Hải quan cần phải được sửa đổi, bổ sung để đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới. Tổng cục Hải quan kiến nghị lãnh đạo Bộ Tài chính đề xuất Chính phủ, Quốc hội

Hai là, đảm bảo hệ thống công nghệ thông tin và các điều kiện kỹ thuật ổn định. Trong thời gian tới, để đảm bảo Hệ thống VNACCS/VCIS và các hệ thống công nghệ thông tin vận hành ổn định, chắc chắn, đòi hỏi thực hiện cơ chế bảo trì, bảo dưỡng vận hành Hệ thống VNACCS/VCIS và điều kiện kỹ thuật thông qua việc thuê các nhà thầu có kinh nghiệm về vấn đề này. Tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện các chức năng quản lý, giám sát trên hệ thống VNACCS/VCIS, thực hiện có hiệu quả hơn vai trò kiểm soát của Ngành.

Ba là, đẩy nhanh thực hiện Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN. Để triển khai đồng bộ Hệ thống VNACCS/VCIS và với vai trò là đơn vị đầu mối, trong thời gian tới, Tổng cục Hải quan tiếp tục phối hợp tốt với các Bộ, ngành liên quan đẩy nhanh tiến độ triển khai Cơ chế một cửa quốc gia, phối hợp trao đổi thông tin kịp thời với các đơn vị liên quan trong quá trình làm thủ tục (ngân hàng, kho bạc, doanh nghiệp...).

Bốn là, cải tiến phương thức thanh toán, thu nộp thuế. Để đồng bộ với việc triển khai Hệ thống VNACCS/VCIS, góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và cơ quan hải quan trong quá trình làm thủ tục hải quan, trong thời gian tới cần phải cải tiến phương thức nộp thuế đảm bảo nhanh và thuận tiện cho doanh nghiệp như sử dụng tài khoản chuyên thu,… Bên cạnh đó, Tổng cục Hải quan tiếp tục hoàn thiện việc kết nối Hệ thống VNACCS/VCIS với các Hệ thống liên quan để đảm bảo việc truyền và xử lý thông tin được thông suốt trong quá trình làm thủ tục hải quan trên Hệ thống VNACCS/VCIS.

 Năm là, tiếp tục đào tạo, nâng cao năng lực và kiến thức của cán bộ, công chức hải quan và doanh nghiệp. Tiếp tục thực hiện đào tạo, hỗ trợ doanh nghiệp trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ làm thủ tục hải quan trên hệ thống thông quan điện tử mới; Tiếp tục đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ hải quan trong công tác kiểm soát của Ngành; Tiếp tục nghiên cứu, phát triển công tác quản lý rủi ro nhằm thực hiện tốt công tác kiểm soát của Ngành, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Vừa thực hiện có hiệu quả trong công tác phát hiện đấu tranh phòng chống buôn lậu, vừa tạo điều kiện thông thoáng cho doanh nghiệp tuân thủ tốt pháp luật của Nhà nước về hải quan; Thực hiện kiểm tra, thanh tra, chấn chỉnh và xử lý nghiêm khắc theo quy định đối với các cán bộ, công chức hải quan có hành vi sách nhiễu, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục.

Sáu là, cơ chế tiếp nhận và xử lý vướng mắc phát sinh. Tập trung xử lý dứt điểm các vướng mắc hiện tại, đồng thời thực hiện cơ chế xử lý nhanh, hiệu quả đối với các vướng mắc phát sinh. Đảm bảo các vướng mắc được tiếp nhận và xử lý trong thời gian ngắn nhất. Thực hiện tốt sức mạnh quần chúng trong công tác đấu tranh phòng chống buôn lậu, bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia.

Huy động nguồn lực toàn ngành trong việc triển khai Hệ thống thông quan điện tử tự động VNACCS/VCIS, thực hiện mọi biện pháp để hỗ trợ tối đa, kịp thời các doanh nghiệp trong quá trình làm thủ tục hải quan trên hệ thống thông quan điện tử mới.

ThS. Đào Xuân Thành - Trưởng phòng 2 - Cục điều tra chống buôn lậu

Nguồn: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới trong tình hình mới" tháng 1/2015 tại Học viện Cảnh sát nhân dân

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác