Thứ Tư, 19/6/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Những vướng mắc, bất cập quy định tại chương XX Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2016

Những thay đổi cơ bản ở nhóm tội này được thể hiện qua việc tách riêng các tội được quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định ở 4 điều luật độc lập gồm: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249), tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250), tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251), tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252); tách riêng hai tội được quy định tại Điều 200 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định ở hai điều luật gồm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257) và tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 258) để bảo đảm quy định đường lối xử lý phù hợp với từng tội, bổ sung các chất ma túy nằm trong danh mục các chất ma túy đã được Chính phủ quy định nhằm đáp ứng yêu cầu xử lý tội phạm của thực tiễn…
Tuy nhiên, nghiên cứu quy định về nhóm tội phạm về ma túy trong Bộ luật hình sự hiện hành trong tổng thể các tội thuộc chương này cũng như với các chương khác của Bộ luật hình sự, chúng tôi vẫn thấy còn một số bất cập nhất định.
Trước hết, quy định về định lượng các chất ma túy tại các điều luật của chương này chưa thật sự khoa học. Ví dụ: Điều 248 về tội sản xuất trái phép chất ma túy quy định định lượng ma túy tại các cấu thành tội phạm tăng nặng như sau:
Khoản 2: 
đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa Cần sa hoặc cao Coca có khối lượng từ 500g đến dưới 01 kg;
e) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR -11 có khối lượng từ 05g đến dưới 30g;
g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100g;
h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mml đến dưới 200 mml;
Với quy định này, biên độ dao động giữa mức tối đa và mức tối thiểu của các chất ma túy được quy định ở các điểm hoàn toàn khác nhau:
- Điểm đ là 2 lần;
- Điểm e là 6 lần;
- Điểm g là 5 lần;
- Điểm h là 2 lần.
Khoản 3:
b) Nhựa thuốc phiện, nhựa Cần sa hoặc cao Côca có khối lượng từ 01kg đến dưới 05kg;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30g đến dưới 100g;
d) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100g đến dưới 300g;
đ) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 200 mml đến dưới 750 mml;
Tương tự như ở Khoản 2, biên độ dao động giữa mức tối đa và mức tối thiểu trong định lượng các chất được quy định tại các điểm cũng khác nhau:
- Điểm b: 5 lần;
- Điểm c: gần 3,3 lần;
- Điểm d: 3 lần; 
- Điểm l: 3,25 lần.
Những con số trên cho thấy, định lượng ma túy được xác định ở các khoản tại Điều luật này (cũng như ở các điều luật khác) không theo một nguyên tắc thống nhất và do đó không bảo đảm tính khoa học. Mức chênh lệch giữa định lượng ma túy tối đa với định lượng ma túy tối thiểu ở cùng một khung hình phạt cũng như đối với cùng chất ma túy ở các khung hình phạt khác nhau không thống nhất dù được tính theo cách nào. Điều đó dẫn đến tình trạng lượng chất ma túy được xếp bình đẳng ở cùng một cấu thành tội phạm có thể có giá trị không giống nhau trong trường hợp tổng hợp nhiều chất ma túy. Ví dụ: Một người sản xuất cả bốn chất ma túy với định lượng đều là mức tối thiểu được quy định tại 4 điểm khác nhau ở Khoản 2, Điều 248 Bộ luật hình sự.
Đây là trường hợp mỗi chất ma túy được sản xuất có giá trị ngang bằng nhau trong việc định tội. Tuy nhiên khi tổng hợp chúng theo quy định tại Điểm e, Khoản 3, Điều 248 thì giá trị định tội của chúng lại khác nhau. Cụ thể là: 
Nhựa thuốc phiện: 500g = 50% mức khởi điểm của Khoản 3.
Heroine: 5 g ~ 16,6 % mức khởi điểm của Khoản 3.
Chất ma túy khác ở thể rắn: 100 g = 20% mức khởi điểm của Khoản 3.
Chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 200 mml = 50% mức khởi điểm của Khoản 3.
Như vậy, mặc dù định lượng mỗi chất có giá trị ngang nhau trong định tội theo Khoản 2 nhưng lại có giá trị khác nhau khi định tội ở Khoản 3. Điều đó cho thấy, nếu một người sản xuất 500 g nhựa thuốc phiện và 200 mml ma túy ở thể lỏng thì bị xử lý theo Điểm e, Khoản 3, Điều 248 Bộ luật hình sự nhưng nếu một người sản xuất 500 g nhựa thuốc phiện và 100 g chất ma túy khác ở thể rắn thì chỉ bị xử lý theo Khoản 2, Điều 248 Bộ luật hình sự.
Chúng tôi cho rằng, cần nghiên cứu để điều chỉnh quy định về định lượng các chất ma túy theo công thức thống nhất, bảo đảm xử lý như nhau đối với những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội tương đương nhau.
Thứ hai, quy định về cách tính hậu quả về thể chất ở một số tội trong chương các tội phạm về ma túy không thống nhất. Điều này được thể hiện trong cách quy định dấu hiệu định khung hình phạt tăng nặng ở tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 255 Bộ luật hình sự) và tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy (Điều 257 Bộ luật hình sự). Điều 255 Bộ luật hình sự quy định các dấu hiệu định khung tăng nặng tại Khoản 3 liên quan đến hậu quả về thể chất của con người tại các điểm a, b và c như sau:
“a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;
b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%”.
Khoản 4, Điều này quy định các dấu hiệu định khung tương ứng tại điểm a và điểm b là:
“a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
b) Làm chết 02 người trở lên”.
Như vậy, theo quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% được xếp là dấu hiệu định khung của khoản 3; Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên hoặc làm chết 02 người trở lên được xếp là dấu hiệu định khung của khoản 4 Điều này.
Trong khi đó, Khoản 3 và Khoản 4, Điều 257 Bộ luật hình sự lại quy định về các dấu hiệu này theo nguyên tắc khác. Theo đó, Khoản 3, Điều này quy định dấu hiệu:
“Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người”. Khoản 4, Điều 257 chỉ quy định dấu hiệu định khung hình phạt là phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên. 
So với quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự, dấu hiệu gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60% không được coi là dấu hiệu định khung của khoản 3 và gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên không được coi là dấu hiệu định khung của khoản 4. Đây là hai điều luật quy định về hai tội đều chứa đựng nguy cơ gây ra thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của con người như nhau nhưng các tình tiết tương ứng lại không được sử dụng một cách thống nhất trong quy định cấu thành tội phạm. Hiện tượng này vừa không khoa học vừa không bảo đảm nguyên tắc xử lý thống nhất tội phạm trong thực tiễn. 
Thứ ba, quy định về cách tính hậu quả về thể chất tại Điều 255 so với các tội được quy định tại các chương khác (ví dụ: Điều 310 Bộ luật hình sự) không thống nhất. Trong khi các dấu hiệu định khung hình phạt liên quan đến thiệt hại về tính mạng, sức khỏe của nạn nhân ở Điều 255 Bộ luật hình sự về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy được xây dựng theo hướng chỉ tính độc lập theo hậu quả đối với từng nạn nhân như trên thì ở nhiều điều luật khác có cùng tính chất trong Bộ luật hình sự còn áp dụng cách tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của tất cả các nạn nhân. Ví dụ: Tại Điều 310 Bộ luật hình sự về tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân quy định các dấu hiệu định tội tại Khoản 1 như sau:
“a) Làm chết người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
...”.
Cách quy định này không chỉ xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể đối với mỗi nạn nhân riêng biệt mà còn tính tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của các nạn nhân tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý hình sự đối với trường hợp hành vi tuy gây tổn thương cơ thể cho mỗi nạn nhân ở mức không cao (dưới 31% hoặc dưới 61%) nhưng số nạn nhân nhiều nên tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của họ ở mức cần xử lý hình sự hành vi của chủ thể. Việc các quy định về các tội phạm về ma túy không áp dụng cách quy định này so với các điều luật khác là một biểu hiện của sự thiếu thống nhất trong cách quy định các tội thuộc các chương khác nhau của Bộ luật hình sự hiện hành và chúng cần sớm được khắc phục.
Hiện tượng thứ hai và thứ ba cần được khắc phục theo hướng áp dụng các quy định thống nhất với cùng nội dung ở tất cả các tội trong cùng chương các tội phạm về ma túy cũng như trong cả Bộ luật hình sự.
Thứ tư, quy định về hình phạt bổ sung tại Điều 256 Bộ luật hình sự không thật hợp lý. Khoản 3, Điều 256 quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy như sau: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Với tính chất của hành vi phạm tội này là cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật hình sự, chúng tôi cho rằng hành vi phạm tội được quy định ở điều luật này có tính nguy hiểm thấp hơn so với hành vi phạm tội được quy định tại Điều 257 Bộ luật hình sự (Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy). Trong khi đó, người phạm tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy chỉ bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền còn người chứa chấp người khác sử dụng trái phép chất ma túy có thể bị phạt tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Chúng tôi cho rằng việc quy định hình phạt tịch thu tài sản cần được loại bỏ khỏi tội này.

PGS.TS. Cao Thị Oanh
Phó Trưởng Khoa LHS, trường Đại học Luật Hà Nội

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác