Thứ Tư, 20/11/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Mối quan hệ giữa lực lượng Công an ở cơ sở với cấp ủy, chính quyền trong đảm bảo an ninh, trật tự tại địa bàn xã, thị trấn

Từ năm 2011 đến nay, lực lượng Công an xã đã phát hiện hơn 17.000 vụ, bắt giữ hơn 26.000 đối tượng phạm tội quả tang, 1.452 đối tượng có quyết định truy nã, trong đó có nhiều đối tượng nguy hiểm và đặc biệt nguy hiểm; lập hồ sơ, quản lý 2.908 đối tượng thuộc diện quản chế, cải tạo không giam giữ, án treo, hoãn thi hành án; cấp hàng chục nghìn sổ hộ khẩu thường trú, sổ tạm trú và duy trì thường xuyên việc khai báo tạm trú, tạm vắng; phối hợp tham gia giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, góp phần kiềm chế gia tăng tội phạm, tệ nạn xã hội, bảo đảm ANTT, phục vụ thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa xã hội ở địa phương... Điều này đòi hỏi mối quan hệ giữa lực lượng Công an cơ sở với cấp ủy, chính quyền địa phương trong việc đảm bảo ANTT tại địa bàn xã, thị trấn cần được quan tâm, củng cố vững chắc để nâng cao và đảm bảo ANTT tại khu vực này. Phải khẳng định rằng, mối quan hệ này là rất khăng khít, gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động lên nhau tạo nên mối liên kết tất yếu, khách quan, không thể thiếu được trong hoạt động quản lý nhà nước về ANTT trên địa bàn xã, thị trấn hiện nay. Mối quan hệ này được thể hiện như sau:

1. Mối quan hệ giữa Công an cơ sở với cấp ủy, chính quyền địa phương

- Công an xã có chức năng tham mưu cho cấp uỷ Đảng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp về công tác đảm bảo ANTT, an toàn xã hội trên địa bàn xã. Thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ANTT, an toàn xã hội, các biện pháp phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác ANTT, an toàn xã hội trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật.

- Về nguyên tắc hoạt động: Công an xã chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân cùng cấp và sự chỉ đạo hướng dẫn nghiệp vụ của Công an cấp trên; tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; cấp dưới phục tùng cấp trên; dựa vào nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân. 

- Nắm tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn xã, đề xuất với cấp ủy Đảng, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cơ quan Công an cấp trên về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội và tổ chức thực hiện chủ trương, kế hoạch, biện pháp đó. 

- Tham mưu cho Uỷ ban nhân dân xã và tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về quản lý, giáo dục các đối tượng phải chấp hành hình phạt quản chế, cải tạo không giam giữ, người bị kết án tù nhưng được hưởng án treo cư trú trên địa bàn xã; quản lý người được đặc xá, người sau cai nghiện ma túy và người chấp hành xong hình phạt tù thuộc diện phải tiếp tục quản lý theo quy định của pháp luật.

2. Mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền địa phương với Công an cơ sở

- Cấp ủy xã, thị trấn căn cứ vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, văn bản chỉ đạo của cơ quan Nhà nước cấp trên, đặc điểm tình hình tại địa bàn mình ban hành nghị quyết của Thường vụ đảng ủy, Ban chấp hành đảng bộ xã, thị trấn, trong đó có nội dung, biện pháp, mục tiêu đảm bảo ANTT trên địa bàn của mình. Làm cơ sở, nền tảng, định hướng cho Công an cơ sở thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Mặt khác, công tác xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc, đảm bảo ANTT luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm, xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm và được triển khai sâu rộng ở mọi lĩnh vực, địa bàn, xây dựng ban hành nhiều văn bản quan trọng để các cấp thực hiện, như: Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 22/6/2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm ANTT (ANTT) trong tình hình mới; Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới", trong đó, xác định lực lượng Công an nhân dân nói chung và lực lượng Công an xã nói riêng là nòng cốt trong bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, vai trò của cấp ủy địa phương đóng vai trò quan trọng trong công tác đảm bảo ANTT của Công an cơ sở.

- Theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015, chính quyền địa phương bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Công an cơ sở không chỉ tuân theo sự lãnh đạo của Đảng ủy xã, thị trấn mà còn chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân và quản lý thống nhất của Ủy ban nhân dân.

+ Tại Khoản 2, Điều 33, Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã: Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã;

+ Tại Khoản 2, Điều 36 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã là người đứng đầu Ủy ban nhân dân xã và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

(1). Lãnh đạo và điều hành công việc của Ủy ban nhân dân, các thành viên Ủy ban nhân dân xã;

(2). Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp, pháp luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xã; thực hiện các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng; tổ chức thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân; thực hiện các biện pháp quản lý dân cư trên địa bàn xã theo quy định của pháp luật.

- Tại Điều 11 Pháp lệnh Công an xã 2008 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định: “Trưởng Công an xã có trách nhiệm tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh này; chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Uỷ ban nhân dân cùng cấp và Công an cấp trên về hoạt động của Công an xã”.

Tại Điều 11 Thông tư số 15/2010/TT-BCA, ngày 24/5/2010 quy định về việc điều động sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân đảm nhiệm các chức danh Công an xã ở những xã trọng điểm phức tạp về ANTT của Bộ Công an xác định: Quan hệ công tác của sĩ quan, hạ sĩ quan Công an nhân dân đảm nhiệm các chức danh Công an xã với Đảng uỷ, chính quyền xã: Chịu sự lãnh đạo của cấp uỷ đảng; chịu sự quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân xã.

Như vậy, quan hệ giữa chính quyền địa phương với Công an cơ sở là quan hệ hành pháp; Công an cơ sở phải tuân thủ sự chỉ đạo, điều hành, quản lý của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; thực hiện các nhiệm vụ mà chính quyền địa phương phân công, giao trách nhiệm trong công tác đảm bảo ANTT. Mặt khác, Công an cơ sở cũng phải tuân thủ thực hiện các quy định liên quan đến hoạt động nghiệp vụ của Công an (chỉ đạo theo chiều dọc, mang tính chuyên môn sâu sắc). Chính vì điều này nên cần phải chính quy lực lượng Công an cơ sở, như vậy mới đảm bảo được hoạt động quản lý nhà nước về ANTT tại địa bàn xã, thị trấn; hơn nữa còn để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay.

Ngoài ra căn cứ vào ngân sách của từng địa phương, tình hình ANTT của từng đại bàn, cấp ủy, chính quyền địa phương xem xét, quyết định chế độ bồi dưỡng hợp lý, tạo điều kiện cho Công an xã chuyên tâm đến nhiệm vụ được giao.

3. Những tồn tại, hạn chế trong mối quan hệ giữa Công an cơ sở với cấp ủy, chính quyền địa phương hiện nay

- Nhận thức của một bộ phận cấp ủy, chính quyền địa phương về vị trí vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Công an xã chưa đầy đủ, dẫn đến thiếu sự quan tâm chỉ đạo, đào tạo, huấn luyện và đầu tư về chế độ, chính sách, điều kiện làm việc cho lực lượng Công an cơ sở. Công tác tổ chức, hướng dẫn, chỉ đạo chưa được triển khai thực hiện thường xuyên, liên tục, nhiều khi vẫn còn nặng tính hình thức. Thiếu sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ từ phía chính quyền để lực lượng Công an xã có điều kiện thực hiện tốt nhiệm vụ được giao.

- Mối quan hệ giữa Công an huyện với cấp ủy, chính quyền xã trong lãnh đạo, chỉ đạo; trong công tác kiểm tra, hướng dẫn nghiệp vụ đối với Công an xã còn hạn chế, chưa đầy đủ và thường xuyên. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Công an huyện, Công an xây dựng phong trào và phụ trách xã về ANTT đối với lực lượng Công an xã về nghiệp vụ, pháp luật, xây dựng lực lượng còn nhiều tồn tại, hạn chế.

- Việc bố trí Công an xã theo Nghị định số 73/2009/NĐ- CP của Chính phủ gặp khó khăn do mâu thuẫn với quy định về khung số lượng cán bộ, công chức và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã theo Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ.

- Công an xã thuộc hệ thống tổ chức Công an nhân dân, nhưng việc tuyển chọn, sử dụng, điều động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chế độ, chính sách đối với Công an xã thuộc thẩm quyển của Ủy ban nhân dân, vì vậy, việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước của lực lượng Công an nhân dân đối với Công an xã còn gặp khó khăn, bất cập, nhất là trong việc tuyển chọn, bổ nhiệm, xử lý kỷ luật.

4. Giải pháp nâng cao hiệu quả trong mối quan hệ giữa Cấp ủy, chính quyền cơ sở và Công an cơ sở trong thời gian tới

Thứ nhất, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức cho các đơn vị, địa phương về vai trò, ý nghĩa của việc bố trí Công an chính quy tại các địa bàn cơ sở. Lực lượng Công an nhân dân cần chủ động và làm tốt công tác tham mưu với cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ Công an và của cấp ủy, chính quyền các cấp về Công an xã; quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo củng cố, kiện toàn tổ chức, đầu tư cơ sở vật chất, xây dựng trụ sở làm việc, trang bị phương tiện, công cụ hỗ trợ, các điều kiện bảo đảm và kinh phí hoạt động cho Công an xã, nhất là những xã vùng sâu, vùng xa, địa bàn trọng điểm, phức tạp về ANTT phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở địa phương.

Thứ hai, tổ chức rà soát các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ, chính sách, cũng như những vấn đề khác có liên quan đến Công an xã và các quy định về bảo đảm ANTT ở khu vực nông thôn để đề xuất bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện nhằm tạo điều kiện cho Công an xã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ. Đặc biệt là sửa đổi bổ sung Luật Công an nhân dân để tạo cơ sở pháp lý cho việc Bộ Công an triển khai đưa hơn 25.000 cán bộ, chiến sĩ Công an chính quy, tinh nhuệ, cách mạng về công tác tại địa bàn các xã, thị trấn trong thời gian tới. Sửa đổi, bổ sung Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Đồng thời, cần quan tâm chỉ đạo, khắc phục những bất cập trong công tác chỉ đạo, phối hợp và quan hệ giữa Công an cơ sở với cấp ủy, chính quyền địa phương tại xã, thị trấn.

Thứ ba, tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Công an huyện với cấp ủy, chính quyền xã để đảm bảo cơ chế phối hợp thống nhất, đồng bộ trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo Công an xã; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn về công tác quản lý, tổ chức đối với Công an xã. Đẩy mạnh công tác lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn của Công an huyện, các đội nghiệp vụ, Công an phụ trách xã đối với lực lượng Công an xã về nghiệp vụ, pháp luật, xây dựng lực lượng. Xây dựng lực lượng Công an xã trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, thực sự là nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc đáp ứng yêu cầu bảo đảm ANTT trên địa bàn khu vực nông thôn trong tình hình mới.

Thứ tư, công an xã cần thực hiện tốt chế độ thông tin, báo cáo cho Công an cấp trên và cấp ủy đảng, Ủy ban nhân dân xã theo quy định (báo cáo theo tuần, tháng, quý, năm, theo công việc cụ thể). Đặc biệt khi có các vụ việc phức tạp về ANTT, liên quan đến an ninh chính trị, tôn giáo, “điểm nóng”... vượt quá thẩm quyền giải quyết của Công an xã thì phải xin ý kiến chỉ đạo, giải quyết; nhiệm vụ được giao không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Công an xã hoặc cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã có ý kiến chỉ đạo khác với ý kiến chỉ đạo của Công an cấp trên thì phải kiến nghị, đề xuất với cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã có sự điều chỉnh cho phù hợp, trường hợp cần thiết thì phải báo cáo Trưởng Công an cấp huyện để có sự phối hợp, chỉ đạo kịp thời, đúng pháp luật, bảo đảm sự thống nhất giữa cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xã và Công an cấp trên.

Thứ năm, tham mưu cho cấp ủy Đảng, Ủy ban nhân dân xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể trên địa bàn như: Mặt trật Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội cựu chiến binh, Hội phụ nữ…; các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn để trao đổi thông tin, tài liệu có liên quan đến công tác đảm bảo ANTT, vận động, phát huy sức mạnh quần chúng nhân dân vào công tác đảm bảo ANTT, nâng cao hiệu quả trong công tác vận động quần chúng nhân dân. Nhất là ở địa bàn biên giới cần phải có sự phối hợp với Bộ đội biên phòng để thực hiện tốt “quy tắc biên giới”. Qua đó gắn trách nhiệm cho từng cơ quan, đơn vị, cá nhân để để phát huy tối đa tinh thần trách nhiệm của các đơn vị trong công tác đảm bảo ANTT.

Thứ sáu, lựa chọn, bố trí cán bộ, chiến sĩ có trình độ chuyên môn nghiệp vụ về công tác tại địa bàn cơ sở nhằm nâng cao công tác tham mưu cho cấp ủy đảng, chính quyền và chỉ huy Công an xã về các chủ trương, kế hoạch, biện pháp đảm bảo ANTT, nhất là những địa bàn biên giới, vùng sâu, vùng xa, địa bàn phức tạp về ANTT. Do vậy, cần cử lực lượng Công an cơ sở đi học, tập huấn theo đúng chuyên môn, nhiệm vụ được phân công công tác để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, phải trang bị cho Công an cơ sở am hiểu kiến thức xã hội, tiếng dân tộc, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử, phục vụ công tác thăm hỏi, nắm tình hình, nâng cao hiệu quả công tác đảm bảo ANTT tại địa bàn.

Nguyễn Xuân Thủy

Hoàng Anh Đức

Khoa Quản lý nhà nước về TTXH- T32

Tài liệu tham khảo:

1. Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Quốc hội khóa XIII, ngày 19/6/2015, Hà Nội.

2. Pháp lệnh Công an xã, Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa XII, ngày 21/11/2008, Hà Nội.

3. Thông tư 15/2010/TT-BCA ngày 24/5/2010 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định về việc điều động sĩ quan, hạ sĩ quan công an nhân dân đảm nhiệm các chức danh công an xã ở những xã trọng điểm, phức tạp về ANTT, Hà Nội.

4. Nghị định số 73/2009/NĐ-CP ngày 7/9/2009 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh công an xã năm 2008.

5. Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.

 

 



Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác