Thứ Bảy, 7/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Tổ chức lực lượng bảo đảm an ninh, trật tự ở địa bàn cơ sở của một số quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm xây dựng lực lượng công an chính quy phụ trách địa bàn nông thôn tại việt nam

Về phương diện hành chính - lãnh thổ, địa bàn cơ sở là từ dùng chỉ một địa bàn có phạm vi nhất định, được xem là đơn vị hành chính nhỏ nhất ở mỗi quốc gia. Quốc gia nào cũng vậy, bảo vệ an ninh, trật tự (ANTT) ở cơ sở luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược trong kế sách xây dựng và bảo vệ đất nước. Ở các nước Trung Quốc, Ai Cập hay tại các nước phương Tây như: Anh, Pháp, Đức... trước khi xuất hiện thuật ngữ “police” (Cảnh sát) thì các quốc gia này đều tổ chức lực lượng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT tại mỗi vùng trên toàn lãnh thổ. Lực lượng bảo đảm ANTT ở địa bàn cơ sở tại mỗi một quốc gia có thể khác nhau về tên gọi, tổ chức hay nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc… nhưng đều có chung mục đích là đấu tranh phòng, chống tội phạm, giữ gìn an ninh, an toàn tại địa bàn phụ trách, góp phần bảo vệ vững chắc nền ANTT của quốc gia. 

1. Tổ chức lực lượng bảo đảm an ninh, trật tự tại địa bàn cơ sở của một số quốc gia trên thế giới

- Nhật Bản: Tại Nhật Bản, theo phân cấp, lực lượng bảo đảm ANTT ở địa bàn hành chính nhỏ nhất là phân đội Cảnh sát và tổ Cảnh sát. Phân đội Cảnh sát và tổ Cảnh sát trực thuộc đồn Cảnh sát, đồn Cảnh sát trực thuộc sở chỉ huy quận, các sở chỉ huy quận thuộc sự chỉ đạo của sở chỉ huy vùng và sở chỉ huy các vùng trực thuộc sự chỉ đạo chung của trung tâm Cảnh sát quốc gia. Tuy nhiên, Trung tâm Cảnh sát quốc gia và sở chỉ huy vùng hầu như chỉ đóng vai trò quản lý về mặt hành chính và có sự chỉ huy trực tiếp trong một số trường hợp rất cấp bách còn trong các trường hợp khác, sở Cảnh sát quận là cấp chỉ huy cao nhất trong điều hành, chỉ đạo các hoạt động hằng ngày của lực lượng Cảnh sát cấp dưới. Hiện nay, tại Nhật có khoảng 6.600 phân đội Cảnh sát và 9.000 tổ Cảnh sát. Mỗi phân đội Cảnh sát chịu trách nhiệm quản lý trung bình khoảng 0,22km2 khu vực đô thị với 8.500 dân, còn tổ Cảnh sát nông thôn quản lý khoảng 18km2 và 3.000 dân. Tại khu vực Tokyo, quân số mỗi phân đội Cảnh sát có 12 người (4 người/1 ca trực), không biên chế nữ Cảnh sát. Họ đi tuần chủ yếu bằng đi bộ hoặc xe đạp. Tại Nhật, rất khó để tìm đường vì nhiều đường phố ở đây thường nhỏ, một chiều và không được đặt tên, trong khi đó, các toà nhà cao tầng được đánh số theo năm xây dựng tại mỗi tiểu khu, vì vậy, địa chỉ thường nêu tên khu lớn rồi tới số tiểu khu, tiếp theo là số toà nhà. Do vậy, thông thường mỗi Cảnh sát khu vực phải mất 2 năm để làm quen với các khu vực mà mình chịu trách nhiệm quản lý, nhưng cũng nhờ vậy, họ thông thuộc địa hình hơn bất cứ lực lượng Cảnh sát nào khác. Khi có vụ án xảy ra, các điều tra viên cấp trên thường phải nhờ Cảnh sát khu vực đi xe đạp dẫn đường tới hiện trường. Tại khu dân cư, Cảnh sát khu vực thường xuyên gần gũi, tiếp xúc, giúp đỡ dân, cung cấp cho nhân dân thông tin và cách thức giữ gìn trật tự, phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội, đặc biệt là sự tư vấn, hoà giải những mâu thuẫn thường nhật trong nội bộ nhân dân nên họ thường được người dân rất nể trọng, tình nguyện giúp đỡ và cung cấp nhiều nguồn tin có giá trị về an ninh trật tự và điều tra án. Các phân đội Cảnh sát còn có trách nhiệm khảo sát khu dân cư quản lý 2 lần/năm về nhân hộ khẩu, giới tính, độ tuổi, nghề nghiệp, phương tiện đi lại… Những thông tin này được cập nhật vào cơ sở dữ liệu để Cảnh sát sử dụng trong quản lý hành chính về ANTT cũng như trong điều tra tội phạm, truy tìm vật chứng, nạn nhân, phương tiện… Các tổ Cảnh sát ở khu vực nông thôn cũng hoạt động tương tự như phân đội Cảnh sát đô thị.

Chính phủ Nhật Bản và chỉ huy Cảnh sát quốc gia rất coi trọng hoạt động của Cảnh sát ở cơ sở, coi đây là lực lượng then chốt tạo nên sự  ổn định ở cơ sở. Lực lượng Cảnh sát ở các đồn, phân đội, tổ được đào tạo bài bản, thường xuyên được học tập nâng cao trình độ pháp luật, nghiệp vụ, võ thuật, sử dụng vũ khí và cả kỹ năng giao tiếp với dân. Đồng thời, họ được có chế độ đãi ngộ thích hợp về lương và các dịch vụ phúc lợi giúp họ vừa đảm bảo cuộc sống gia đình, vừa là biện pháp tốt để tránh nhũng nhiễu, tham nhũng. Bên cạnh đó, quy trình, quy chế làm việc và kỷ luật công tác đối với lực lượng này cũng rất nghiêm khắc và chặt chẽ, tạo nên sức mạnh quân kỷ trong công tác. Hằng năm, Cảnh sát Nhật đều có sự tổng kết về hoạt động của lực lượng Cảnh sát ở cơ sở, rút kinh nghiệm những mặt tồn tại để kịp thời khắc phục, đồng thời, có những nghiên cứu khoa học dựa trên số liệu thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và hoàn thiện tổ chức của lực lượng này. Theo đánh giá của Interpol, Nhật Bản là một trong những nước có lực lượng Cảnh sát hoạt động ở cơ sở hiệu quả và hợp lòng dân nhất trên thế giới.

- Trung Quốc: Theo quy định của Luật Công an nhân dân Trung quốc năm 1995 (được sửa đổi, bổ sung năm 2012), cơ cấu lực lượng Công an nhân dân Trung Quốc bao gồm: Lực lượng bảo đảm trị an, lực lượng bảo đảm quốc an, Cảnh sát trại giam, các cơ sở cải tạo lao động và Cảnh sát tư pháp; trong đó, lực lượng bảo đảm trị an là lực lượng thực hiện phần lớn vai trò, nhiệm vụ của lực lượng Công an. Lực lượng này đặt dưới sự điều hành, chỉ đạo của Bộ Công an. Trực thuộc Bộ Công an là hệ thống cơ quan Cảnh sát địa phương, được tổ chức tương ứng với 4 cấp chính quyền địa phương tại Trung Quốc là thành phố trực thuộc trung ương, tỉnh, vùng tự trị; huyện; hạt; xã. Hiện nay, ở Trung Quốc có 4 sở Cảnh sát tại các thành phố trực thuộc Trung ương (Bắc Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Trùng Khánh), 5 sở Cảnh sát tại vùng tự trị, 22 sở Cảnh sát tỉnh. Số lượng phòng, đội, trạm Cảnh sát thuộc sở Cảnh sát tỉnh là khác nhau tùy theo diện tích, mật độ dân cư trên vùng. Cấp đội, trạm là cấp thấp nhất trong hệ thống các cấp Công an địa phương, có chức năng liên hệ trực tiếp với người dân tại địa bàn cơ sở. Về tổ chức của đội, trạm Cảnh sát được bố trí tại các địa bàn là khác nhau, ở các vùng nông thôn, thông thường có một cấp trường, một cấp phó, một công chức tỉnh lỵ và một chiến sĩ Công an. Tại các vùng đô thị, cơ cấu tổ chức bao gồm một số công chức và khoảng 7 - 8 Cảnh sát.

Ngoài hệ thống Cảnh sát địa phương trực thuộc Bộ Công an nêu trên, Trung Quốc còn có lực lượng Cảnh sát vũ trang nhân dân Trung Quốc (được gọi tắt là lực lượng Vũ cảnh), đóng vai trò quan trọng, thực thi các nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Lực lượng Vũ cảnh được thành lập năm 1983 với nhiệm vụ bảo vệ an ninh trong nước và có căn cứ ở khắp Trung Quốc. Kể từ đó đến nay, lực lượng Vũ cảnh thường xuyên được huy động để đối phó với sự bất ổn ngày càng gia tăng trong vùng thôn quê Trung Quốc, liên hệ đến các vụ tranh chấp đất đai và phản đối việc cưỡng bách di dời, thường liên hệ đến thành phần nông dân bị đẩy đi chỗ khác để nhà nước dùng đất của họ vào các kế hoạch xây cất.

- Hàn Quốc: Hệ thống Cảnh sát Hàn Quốc khá chặt chẽ, được tổ chức theo ngạch dọc, Cơ quan cấp dưới không hoạt động độc lập mà chịu sự chỉ đạo, trực thuộc cơ quan Cảnh sát cấp trên. Ngoài Cơ quan Cảnh sát Quốc gia (là cơ quan Cảnh sát trung ương trực thuộc Bộ Quản lý hành chính và Ngoại giao Hàn Quốc) đóng tại Seoul thì tại 16 tỉnh, thành lớn của Hàn Quốc có các sở Cảnh sát, dưới sở có phòng (tổng cộng là 250 phòng), dưới phòng có đội (512 đội) và 1.436 trạm tuần sát trực thuộc (là cấp cơ sở cuối cùng). Trong đó, đội Cảnh sát và trạm Cảnh sát là đơn vị trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, thực hiện công tác trị an tại đơn vị hành chính cấp cuối cùng trong các đơn vị hành chính. Lực lượng này thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của lực lượng Cảnh sát Hàn Quốc nói chung tại địa bàn cơ sở, bao gồm: Công tác hành chính; bảo đảm an toàn, giữ gìn trật tự công cộng, kiểm soát giao thông; phòng, chống tội phạm, xung đột của trẻ vị thành niên; điều tra vụ, việc hình sự, kiện tụng, bắt giữ tội phạm, bắt giam đối tượng đáng ngờ...; quản lý trại cải tạo, tạm giam, chuyển trường hợp, đối tượng tình nghi có liên quan đến vụ án hình sự sang cơ quan tố tụng có thẩm quyền; phòng, chống tội phạm hình sự; phòng, chống gián điệp; tình báo, thu thập thông tin tình báo.

- Mỹ: Cơ quan Cảnh sát Mỹ được chia thành hai cấp: Ở cấp độ quốc gia, có các cơ quan Cảnh sát như: FBI, USSSS, US Marshal, USPP, US Capitol, US Pentagon và một số lực lượng khác chịu trách nhiệm về vấn đề tội phạm liên bang. Ở cấp cơ sở, mỗi bang của Mỹ lại có đội Cảnh sát riêng bảo đảm thực thi pháp luật hình sự, bảo đảm an toàn giao thông trên đường. Trong mỗi bang lại có các đồn, trạm Cảnh sát địa phương. Cảnh sát trưởng không do cơ quan có thẩm quyền cấp trên chỉ định mà do người dân địa phương bầu chọn. Ngoài ra, còn có các lực lượng Cảnh sát khác tại sở Cảnh sát các thành phố, thực hiện các nhiệm vụ chuyên ngành phòng, chống tội phạm các loại. Lực lượng Cảnh sát các cấp ở Mỹ hoạt động độc lập, không có sự chỉ đạo, quan hệ cấp trên, dưới giữa các cơ quan ở trung ương và địa phương, chỉ có quan hệ phối hợp và trong mối liên hệ thực thi pháp luật.

- Canada: Ở Canada có Cảnh sát hoàng gia Canada là lực lượng Cảnh sát liên bang, chịu trách nhiệm trước chính phủ liên bang của Canada về bảo đảm trật tự, an toàn, an ninh trên toàn bộ lãnh thổ Canada. Ngoài ra, chỉ có tỉnh Québec và Ontario có lực lượng Cảnh sát địa phương tên gọi là Sureté du Québec (SQ) và Police provinciale de l'Ontario (PPO). Bộ luật Hình sự Canada và luật hình sự địa phương có quy định về việc thành lập những cơ quan Cảnh sát riêng tại các xã, thị trấn, trong đó, quy định chỉ những tỉnh có số lượng dân cư trên mức 5.000 người bắt buộc có một sở Cảnh sát. Vì vậy, hầu hết các tỉnh có số lượng dân cư ít, không thành lập sở Cảnh sát địa phương mà sử dụng dịch vụ Cảnh sát của Cảnh sát liên bang hoặc Cảnh sát địa phương của vùng Québec, Ontario để bảo đảm ANTT trên địa bàn của mình. Trong trường hợp có xung đột, hoặc nghi ngờ kết quả điều tra, địa phương có thể thuê dịch vụ của các cơ quan Cảnh sát khác nhau để bảo đảm tính khách quan, tránh xung đột lợi ích hay có thể hợp tác các cơ quan Cảnh sát lại để bảo đảm giải quyết những vấn đề lớn yêu cầu tập hợp lực lượng. Mức phí chi trả cho dịch vụ bảo đảm ANTT tùy thuộc vào độ giàu có và dân số trong vùng.

- Ý:  Ở nước Ý, cấp Trung ương có lực lượng Cảnh sát đặc biệt như: Cảnh sát trại giam, lực lượng bảo vệ rừng của Nhà nước; lực lượng vừa có chức năng Cảnh sát, vừa có chức năng quân đội (bảo vệ tổ quốc, bảo vệ các tổ chức, phòng, chống tội phạm qua biên giới); lực lượng Cảnh sát tài chính do Bộ Tài chính quản lý, điều hành (đấu tranh phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia như buôn lậu, tham nhũng, rửa tiền, thoái vốn, vệ sinh an toàn thực phẩm...); lực lượng Cảnh sát nhà nước có chức năng của Cảnh sát hành chính, tư pháp và nhiệm vụ giữ gìn trật tự, an toàn công cộng, phòng, chống tội phạm và cứu trợ trong trường hợp tai nạn hoặc thảm họa. Ở cấp địa phương có Cảnh sát địa phương. Lực lượng này có chức năng vừa là Cảnh sát giao thông, Cảnh sát trật tự và Cảnh sát tư pháp. Trong đó, khi thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT công cộng, Cảnh sát địa phương chỉ đóng vai trò phụ trợ, thực hiện một số nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho cá nhân, trật tự công cộng, cứu hộ tai nạn; bởi vì, đây là chức năng độc quyền của lực lượng Cảnh sát nhà nước. Khi thực hiện vai trò của Cảnh sát tư pháp thì lực lượng Cảnh sát địa phương dưới sự chỉ đạo của quan tòa. Cảnh sát địa phương ở Ý được trang bị đồng phục và vũ khí. Cảnh sát trưởng chính là ngài Thị trưởng, có trách nhiệm kiểm tra hoạt động của lực lượng và thông qua những biện pháp được pháp luật quy định.

2. Một số đề xuất xây dựng lực lượng Công an chính quy phụ trách địa bàn nông thôn ở Việt Nam

Qua nghiên cứu mô hình, tổ chức lực lượng bảo đảm ANTT ở địa bàn cơ sở của một số nước cho thấy vai trò, vị trí, mô hình tổ chức, hoạt động và chức năng, nhiệm vụ của lực lượng này ở mỗi quốc gia là khác nhau. Không có mô hình nào có thể áp dụng chung cho các nước, các quốc gia xây dựng lực lượng này trên cơ sở tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước và những quy định của hệ thống pháp luật của từng quốc gia. Tại Việt Nam, hiện nay, công tác bảo vệ ANTT tại cơ sở có nhiều lực lượng tham gia, bao gồm: Lực lượng chuyên trách, nòng cốt (Công an cấp cơ sở), dân quân tự vệ, các tổ chức quần chúng (bảo vệ dân phố, bảo vệ cơ quan doanh nghiệp, các tổ chức tự quản...) và sự tham gia tích cực của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Công an cơ sở được xác định là lực lượng nòng cốt, xung kích trong bảo đảm ANTT ở cơ sở, hoạt động theo quy định của Luật Công an nhân dân và các văn bản khác có liên quan. Nhiệm vụ bảo vệ ANTT ở cơ sở được giao cho Công an cấp xã đảm nhiệm, bao gồm: Công an phường, Công an xã, thị trấn, đồn, trạm Công an.

Bảo đảm ANTT tại địa bàn nông thôn là một nội dung quan trọng trong bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội ở Việt Nam. Mặc dù quá trình công nghiệp hóa đang diễn ra mạnh mẽ nhưng địa bàn nông thôn vẫn chiếm 80% diện tích và 65% dân số nước ta. Hiện nay, cả nước có 11.112 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: 1.403 phường, 624 thị trấn, 9.085 xã. Như vậy, trong số những đơn vị hành chính cấp cơ sở ở nước ta thì đơn vị xã chiếm số lượng lớn nhất. Hiện nay, việc bảo đảm an ninh, an toàn xã hội ở địa bàn nông thôn chủ yếu do lực lượng Công an xã đảm nhiệm. Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam, địa vị pháp lý của Công an xã chưa được quy định thống nhất, vừa trực thuộc hệ thống, tổ chức của CAND nhưng lại là lực lượng vũ trang bán chuyên trách, lực lượng này hiện còn thiếu về số lượng và tại nhiều địa phương chưa được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ kịp thời, chưa được trang bị, phương tiện, công cụ hỗ trợ đầy đủ, việc giải quyết chế độ chính sách cho lực lượng Công an xã nhìn chung còn nhiều bất cập.

Từ nghiên cứu mô hình tổ chức lực lượng bảo đảm ANTT của một số nước trên thế giới, trên cơ sở thực tiễn công tác bảo đảm ANTT ở địa bàn nông thôn Việt Nam hiện nay, tác giả có một số kiến nghị sau đây:

1. Triển khai thực hiện chính quy hóa lực lượng Công an xã, thị trấn bảo đảm ANTT ở địa bàn nông thôn theo đúng chỉ đạo của Bộ Chính trị và chủ trương của Bộ Công an

 Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị về về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, trong đó có chỉ đạo nội dung về xây dựng Công an xã, thị trấn chính quy, thời gian qua, Bộ Công an đã chỉ đạo các địa phương như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành trong cả nước triển khai thí điểm cách làm này. Thực hiện Quyết định số 1870/QĐ-BCA phê duyệt đề án “Bố trí sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân đảm nhiệm các chức danh Công an xã trọng điểm, phức tạp về ANTT” kèm theo Thông tư số 15/2010/TT-BCA ngày 24/5/2010 của Bộ Công an quy định việc điều động sĩ quan, hạ sĩ quan CAND đảm nhiệm các chức danh Công an xã ở các xã trọng điểm, phức tạp về ANTT, từ năm 2012, nhiều địa phương đã tăng cường Công an chính quy xuống làm Công an xã, đặc biệt là những xã được xác định là trọng điểm, phức tạp về ANTT. Trong thời gian tới cần tiếp tục triển khai đề án bảo đảm ANTT tại địa bàn nông thôn theo hướng tất cả các xã, thị trấn đều bố trí Công an chính quy.

2. Xây dựng, kiện toàn mô hình tổ chức Công an chính quy tại địa bàn xã, thị trấn

Theo thống kê hiện nay, toàn quốc đã bố trí Công an chính quy ở 875/8.906 xã, 357/600 thị trấn. Thực hiện chỉ đạo của Bộ Chính trị, Chính phủ và ngành Công an, trong thời gian tiếp theo sẽ triển khai nhanh việc bố trí, đưa Công an chính quy xuống phụ trách các địa bàn xã, thị trấn còn lại. Mô hình Công an xã, thị trấn cần được xây dựng, thiết lập theo hướng tương tự như tổ chức bộ máy của Công an phường hiện nay với các bộ phận Tổng hợp, Công an khu vực, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phòng, chống tội phạm. Công an xã, thị trấn sẽ do Trưởng Công an xã, thị trấn chỉ huy, có từ 2 đến 3 Phó trưởng Công an xã, thị trấn với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ Công an xã, thị trấn là Công an chính quy. Trưởng Công an xã, thị trấn chịu sự chỉ đạo, chỉ huy trực tiếp của Trưởng Công an huyện về kế hoạch, biện pháp công tác bảo vệ ANTT, công tác xây dựng lực lượng Công an xã, thị trấn. Trưởng Công an xã, thị trấn cũng chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định, kế hoạch về công tác bảo vệ ANTT; báo cáo tình hình về công tác bảo vệ ANTT trên địa bàn xã, thị trấn theo quy định.

3. Lựa chọn, xây dựng tiêu chuẩn Công an xã là Công an chính quy

Công an xã được lựa chọn từ các nguồn như: Cán bộ, chiến sĩ thuộc Đội Xây dựng phong trào và phụ trách xã về ANTT (có ưu tiên bố trí cán bộ về địa bàn xã mà cán bộ đó đã từng phụ trách); cán bộ thuộc các đội nghiệp vụ của Công an huyện trong trường hợp bố trí Công an viên tại các xã trọng điểm, phức tạp về ANTT. Cán bộ thuộc các Cục nghiệp vụ thuộc Bộ Công an sau khi sắp xếp, tinh gọn lại bộ máy và thực hiện đề án đưa Công an chính quy về cơ sở. Về tiêu chuẩn: Đối với các chức danh chỉ huy Công an chính quy tại xã, thị trấn phải tốt nghiệp bậc đại học ngành An ninh, Cảnh sát, có cấp hàm từ Thượng úy trở lên; là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; có năng lực tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo, phân tích, tổng hợp tình hình và giải quyết các vụ việc có liên quan đến ANTT; có khả năng tham mưu cho cấp ủy, chính quyền xã, Công an huyện thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Công an cấp trên. Đối với Công an viên: Công an viên sẽ được lựa chọn từ cán bộ được đào tạo, cấp bằng tốt nghiệp chuyên ngành Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội. Riêng đối với các xã trọng điểm phức tạp về ANTT, ngoài việc bố trí 01 Công an viên như trên, sẽ bố trí 01 cán bộ thuộc các lực lượng nghiệp vụ khác (an ninh, hình sự, ma túy...) cùng phụ trách 01 thôn và các đơn vị dân cư tương đương để thực hiện nhiệm vụ giữ gìn ANTT.

4. Từng bước triển khai bố trí Công an chính quy phụ trách ANTT tại địa bàn nông thôn theo lộ trình

Việc triển khai bố trí Công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã thì sẽ gặp phải một số khó khăn, đặc biệt là vấn đề giải quyết chế độ chính sách, bố trí công tác khác đối với lực lượng Công an xã bán chuyên trách (đặc biệt là chế độ công chức đối với Trưởng Công an xã); điều kiện cơ sở vật chất, trụ sở làm việc của Công an xã chưa đảm bảo; nguồn cán bộ để bổ nhiệm chức danh Trưởng Công an xã Phó Trưởng Công an xã hạn chế; xáo trộn về công tác tổ chức, biên chế trong Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Do đó, việc triển khai đưa Công an chính quy xuống phụ trách địa bàn nông thôn cần theo lộ trình phù hợp, bảo đảm hiệu quả, khả thi. Trước mắt, Công an địa phương cần tập trung rà soát, lên danh sách các xã trọng điểm phức tạp về ANTT, xã nào cần bố trí ngay Công an chính quy, xã nào có thế sau một thời gian ổn định về biên chế, nguồn của cán bộ, chiến sĩ và có nguồn tài chính thì mới bố trí. Việc bố trí lực lượng Công an chính quy xuống địa bàn xã, thị trấn cần phân chia theo từng giai đoạn cụ thể, tránh nóng vội và bố trí ào ạt sẽ dẫn đến chỗ thừa cán bộ, chỗ thiếu cán bộ từ đó gây lãng phí. Mặt khác, cần xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách cho đội ngũ cán bộ Công an chính quy và các lực lượng khác tham gia bảo vệ ANTT tại địa bàn nông thôn, đặc biệt là lực lượng trực tiếp công tác chiến đấu ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; nghiên cứu giải quyết chế độ tiền lương hợp lý, các chế độ phụ cấp trực, làm ngoài giờ, tiền đi đường; xem xét hỗ trợ giải quyết phương tiện đi lại cho cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm các điều kiện cần thiết để lực lượng này yên tâm công tác, chiến đấu, góp phần giữ gìn ANTT tại địa bàn nông thôn./.

T.T.T.H


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác