Thứ Bảy, 20/4/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức cai nghiện ma túy và một số đề xuất, kiến nghị

I. MỘT SỐ KẾT QUẢ ĐỔI MỚI CÔNG TÁC CAI NGHIỆN
Thủ tục đưa vào cai nghiện bắt buộc từ chỗ do Chủ tịch UBND quyết định trước đây, nay do Tòa án quyết định, đảm bảo quyền công dân theo hiến định. Chính phủ đã ban hành chính sách hỗ trợ cho người cai nghiện tự nguyện với thủ tục thông thoáng, tạo điều kiện khuyến khích người nghiện tham gia cai nghiện để tăng người cai nghiện tự nguyện.
Vấn đề chất lượng, hiệu quả cai nghiện được quan tâm thông qua việc xây dựng các tài liệu về tư vấn điều trị, chú trọng công tác đào tạo, huấn luyện cho đội ngũ cán bộ chuyên môn trên cơ sở thực tiễn và hợp tác quốc tế. Đã khắc phục một bước tình hình cơ sở vật chất xuống cấp của các Cơ sở cai nghiện thông qua đó góp phần hạn chế tình trạng bỏ trốn của học viên. Nhiều mô hình cai nghiện mới xuất hiện, trong đó, đáng chú ý là mô hình xây dựng cơ sở cai nghiện thân thiện, kết nối chặt chẽ với cộng đồng, mô hình Điểm tư vấn, hỗ trợ cai nghiện tại cộng đồng trong việc tư vấn, hỗ trợ tạo công ăn việc làm cho người cai nghiện trở về hòa nhập cộng đồng bền vững, mô hình Đội công tác xã hội tình nguyện phân công kèm cặp giúp đỡ người nghiện, mô hình xây dựng các Câu lạc bộ, các tổ nhóm tự lực, đồng đẳng của người sau cai tự giúp đỡ nhau… Chính sách cho gia đình người cai nghiện vay vốn phát triển sản xuất, ổn định cuộc sống dù mới đang thỉ điểm tại 15 tỉnh, thành phố nhưng đã mang lại những kết quả khả quan, qua đó làm giảm sự kỳ thị của cộng đồng với người nghiện.

II. KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC
Tuy vậy, trong phòng, chống ma túy thì cai nghiện là gặp nhiều khó khăn, vướng mắc nhất vừa bộc lộ những bất hợp lý của công tác này lâu nay dưới ánh sáng của đổi mới cũng như các vấn đề mới đặt ra cho công tác đổi mới. Cụ thể:
1. Về nhận thức
Nhiều nhận thức cũ về cai nghiện chưa đổi mới theo kịp tình hình và các nhận thức mới về ma túy và cai nghiện chưa hoàn chỉnh. Đến nay, vẫn nhiều người, trong đó có cán bộ lãnh đạo vẫn còn cho rằng đã nghiện là không thể cai được, chỉ có điều trị thay thế bằng Methadone mới chất lượng, phù hợp; thế nào là cai nghiện thành công? Cai nghiện một hoặc vài lần vẫn tái nghiện có là thất bại hoàn toàn? Hiểu người nghiện là “người bệnh” thế nào để ứng xử cho đúng hay giống hệt người mắc bệnh mãn tính như tiểu đường, cao huyết áp? Vấn đề đảm bảo quyền con người đối với người áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc? Nghiện ma túy có còn là tệ nạn xã hội hay chỉ là hiện tượng xã hội? Chống kỳ thị với người nghiện thế nào cho đúng?...
2. Về pháp luật, chính sách
Nhiều quy định của Luật PCMT và các luật có liên quan chưa cụ thể, không rõ ràng, nhiều nội dung phải luật định thì lại được quy định ở văn bản dưới luật, dẫn đến không phù hợp về thể thức, thẩm quyền nên hiệu lực pháp luật không cao. Nhiều quy định dưới luật không có tính ổn định, sửa nhiều lần, quy định tản mát, khó hiểu, khó áp dụng. Nhiều quy định không thống nhất, thiếu đồng bộ giữa pháp luật về phòng, chống ma túy và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC), gây ra lúng túng trong tổ chức thực hiện, cùng một nội dung nhưng mỗi địa phương thực hiện theo một cách khác nhau, thậm chí có địa phương không biết phải làm như thế nào; nhiều quy định chưa phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, dẫn đến có hiện tượng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan chức năng, nhất là ở địa phương. Ví dụ:
- Luật PCMT quy định cai nghiên bắt buộc cho người từ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Từ 01/01/2014 đến nay, việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với người dưới 18 tuổi không còn được thực hiện theo Luật XLVPHC, trong khi cai nghiện tự nguyện chưa thu hút được nhiều người tham gia, nên vấn đề người nghiện ma túy dưới 18 tuổi hiện nay đang bị bỏ ngỏ, ở nhiều nơi gây ảnh hưởng không nhỏ tới trật tự xã hội.
- Thời gian quản lý bắt buộc sau cai tại Cơ sở quản lý sau cai có thể đến 2 năm, theo mô hình khép kín, thiếu thân thiện là không hợp lý, làm mất đi cơ hội hòa nhập cộng đồng của người sau cai, làm tăng chi phí của nhà nước, của xã hội, của bản thân và gia đình họ mà mục tiêu chấm dứt hành vi sử dụng trái phép chất ma túy sau khi kết thúc quản lý sau cai không đạt được. Chính sách này đã hình thành tâm lý chống đối, bỏ trốn của học viên tại các Cơ sở cai nghiện, Cơ sở quản lý sau cai thời gian qua cũng như tâm lý e ngại khi tham gia vào các chương trình can thiệp thân thiện khác. 
- Việc tổ chức quản lý sau cai ở cộng đồng sẽ làm tăng áp lực công việc lên hệ thống chính quyền cơ sở, nhất là ở cấp xã, đặc biệt ở nhiều nơi công việc này vượt quá khả năng của chính quyền cấp xã, nếu như không được tăng cường các nguồn lực thì sẽ là bất khả thi và họ phải làm hình thức để đối phó với nhiệm vụ. Do đó, cho đến nay phần lớn người sau cai khi trở về nơi cư trú chưa được hỗ trợ để họ ổn định cuộc sống, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến họ sớm tái nghiện.
- Chính sách đầu tư: Xét tổng thể thì những năm qua chưa có chiến lược đầu tư cho công tác cai nghiện ma túy với tầm nhìn tổng thể và dài hạn, mà chủ yếu là các chương trình, dự án có tính ngắn hạn, tập trung xử lý hệ quả mà không phải là một chính sách đầu tư(5). Nhân lực làm việc trong khi lĩnh vực này đòi hỏi chuyên môn cao, đa ngành và ổn định, nhưng hiện nay chưa có chính sách đầu tư phát triển nguồn nhân lực; chưa có chiến lược đầu tư phát triển hệ thống trợ giúp xã hội nhiều tầng cho người sau cai, người có tiền sử nghiện ma túy; chưa chú trọng đầu tư cho công tác dự phòng. Nguồn lực tài chính rất hạn chế, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao; cơ cấu phân bổ tài chính chưa phù hợp, chủ yếu hỗ trợ cho hoạt động tại cơ sở cai nghiện công lập, chưa chú trọng công tác cai nghiện tự nguyện và các hoạt động hỗ trợ hòa nhập cộng đồng.
- Chính sách xã hội hóa: Luật PCMT đã đề cập đến chính sách xã hội hóa, nhưng chưa cụ thể và những văn bản quy định chi tiết đã không thể hiện được tinh thần tiến bộ này(6), các chính sách khuyến khích, hỗ trợ chưa được hướng dẫn cụ thể để thực thi. Do đó, hiệu quả của chính sách xã hội hóa chưa cao. Hiện nay, nhà nước và xã hội chưa quen với vấn đề xã hội hóa dịch vụ công, trong khi thói quen bao cấp chưa xóa bỏ hết thì tính tự phát của thị trường, của người dân lại phát sinh khá phổ biến, đó là khó khăn cho xã hội hóa dịch vụ công. 
- Chính sách quy định giao trách nhiệm cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã phối hợp tổ chức truyền nghề, dạy nghề và tạo việc làm cho người cai nghiện là không phù hợp với khả năng của phần lớn chính quyền cấp xã hiện nay; giao các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trên địa bàn cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận để tổ chức truyền nghề, dạy nghề và tạo việc làm cho người cai nghiện nhưng không quy định cơ chế phối hợp, quyền và nghĩa vụ cụ thể, nên đó chỉ là những quy định chỉ mang tính khẩu hiệu, không có tính quy phạm.
- Việc giao cho một “tổ công tác cai nghiện”, tuy có số đông và đầy đủ các thành phần nhưng trong đó phần lớn là cán bộ kiêm nhiệm, thiếu cả chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm, trong khi điều trị nghiện chất và giáo dục phục hồi đòi hỏi những kiến thức và kỹ năng về xã hội và y tế chuyên biệt và phải nhiệt huyết, trong khi trách nhiệm nặng nề mà không lương, phụ cấp ít, nên thiếu động lực làm việc. Các trạm y tế cấp xã hiện nay không phù hợp để cắt cơn và hỗ trợ y tế thực hiện quy trình cai nghiện, trong khi nhiệm vụ chính của trạm y tế cấp xã là chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, và hiện nay ở nhiều nơi cũng đang quá tải. Quy định người cai nghiện tự nguyện tại gia đình, tại cộng đồng nếu không phải là các đối tượng chính sách thì phải trả kinh phí là không hợp lý, vì khả năng đóng góp của người nghiện ma túy là rất thấp, trong khi đó thủ tục tham gia phức tạp, dễ lộ danh tính người cai nghiện , nên không khuyến khích được người nghiện tham gia cai nghiện tại gia đình và cộng đồng. 
- Nhiều quy định trình tự, thủ tục đưa vào cai nghiện bắt buộc không phù hợp với thực tiễn: thủ tục đưa vào cai nghiện quá phức tạp, qua nhiều cơ quan xét duyệt, mất nhiều thời gian, người nghiện có nhiều cơ hội bỏ trốn; người không có nơi cư trú ổn định trong thời gian hoàn thiện hồ sơ giao cho một cơ sở xã hội ở công đồng quản lý là không thực hiện được; vấn đề xác định tình trạng nghiện không phù hợp theo quy định pháp luật về tạm giữ người để theo dõi và trình độ cán bộ y tế cấp cơ sở…
3. Về chuyên môn cai nghiện
- Cơ sở vật chất nhiều cơ sở cai nghiện xuống cấp, thiếu thốn không đảm bảo nhu cầu tối thiểu ăn ở, sinh hoạt,  để thực hiện các hoạt động chuyên môn cai nghiện cũng như nhu cầu văn hóa, giải trí của người cai nghiện.
- Cán bộ chuyên môn về y tế, giáo dục, tư vấn chiếm tỷ lệ thập so với tổng số cán bộ và không được huấn luyện bài bản, thường xuyên. Các hoạt động chuyên môn theo quy trình cai nghiện tại nhiều cơ sở nghèo nàn, chưa được coi trọng đúng mức hoặc làm theo lối mòn cũ, ít hiệu quả. Thái độ cán bộ đối với học viên có khi quá, thân thiện “vì nghĩ họ hoàn toàn là người bệnh, có nơi vẫn nghiêm khắc theo xử lý hành chính. Theo các chuyên gia quốc tế, mỗi người cai nghiện được lập một kế hoạch cai nghiện riêng khi mới đưa vào các  cai nghiện với sự hỗ trợ của bác sĩ, cán bộ tâm lý, giáo dục.. nhưng ta chưa làm được.
- Mối quan hệ phối hợp giữa cơ sở cai nghiện và chính quyền nơi người cai nghiện cư trú để tạo điều  kiện quản lý, hỗ trợ công ăn việc làm, phát triển sinh kế, phòng, chống tái nghiện còn lỏng lẻo, hình thức. Công tác tuyên truyền để giảm kỳ thị đối với người nghiện chưa mang lại hiệu quả rõ rệt.
- Đại đa số người nghiện hiện nay đã chuyển sang sử dụng ma túy tổng hợp với nhiều loại khác nhau với các biểu hiện và hậu quả phức tạp nhưng chưa có các phác đồ điều trị chính thức nên công tác cai nghiện gặp không ít khó khăn.
- Không có quy định chuyên môn cứ vào các các tính chất và đặc điểm nghiện của từng người để Tòa án quyết định thời gian cai nghiện 1 năm hay 2 năm, hay 1,5 năm… nên Tòa án cấp huyện mỗi nơi áp dụng một kiểu.
- Trong khi nhiều nước trên thế giới đã phân biệt rõ các mức độ sử dụng ma túy để áp dụng các can thiệp phù hợp như: sử dụng ma túy - lạm dụng ma túy - phụ thuộc (nghiện) thì ta chưa có các quy định này cũng như chương trình Dự phòng nghiện chưa được xây dựng và triển khai nên gặp nhiều khó khăn, bất hợp lý.
- Môi trường mua bán ma túy tại cộng đồng nhiều nơi còn phức tạp, số người được đưa vào các chương trình quản lý, can thiệp chưa bao phủ hết số người nghiện, đễ dẫn đến việc tái nghiện.

III. MỘT SỐ ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ 
1. Về nhận thức và chuyên môn
Tiếp tục nghiện cứu, tuyên truyền và phổ biến áp dụng các vấn đề như:
- “Bệnh nghiện” là như thế nào? Phải xem người sử dụng trái phép ma túy, người nghiện ma túy dưới tất cả các góc độ: (1) về hành vi, thì đó là người có thể có hành vi nguy hiểm, cần ngăn chặn, can thiệp kịp thời; (2) về sinh học thì đó là người có thể bị tổn thương não bộ, tổn thương tâm thần kinh, cần phải chữa trị; (3) về tâm lý và nhận thức thì cần được tư vấn, giáo dục trên nguyên tắc tôn trọng và chia sẻ; (4) về điều kiện và cơ hội thì cần được dạy nghề, tạo việc làm và hỗ trợ sinh kế để hòa nhập cộng đồng bền vững. 
- Phải phân loại theo từng nhóm khác nhau như: nhóm nguy cơ cao; nhóm sử dụng ma túy nhưng chưa nghiện; nhóm nghiện ma túy; nhóm nghiện ma túy có nhân thân phức tạp… Phải đánh giá theo các tiêu chí khác nhau như: loại ma túy sử dụng; thời gian sử dụng; tình trạng nghề nghiệp và việc làm... để xác định các biện pháp can thiệp phù hợp (can thiệp dự phòng, can thiệp hỗ trợ có lựa chọn đến can thiệp bắt buộc). Các biện pháp can thiệp phải mang tính xã hội và nhân đạo, không cách ly cộng đồng quá dài hạn hay với ý nghĩa là hình phạt. Sử dụng biện pháp nào, giới hạn những gì, thời gian bao lâu phải phù hợp từng giai đoạn, và từng đối tượng, trên tinh thần, Nhà nước bảo đảm và ngày càng mở rộng các quyền con người, quyền công dân, phù hợp với các cam kết Quốc tế của Việt Nam và những giá trị mang lại tiến bộ xã hội.
- Cần phải khẳng định nghiện ma túy hoàn toàn có thể cai nghiện điều trị, cai nghiên được trong đó xác định rõ thế nào là cai nghiện  gọi là thành công và những đòi hỏi về đầu tư công sức, nguồn lực, sự bền bỉ, kiên trì thực hiện điều đó. Công tác cai nghiện cần thực sự hướng tới Chuẩn quốc tế về điều trị nghiện đã được Liên hợp quốc ban hành năm 2016. Khẳng định nghiện ma túy là tệ nạn xã hội để có thái độ chính xác trong xử lý các vấn đề liên quan.
- Về chính sách đầu tư: Đầu tư cho công tác cai nghiện phục hồi là đầu tư cho con người, đầu tư phát triển bền vững đất nước trong một tầm nhìn tổng thể và dài hạn. Do đó, phải ưu tiên nguồn lực, phải có chiến lược đầu tư với các trọng tâm là: Phát triển nhân lực chất lượng cao, ổn định; phát triển hệ thống dự phòng nhiều lớp; phát triển hệ thống trợ giúp xã hội nhiều tầng. Phân bổ đầu tư phải dựa trên bằng chứng về hiệu quả toàn diện, chú trọng đầu tư cho dự phòng, cai nghiện tự nguyện và hỗ trợ phục hồi. Thực hiện công khai, minh bạch để mọi tổ chức, cá nhân đều có cơ hội tiếp cận các nguồn lực một cách bình đẳng, để cùng Nhà nước cung cấp ngày càng tốt hơn các dịch vụ dự phòng, giảm hại, phục hồi và hỗ trợ hoà nhập cộng đồng; mọi hỗ trợ từ ngân sách phải đến trực tiếp đối tượng thụ hưởng.  
- Chính sách xã hội hóa: mở rộng không gian và quyền để các cá nhân, tổ chức tham gia vào các quyết sách liên quan và cung cấp các dịch vụ can thiệp dự phòng, can thiệp giảm hại, can thiệp phục hồi và hỗ trợ hoà nhập cộng đồng bền vững. Tạo cơ chế, chính sách cụ thể, minh bạch để động viên mọi nguồn lực xã hội, nhưng nhà nước phải chịu trách nhiệm về những phân khúc quan trọng, đòi hỏi nhiều nguồn lực nhất; nhà nước phải quản lý chất lượng dịch vụ. Xây dựng cơ chế cung cấp dịch vụ để mọi đối tượng đều có thể tiếp cận dịch vụ một cách thuận lợi, sẵn có, với chi phí thấp nhất.
2. Sửa đổi, bổ sung pháp luật phòng, chống ma túy
- Cần phải luật hóa các quy định dưới luật hiện nay, đặc biệt là quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, các quy định về chính sách để bảo đảm tính hợp pháp, hợp hiến, tính thống nhất và bảo đảm hiệu lực pháp luật. Thống nhất các quy định giữa Luật PCMT và Luật XLVPHC
- Sửa đổi, bổ sung chính sách đối người sử dụng, người nghiện dưới 18 tuổi. Sửa đổi, bổ sung biện pháp cai nghiện tự nguyện tại gia đình, tại cộng đồng: Biện pháp này bảo đảm tương thích với các cam kết quốc tế của Việt Nam nhất là vấn đề quyền con người, quyền công dân và đây cũng là môi trường tốt để người nghiện nhận được sự chăm sóc, chia sẻ của gia đình, cộng đồng. Do đó, cần duy trì, phát triển biện pháp này, nhưng phải đổi mới toàn diện để bảo đảm tính hợp lý, tính khả thi và hiệu quả. Theo đó: Nhà nước bảo đảm kinh phí cho tất cả mọi người tự nguyện cai nghiện tại gia đình, cộng đồng; giao các Điểm tư vấn, cai nghiện ma túy tại cộng đồng trực tiếp thực hiện; xây dựng đội ngũ cán bộ xã hội chính quy, chuyên nghiệp làm nòng cốt; lấy giải quyết việc làm và hỗ trợ sinh kế bền vững làm trọng tâm. 
- Sửa đổi, bổ sung biện pháp quản lý sau cai tại nơi cư trú: Chuyển từ quản lý bắt buộc sau cai sang hình thức cung cấp dịch vụ hỗ trợ hòa nhập cộng đồng cho người sau cai, tức là họ có quyền tự nguyện tham gia các chương trình hỗ trợ hòa nhập cộng đồng; quy định cụ thể, rõ ràng về các dịch vụ, mức hỗ trợ, quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ này; trong tổ chức thực hiện, phải quy định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, không “khoán trắng” cho UBND cấp xã như hiện nay. Theo đó, giao Sở LĐTBXH là cơ quan chủ trì, trong đó giao các điểm tư vấn, cai nghiện tại cộng đồng trực tiếp thực hiện; UBND cấp Huyện, UBND cấp xã là cơ quan phối hợp.
- Sửa đổi, bổ sung quy định về cai nghiện ma túy tự nguyện: Cai nghiện tự nguyện tại cơ sơ cai nghiện công lập hay ngoài công lập đều thực hiện bằng một chính sách xã hội hóa chung, không phân biệt. Nhà nước bảo đảm kinh phí đối với các dịch vụ cơ bản, cho tất cả mọi người tự nguyện cai nghiện. 
- Bổ sung hoạt động can thiệp dự phòng, với 3 cấp độ: Dự phòng phổ cập (ứng phó với các nguy cơ đối với cộng đồng); Dự phòng chọn lọc (đối với cá nhân hoặc nhóm dân cư có nguy cơ sử dụng ma túy); Dự phòng chỉ định (đối với các cá nhân có hành vi sử dụng ma túy”. Trong đó, đặc biệt trú trọng Dự phòng chọn lọc đối với cá nhân đã hoàn thành các chương trình cai nghiện hoặc sau khi rời các trại cải tạo, trại tạm giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng mà có tiền sử nghiện ma túy. 
- Bổ sung quy định về “Xử lý đối với trường hợp người sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy không chấp hành các quy định nghĩa vụ của họ”.
- Bổ sung quy định về “Xử lý người nước ngoài sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy tại Việt Nam” và “Tiếp nhận người Việt Nam sử dụng trái phép chất ma túy, nghiện ma túy được nước ngoài trao trả”.
- Bổ sung trách nhiệm của Bộ LĐTBXH trong việc ban hành và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục phòng, chống ma tuý trong hệ thống các trường cao đẳng và trung cấp chuyên nghiện cho phù hợp với Luật Giáo dục nghề nghiệp.

Lê Đức Hiền
Phó Cục trưởng Cục PCTNXH- Bộ LĐ-TB và XH

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác