Chủ Nhật, 8/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội

Địa bàn quận Nam Từ Liêm là một trong các quận trung tâm của thủ đô Hà Nội, do đặc thù về hoạt động kinh tế, tính chất dân cư, đây là nơi tập trung nhiều mục tiêu, đối tượng có sử dụng tới các dịch vụ của kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Trong những năm qua, trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, loại hình kinh doanh DVBV phát triển rất mạnh mẽ (hiện nay trên địa bàn quận có 05 cơ sở với 302 nhân viên hoạt động), ngoài ra còn có số lượng lớn các nhân viên của các công ty bảo vệ ở địa bàn khác hoạt động theo hợp đồng bảo vệ trên địa bàn. Đối với các loại hình kinh doanh dịch vụ này, đã có nhiều đóng góp giúp hoạt động của các cơ sở kinh doanh, các cơ quan, tổ chức được diễn ra một cách an toàn, thuận lợi, góp phần đảm bảo ANTT. Tuy nhiên, bên cạnh đó, bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế, bất cập.

Tình hình vi phạm pháp luật của chủ doanh nghiệp cũng như nhân viên doanh nghiệp kinh doanh DVBV ngày càng gia tăng và đa dạng các hành vi vi phạm như trốn thuế, thuê người không đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định, không thực hiện các quy định về ANTT… Theo thống kê của các cơ quan chức năng, từ năm 2015 đến hết tháng 6/2019, đã xảy ra 38 vụ vi phạm pháp luật trong kinh doanh DVBV trên địa bàn quận Nam Từ Liêm với nhiều tính chất, mức độ phức tạp khác nhau.

Trước tình hình đó, trong những năm qua, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an quận Nam Từ Liêm đã có nhiều cố gắng trong quản lý kinh doanh DVBV và đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong công tác quản lý kinh doanh DVBV vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, thiếu sót trên nhiều khía cạnh như: Hoạt động chỉ đạo hướng dẫn trong quản lý của địa phương còn thiếu tính chủ động; việc thực hiện một số biện pháp quản lý cụ thể còn kém hiệu quả; còn nhiều cơ sở chưa chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật, thậm chí một số vụ phạm pháp hình sự nghiêm trọng đã xảy ra có liên quan đến các cơ sở và nhân viên DVBV… Những tồn tại thiếu sót đó xuất phát từ một số các nguyên nhân sau đây: Thứ nhất, hành lang pháp lý cho lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH cấp quận, huyện trong quản lý đối với các cơ sở kinh doanh DVBV chưa thực sự hợp lý, còn nhiều bất cập, hạn chế, vướng mắc. Thứ hai, nhận thức về vai trò của quần chúng trong công tác đảm bảo ANTT của một bộ phận các đồng chí Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an Quận Nam Từ Liêm chưa thực sự thống nhất. Thứ ba, chưa phát huy được vai trò của công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trong các cơ sở kinh doanh DVBV hoặc có liên quan đến các cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ. Thứ tư, công tác phối hợp giữa các lực lượng trong quản lý các cơ sở kinh doanh DVBV chưa được quy chế hóa rõ ràng, và chưa thực sự được chú ý, coi trọng. Thứ năm, biên chế tổ chức của cấp cơ sở trên địa bàn quận Nam Từ Liêm còn mỏng, và trình độ, năng lực nghiệp vụ của một số cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Cơ sở vật chất thiết bị phục vụ công tác của cán bộ, chiến sĩ còn nhiều khó khăn, thiếu thốn.

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý các cơ sở kinh doanh DVBV trên địa bàn quận Nam Từ Liêm trong thời gian tới, theo chúng tôi cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau đây:

Một là, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất sửa đổi bổ sung các quy định pháp lý có liên quan đến quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ bảo vệ cho phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay.

Quy định cụ thể hơn về điều kiện của người làm nghề, nhất là đối với những người giữa vai trò đứng đầu, người đại diện pháp luật, người chịu trách nhiệm về ANTT đối với các cơ sở kinh doanh DVBV. Điều chỉnh mức phạt đối với các vi phạm có liên quan đến hoạt động kinh doanh DVBV theo hướng nghiêm khắc hơn; chỉnh sửa các quy định có liên quan đến thuật ngữ sử dụng, thống nhất dùng “Giấy chứng nhận đủ điều kiện về ANTT” thay thế cụm “Giấy xác nhận đủ điều kiện về ANTT” trong Nghị định 167/2013/NĐ-CP cho phù hợp với Nghị định 96/2016/NĐ-CP đảm bảo tạo điều kiện thuận lợi cho người thực hiện. Bổ sung thêm các hành vi vi phạm của các cơ sở kinh doanh DVBV theo hướng cụ thể hóa hơn và phải có chế tài nghiêm khắc đối với từng hành vi.

Hai là, đổi mới các nội dung, hình thức tuyên truyền, vận động quần chúng tham gia quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.

Sử dụng đa dạng các hình thức để tổ chức tuyên truyền vận động đến từng loại đối tượng cụ thể tuyên truyền, hướng dẫn những người hoạt động trong các cơ sở kinh doanh DVBV chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật nói chung và các quy định đối với các cơ sở kinh doanh DVBV nói riêng: việc lập, ghi chép các loại sổ sách giấy tờ; cách thức phát hiện những vi phạm pháp luật của các đối tượng có liên quan; chủ động thực hiện các biện pháp phòng ngừa tội phạm, vi phạm pháp luật… Đối với những cơ quan, tổ chức, công dân trên địa bàn cần tổ chức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và các quy định liên quan đến hoạt động kinh doanh, phát hiện kịp thời những vi phạm, những biểu hiện nghi vấn của những nhân viên, doanh nghiệp kinh doanh DVBV trong quá trình hoạt động; tuyên truyền các phương thức, thủ đoạn hoạt động của các đối tượng phạm tội hoặc những vi phạm pháp luật thường xảy ra do chính những nhân viên bảo vệ của các cơ sở kinh doanh DVBV thực hiện.

Ba là, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm xảy ra có liên quan đến các cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.

Khi có yêu cầu về việc kiểm tra đối với các cơ sở kinh doanh DVBV, lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an quận Nam Từ Liêm cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, tổ chức kiểm tra nhanh chóng, kịp thời, đúng trọng tâm trọng điểm để phát hiện kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm xảy ra có liên quan đến các cơ sở kinh doanh DVBV. Quá trình kiểm tra, Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an quận Nam Từ Liêm cần chú ý đảm bảo tính pháp luật và lồng ghép các yêu cầu nghiệp vụ. Trong quá trình kiểm tra, nếu phát hiện được những sai phạm vượt quá thẩm quyền, phải tiến hành lập biên bản, thu thập các thông tin tài liệu có liên quan để thông báo, chuyển hồ sơ cho cấp có thẩm quyền xử lý vi phạm. Trong các trường hợp tham gia hoạt động kiểm tra do yêu cầu của Công an cấp trên hoặc tham gia đoàn kiểm tra liên ngành (hoạt động phối hợp), Cảnh sát QLHC về TTXH cần nắm vững chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình để tiến hành các hoạt động phối hợp theo đúng chức năng nhiệm vụ được giao. Tiến hành sơ kết, tổng kết sau mỗi đợt kiểm tra hoặc phối hợp kiểm tra các cơ sở kinh doanh DVBV trên địa bàn quận.

Bốn là, nâng cao năng lực hoạt động của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an quận Nam Từ Liêm trong quản lý đối với các cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ.

Trong công tác cán bộ, khi bố trí, phân công công tác, phải đảm bảo chuyên môn nghiệp vụ đúng chuyên ngành Cảnh sát QLHC về TTXH đối với những đồng chí phụ trách lĩnh vực đặc doanh. Đối với những đồng chí được gia nhiệm vụ quản lý các cơ sở kinh doanh DVBV, phải rèn luyện, nuôi dưỡng phẩm chất đạo đức công vụ, văn hóa giao tiếp ứng xử trong thi hành công vụ, tuyệt đối không được lợi dùng nghề nghiệp để trục lợi, sách nhiễu hoặc bảo kê cho các cơ sở hoạt động vi phạm. Nếu cán bộ, chiến sĩ nào vi phạm vấn đề này phải nghiêm khắc xử lý và điều chuyển công tác tùy theo tính chất, mức độ vi phạm. Đảm bảo các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ cho lực lượng Cảnh sát QLHC về TTXH trên địa bàn quận Nam Từ Liêm, đặc biệt là Công an các phường phục vụ quản lý địa bàn, dân cư nói chung và quản lý đối với các cơ sở kinh doanh DVBV nói riêng.

Năm là, xây dựng và thực hiện đồng bộ, thống nhất quy chế phối hợp giữa Cảnh sát QLHC về TTXH với các lực lượng khác có liên quan trong quản lý các cơ sở kinh doanh dịch vụ bảo vệ trên địa bàn quận Nam Từ Liêm.

Cảnh sát QLHC về TTXH, Công an quận Nam Từ Liêm tham mưu cho cấp trên trong việc xây dựng quy chế phối hợp để quản lý các cơ sở kinh doanh này đáp ứng được yêu cầu đặt ra trong mỗi thời kỳ. Quy chế phối hợp giữa Cảnh sát QLHC về TTXH với các lực lượng trong và ngoài ngành Công an để quản lý các cơ sở kinh doanh DVBV phải được xây dựng một cách cụ thể, hợp lý dựa trên cơ sở phạm vi trách nhiệm, quyền hạn và khả năng của từng lực lượng có liên quan. Xác định rõ nội dung và phương pháp thực hiện quan hệ phối hợp giữa các lực lượng trong ngành Công an và giữa Cảnh sát QLHC về TTXH với các tổ chức, ban ngành đoàn thể ngoài ngành Công an. Quy chế phối hợp phải được xác định là căn cứ chung để các lực lượng thực hiện các hoạt động phối hợp... Việc triển khai quy chế phải được tiến hành và quán triệt cho các bên tham gia quán triệt và thống nhất thực hiện. Để đảm bảo quy chế thực hiện có hiệu quả, thường xuyên tổng kết, rút kinh nghiệm để làm tốt việc xây dựng kế hoạch cho giai đoạn sau./.

Trung tá Tạ Thu Thủy

  Phó Đội trưởng, Công an quận Nam Từ Liêm

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị định 96/2016/NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về ANTT.

2. Thông tư 42/2017/TT-BCA của Bộ Công an hướng dẫn Nghị định 96/2016/NĐ-CP của Chính Phủ về quản lý ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện về ANTT

3. Báo cáo tổng kết của Công an quận Nam Từ Liêm từ năm 2015 đến tháng 6/2019.   

 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác