Thứ Tư, 1/12/2021
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số ý kiến góp ý về Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin trình bày một số ý kiến đối với Dự thảo để Ban biên tập, Ban soạn thảo và các bạn đồng nghiệp tham khảo. Để tiện theo dõi, chúng tôi xin trình bày các ý kiến theo các Chương của Dự thảo BLTTHS.

I. Về phần thứ nhất: Những quy định chung

1. Về Chương I: Nhiệm vụ và hiệu lực của Bộ luật tố tụng hình sự

- Điều 1: Phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự

Dự thảo BLTTHS sắp xếp lại thứ tự lợi ích cần bảo vệ tức là đưa việc bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân lên trước việc bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước là không phù hợp với Hiến pháp 2013. Chương I của Hiến pháp năm 2013 là “Chế độ Chính trị”, đó là khách thể quan trọng nhất, bằng mọi giá phải bảo vệ.  Có chế độ chính trị, có tổ quốc mới có công lý, có quyền con người. Vì thế, Chương XI (Chương đầu tiên của Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự năm 1999) là chương về các tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia. Do đó, chúng tôi đề nghị không sắp xếp lại thứ tự này mà nên giữ nguyên như thứ tự của Điều 1 BLTTHS năm 2003 và bổ sung nhiệm vụ "bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người" vào sau cụm từ "bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, đồng thời giáo dục mọi người ý thức tuân thủ theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm".

Theo chúng tôi nếu sắp xếp như trên thì có thể bỏ từ "cá nhân" của Dự thảo BLTTHS vì quyền con người, quyền công dân cũng chính là quyền cá nhân và nếu để cá nhân trong câu này là thừa.

- Điều 2: Hiệu lực của BLTTHS

Khoản 2 Điều 2 bổ sung quy định: "Trường hợp giữa Việt Nam và nước mà người phạm tội mang quốc tịch chưa có chung điều ước quốc tế thì hoạt động tố tụng hình sự thực hiện trên nguyên tắc có đi, có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế"

Trong Điều 2 cũng bổ sung khoản 4 "Hoạt động tố tụng phát sinh trên cơ sở yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dẫn độ tội phạm của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì thực hiện theo quy định của Điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; trường hợp giữa Việt Nam và nước có yêu cầu chưa có điều ước quốc tế và tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm thì được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật Việt Nam và tập quán quốc tế".

Như vậy, nội dung bổ sung tại khoản 2 và khoản 4 Điều 2 gần giống nhau, thậm chí là trùng nhau về trường hợp giữa Việt Nam và nước khác chưa có điều ước quốc tế. Hoạt động tương trợ tư pháp, dẫn độ tội phạm suy cho cùng cũng là hoạt động tố tụng hình sự, mà thực chất đó là hoạt động tố tụng hình sự. Do vậy, chúng tôi cho rằng không cần bổ sung ở khoản 2 mà gộp vào khoản 4, sắp xếp lại cho hợp lý là đảm bảo quy định về hoạt động tố tụng hình sự đối với những trường hợp có điều ước quốc tế và chưa có điều ước quốc tế.

2. Về Chương II: Những nguyên tắc cơ bản

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án về Chương này. Tuy có một số điểm khác nhau nhưng về cơ bản không có sự đối lập. Chúng tôi xin nêu một số ý kiến sau đây:

- Điều 9: Suy đoán vô tội

Khoản 1 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật".

Suy đoán vô tội là một thuật ngữ pháp lý mà không phải ai cũng hiểu về nó. Nếu dùng thuật ngữ này thành một quy định của pháp luật tố tụng hình sự thì không đảm bảo tính quần chúng. Điều 9 BLTTHS năm 2003 quy định rõ là: "Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Quy định này rõ ràng hơn, phổ thông hơn và dễ hiểu hơn thuật ngữ "Suy đoán vô tội". Mặt khác, do sửa tên điều luật nên khoản 1 viết dài dòng, theo chúng tôi thì không cần thiết phải có cụm từ "Cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Đương nhiên, bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải tuân thủ trình tự, thủ tục của BLTTHS. Vì vậy, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định tại Điều 9 BLTTHS 2003 và đồng tình với việc bổ sung tại khoản 2 và khoản 3 của điều luật này về trách nhiệm chứng minh tội phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra và việc xử lý có lợi cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu nghi ngờ về tội của họ chưa được làm sáng tỏ theo quy định của BLTTHS.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 9 quy định "Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình". Quy định này có nghĩa là người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền khai báo hoặc có quyền không khai báo; đây thực chất là "quyền im lặng". BLTTHS năm 2003 không có Điều nào quy định cụ thể về "quyền im lặng" nhưng "quyền im lặng" đã được thể hiện trong nhiều quy định của BLTTHS. Chẳng hạn quy định về trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng; không lấy lời nhận tội của bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội bị cáo; bị cáo có quyền không trả lời câu hỏi của Hội đồng xét xử; bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người bào chữa từ khi khởi tố vụ án; người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của bị can, bị cáo… Như vậy, cần thiết quy định cụ thể "quyền im lặng" trong BLTTHS để rõ ràng, rành mạch hơn trong việc bảo vệ quyền con người mà Hiến pháp đã quy định. Do đó, chúng tôi đề nghị nên tách quy định của khoản 2 Điều 9 nêu trên thành một điều luật riêng quy định về "Quyền im lặng" với nội dung cụ thể như sau:

"Điều… Quyền im lặng.

Người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền không khai báo; có quyền nhờ người bào chữa hỗ trợ khi cơ quan điều tra lấy lời khai, khi bị truy tố hoặc khi bị Tòa án xét xử. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao một số hoạt động điều tra phải giải thích cho họ biết về quyền im lặng và đảm bảo để họ thực hiện quyền này."

- Điều 13: Trách nhiệm phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án hình sự

Dự thảo bỏ quyền khởi tố của Tòa án vì cho rằng không phù hợp với chức năng xét xử của Tòa án. Với lập luận này thì Tòa án không có quyền khởi tố vụ án hình sự mà chỉ có quyền kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự theo quy định tại Điều 154 dự thảo BLTTHS. Sửa đổi này không phù hợp vì những lẽ sau đây:

Một là: Trong thực tiễn xét xử, đã có nhiều trường hợp trong quá trình xét xử, Tòa án phát hiện có dấu hiệu của tội phạm, bỏ lọt tội phạm nên đã quyết định khởi tố vụ án hình sự. Chẳng hạn như vụ án hậu vụ án rừng Tánh Linh; hậu của vụ án Mường Tè… Như vậy, việc phát hiện dấu hiệu tội phạm, bỏ lọt tội phạm và khởi tố vụ án hình sự của Tòa án không những góp phần đấu tranh chống tội phạm có hiệu quả hơn mà còn thể hiện quyền giám sát của Tòa án (quyền tư pháp) trong hoạt động của Tòa án đối với công tác điều tra, truy tố.

Hai là: Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã được Quốc hội khóa 13, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24/11/2014. Theo đó, tại điểm d khoản 3 Điều 2 đã quy định: "Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm".

Với hai lý do cả về mặt thực tiễn và cả về căn cứ pháp luật nêu trên thì việc bỏ quyền khởi tố vụ án hình sự của Tòa án là không đúng và cần phải, buộc phải giữ lại quy định này trong Điều 13, đồng thời sửa quy định về quyền kiến nghị khởi tố vụ án hình sự của Tòa án tại Điều 154 của Dự thảo BLTTHS.

- Điều 15: Thực hiện chế độ xét xử sơ thẩm có Hội thẩm tham gia.

Chế độ Hội thẩm tham gia xét xử đã được quy định từ Hiến pháp năm 1946 cho đến Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó có Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Chúng tôi đồng tình với việc bổ sung quy định "trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn" cho phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 103 Hiến pháp năm 2013. Tuy nhiên, chúng tôi không đồng tình với việc bỏ quy định: "Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán". Mặc dù trong các văn bản pháp luật không quy định cụ thể về vấn đề này nhưng việc Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán từ lâu đã được coi là đương nhiên khi xét xử. Mặt khác, tuy không quy định cụ thể nhưng điểm 4 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn"; Điều 10 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định Tòa án nhân dân xét xử tập thể: "Tòa án nhân dân xét xử tập thể và quyết định theo đa số, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn. Thành phần Hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do Luật tố tụng quy định".

Như vậy, Hội thẩm nhân dân, Hội thẩm quân nhân chỉ tham gia xét xử sơ thẩm và khi Hội đồng xét xử quyết định thì theo đa số ý kiến của các thành viên trong Hội đồng xét xử. Những thành viên trong Hội đồng xét xử đương nhiên phải có quyền ngang nhau thì mới có quyền biểu quyết để lấy ý kiến đa số và đó là quyết định của Hội đồng xét xử. Việc Điều 15 BLTTHS năm 2003 quy định: "Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán" vừa có căn cứ từ các quy định của Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân, vừa đề cao vị trí, vai trò của Hội thẩm trong công tác xét xử. Do đó, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định này tại Điều 15 Dự thảo BLTTHS.

- Điều 16: Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Đây là một quy định nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan của Hội đồng xét xử; nhằm loại bỏ sự can thiệp của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác xét xử của Thẩm phán Hội thẩm. Khoản 2 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm". Để cụ thể hóa rõ hơn, về quy định này của Hiến pháp, chúng tôi đề nghị cần bổ sung vào Điều 16 quy định: "Nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào". Mặt khác, các hành vi can thiệp thô bạo vào công tác xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm phải được coi là tội phạm và cần phải được quy định trong BLHS.

Công tác xét xử là một công tác đặc thù, các phán quyết của Thẩm phán, Hội đồng xét xử có thể không tránh khỏi sai sót khi nhận thức về quy định của pháp luật hoặc đánh giá chứng cứ không chính xác, chưa đầy đủ, đặc biệt là trong những trường hợp mà hồ sơ vụ án đã bị "khép kín" từ cơ quan điều tra. Vì vậy, những "rủi ro" trong nghề nghiệp vẫn có thể xảy ra. Rất nhiều nước trên thế giới đều không đặt ra vấn đề xử lý kỹ thuật hoặc trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với Thẩm phán, Hội thẩm khi xét xử oan, sai. Do đó, chúng tôi đề nghị cần quy định rõ trong điều này: "Thẩm phán, Hội thẩm không bị xử lý kỷ luật, truy cứu trách nhiệm hình sự, trách nhiệm dân sự đối với những quyết định khi thực hiện quyền xét xử, trừ trường hợp cố ý; Việc xử lý đối với Thẩm phán phải có ý kiến của Hội đồng tuyển chọn, giám sát Thẩm phán quốc gia".

Để bảo vệ Thẩm phán, Hội thẩm, điều luật cũng cần có quy định xử lý nghiêm những hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, đe dọa, khủng bố tinh thần hoặc gây sức ép, cản trở hoạt động xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Các hành vi lăng mạ, xúc phạm, không tôn trọng Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa cần phải bị xử lý nghiêm khắc.

- Điều 18: Thực hiện công khai trong hoạt động tố tụng hình sự

Chúng tôi cho rằng việc sửa đổi tên của điều luật thì "xét xử công khai" sang "Thực hiện công khai trong hoạt động tố tụng hình sự" là không phù hợp vì không phải mọi hoạt động tố tụng đều phải công khai (ví dụ: các hoạt động điều tra…). Điều 18 BLTTHS năm 2003 chỉ giới hạn quy định này trong hoạt động xét xử. Điều 31 Hiến pháp năm 2013 cũng không quy định việc công khai hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng mà cũng chỉ giới hạn trong hoạt động xét xử của Tòa án. Để thực hiện đúng quy định của Điều 31 và Điều 103 Hiến pháp năm 2013, chúng tôi đề nghị sửa điều này như sau:

"Điều 18: Xét xử, kịp thời, công khai

1. Tòa án phải đảm bảo xét xử trong thời hạn do Bộ luật này quy định.

2. Tòa án xét xử công khai, mọi người đều có quyền tham dự.

Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, bí mật quân sự, bí mật công tác, thuần phong, mỹ tục của dân tộc, bảo vệ người chưa thành niên hoặc giữ bí mật đời tư theo yêu cầu chính đáng của họ thì Tòa án có thể xử kín, nhưng phải tuyên án công khai".

Sở dĩ chúng tôi đưa thêm "bí mật quân sự, bí mật công tác" vào trong quy định của điều luật này là do có sự khác nhau giữa bí mật nhà nước, bí mật quân sự và bí mật công tác. Bộ luật hình sự cũng quy định các tội danh khác nhau về các khách thể bị xâm hại này. Mặt khác, người chưa thành niên là đối tượng cần được bảo vệ, kể cả trường hợp họ là bị cáo hay là người bị hại; do đó, việc xét xử kín đối với họ cũng cần đặt ra và cần quy định trong điều luật.

- Điều 19: Xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục

Tại phiên tòa, Tòa án trực tiếp xác định những tình tiết của vụ án thông qua việc hỏi và nghe ý kiến của những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Tòa án cũng có thể hỏi những người khác mà Tòa án triệu tập đến phiên tòa hoặc phiên họp, chẳng hạn như Tòa án triệu tập Điều tra viên và hỏi Điều tra viên về những vấn đề liên quan đến việc điều tra.

Phiên tòa có thể diễn ra liên tục, nhưng cũng có thể phải tạm dừng lại để Hội đồng xét xử thực hiện việc "xem xét tại chỗ" như quy định tại Điều 301 Bộ luật này. Mặt khác, trong thực tiễn cũng đã xảy ra một số trường hợp vì lý do sức khỏe của người tham gia tố tụng hoặc các trường hợp bất khả kháng khác mà phiên tòa phải tạm ngừng (không phải là hoãn phiên tòa). Do đó, nếu quy định việc xét xử phải tiến hành liên tục, chỉ trừ thời gian nghỉ là không phù hợp với quy định tại Điều 301 BLTTHS và không phù hợp thực tiễn. Vì vậy, điều luật này cần quy định rộng mở hơn những trường hợp không thể xét xử liên tục, mặt khác cũng cần quy định rõ thời gian tạm ngưng phiên tòa (việc xét xử) là bao nhiêu ngày, nếu hết thời hạn đó, Tòa án phải tiếp tục xét xử. Trường hợp lý do tạm ngừng xét xử chưa được khắc phục (ốm đau chưa khỏi, việc xem xét tại chỗ, việc điều tra, xác minh của Hội đồng xt xử chưa thực hiện được…) thì cũng cần có quy định phải hoãn phiên tòa hoặc có thể gia hạn tạm ngưng việc xét xử.

- Điều 20: Đảm bảo tranh tụng, công bằng trong xét xử

Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm". Đây là một quy định của giai đoạn xét xử, mang tính nguyên tắc, buộc Tòa án phải thực hiện.

Tranh tụng có nghĩa là sự kiện cáo lẫn nhau giữa các bên có quan điểm đối lập. Đây là một thuật ngữ được ghép bởi hai thuật ngữ "tranh luận" và "tố tụng". Tranh tụng tại phiên tòa là việc đối đáp, đưa ra những chứng cứ để phản đối, không đồng tình hay bác bỏ quan điểm buộc tội hoặc gỡ tội của bên kia, đồng thời bảo vệ quan điểm của mình là có căn cứ, đúng pháp luật. Tranh tụng tại phiên tòa được bắt đầu từ khai mạc phiên tòa vì ngay trong phần thủ tục phiên tòa đã có sự đối đáp, đặt ra các yêu cầu của các bên. Ví dụ như yêu cầu Tòa án triệu tập thêm người tham gia tố tụng, đưa vật chứng ra phiên tòa, hoãn phiên tòa hoặc có thể xuất trình cho Tòa án những tài liệu, chứng cứ có thể làm cho phiên tòa phải hoãn hoặc Tòa án phải quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Chẳng hạn, tại phiên tòa, Luật sư xuất trình một giấy khai sinh mà theo đó bị cáo chưa đến tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự. Giấy khai sinh này và giấy khai sinh có trong hồ sơ vụ án tuy cùng một nơi cung cấp nhưng có sự khác nhau về độ tuổi. Không có căn cứ để Tòa án làm rõ tại phiên tòa nên trường hợp này, Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Như vậy, tranh tụng tại phiên tòa không đồng nghĩa với tranh luận tại phiên tòa. Tranh luận chỉ là một phần của tranh tụng tại phiên tòa và có nghĩa hẹp hơn.

Trong Hiến pháp chỉ quy định bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa (nguyên tắc tranh tụng trong xét xử), nhưng không có nghĩa là nguyên tắc này không thực hiện trong các giai đoạn khác của quá trình tố tụng. Mô hình tố tụng hình sự Việt Nam là mô hình tố tụng "pha trộn" giữa xét hỏi và tranh tụng. Khi đã xác định nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng hình sự thì phải được hiểu là không chỉ Tòa án mà các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc này. Hiểu theo nghĩa rộng này thì tranh tụng được bắt đầu từ khi bắt, tạm giữ người vì từ thời điểm này đã có sự tham gia "tranh cãi" của người bào chữa. Tranh tụng được thực hiện trong suốt quá trình tố tụng, tức là từ khi bắt giữ đến xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và cả trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm.

Với những lập luận nêu trên, chúng tôi đề nghị cần bổ sung trong phần chung một điều luật quy định về "Nguyên tắc tranh tụng"

"Điều… Nguyên tắc tranh tụng

Các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải bảo đảm tranh tụng trong hoạt động tố tụng của mình."

Điều 20 cũng cần quy định rõ hơn về quyền tranh tụng tại Tòa án là gì và bao gồm những nội dung nào hay Tòa án phải bảo đảm thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa như thế nào. Tranh tụng tại phiên tòa là trọng tâm của công tác xét xử. Căn cứ vào kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện, đầy đủ, khách quan các chứng cứ, tài liệu, các ý kiến của bên buộc tội, bên gỡ tội, những người tham gia tố tụng và những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa (Điều tra viên, đại diện nhà trường, tổ chức xã hội…) Tòa án ra quyết định hoặc bản án. Quyết định hoặc bản án của Tòa án phải dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa chứ không phải dựa trên hồ sơ vụ án, vì vậy điều luật này cần có quy định vấn đề này như một nguyên tắc để xóa đi, đoạn tuyệt với tư tưởng "án tại hồ sơ".

Với những lập luận nêu trên, chúng tôi đề nghị sửa khoản 4 Điều 20 Dự thảo BLTTHS thành: "4. Bản án, quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa"; không cần phải thêm quy định "Chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa" hoặc "trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện, khách quan các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa…", vì tất cả những vấn đề này đều đã được gói trong "tranh tụng tại phiên tòa" rồi.

- Điều 21: Thực hiện chế độ hai cấp xét xử

Có quan điểm cho rằng nên sửa điều này thành "Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm" để thể hiện rõ hai cấp Tòa án. Chúng tôi cho rằng nếu sửa theo quan điểm này thì lại vướng ở khoản 2, khi quy định việc xem xét lại các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới, thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Do đó, chúng tôi đồng tình với quan điểm giữ nguyên quy định này tại Điều 21 BLTTHS năm 2003 và Điều 21 của Dự thảo BLTTHS.

- Điều 22: Giám đốc việc xét xử

Theo quy định tại Điều 37 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 về “Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương" thì Tòa án nhân dân cấp tỉnh không còn quyền giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân cấp huyện mà chỉ còn quyền kiểm tra công tác xét xử của các Tòa án cấp dưới (kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật), nếu phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì chỉ có quyền kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị. Tương tự như trên, các Tòa án quân sự cấp quân khu cũng không còn quyền giám đốc thẩm, tái thẩm (Điều 56 Luật tổ chức Tòa án nhân dân "Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án quân sự Quân khu và tương đương). Theo Điều 44 Luật tổ chức Tòa án nhân dân quy định về "Nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương” thì không có Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Vì vậy, điều luật này phải sửa cơ bản để phù hợp với Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Theo đó, dựa trên thẩm quyền của các cấp Tòa án để xác định thẩm quyền giám đốc việc xét xử.

Ví dụ: Tòa án nhân dân tối cao giám đốc việc xét xử của các Tòa án nhân dân; Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc việc xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân sự Trung ương giám đốc việc xét xử của Tòa án quân sự quân khu và tương đương…

Chúng tôi cho rằng quy định nêu trên của Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng cần được quy định trong Điều 22 BLTTHS để không chỉ các cơ quan tiến hành tố tụng mà cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân cũng biết để thực hiện đúng pháp luật, tránh việc gửi đơn yêu cầu giám đốc thẩm không đúng nơi có thẩm quyền giải quyết.

- Điều 23: Bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án

Có ý kiến cho rằng cần sắp xếp lại trật tự của cụm từ "cơ quan, tổ chức, cá nhân" thành "cá nhân, cơ quan, tổ chức" tức là đưa cá nhân lên trước cơ quan, tổ chức. Chúng tôi không đồng tình với ý kiến này vì hơn ai hết, cơ quan, tổ chức phải gương mẫu tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Do đó, chúng tôi đồng tình với quy định tại Điều 22 BLTTHS năm 2003 và quy định tại Điều 23 dự thảo BLTTHS vì phù hợp với khoản 2 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.

Tuy nhiên, việc thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án không chỉ thuộc trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân nói chung và các cơ quan, tổ chức hữu quan có liên quan hoặc được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án mà đó cũng là trách nhiệm của chính Tòa án. Tòa án xét xử, ra quyết định đã có hiệu lực pháp luật (bản án, quyết định) nhưng lại không gửi bản án, quyết định, không ra quyết định thi hành bản án thì việc xét xử cũng trở nên vô nghĩa. Vì thế, điều luật này cần phải quy định cả trách nhiệm của Tòa án trong việc bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án mới đầy đủ.

- Điều 24: Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự

Chúng tôi đồng tình với việc bổ sung quyền miễn truy tố của Viện kiểm sát khi có đầy đủ các điều kiện được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của BLTTHS vì: Viện kiểm sát có quyền truy tố thì cũng có quyền miễn truy tố. Quy định này cũng tương tự như quy định người có thẩm quyền kháng nghị thì có quyền rút kháng nghị hoặc quy định về rút truy tố một phần hoặc toàn bộ của Viện kiểm sát.

Chúng tôi cũng đồng tình việc quy định "Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng" trong khoản 2 của điều luật này để có thể bao trùm các chủ thể khác như người có thẩm quyền tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, người được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra.

Tuy nhiên, chức năng kiểm sát và chức năng công tố là hai chức năng riêng biệt, được thực hiện bởi hai hoạt động riêng biệt chứ không phải là một. Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa (quyền buộc tội) chứ không phải đồng thời có cả quyền kiểm sát hoạt động của Hội đồng xét xử. Ngược lại, theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 thì Tòa án (Hội đồng xét xử) còn có quyền: "a. Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử…"

Như vậy, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố tại phiên tòa không có quyền kiểm sát tại phiên tòa, đặc biệt là kiểm sát hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử. Nếu quy định kiểm sát viên có quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử là trái với nguyên tắc độc lập, chỉ tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cần quy định rõ "Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thì không thực hiện quyền kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên tòa".

Cũng vì các lý do nêu trên, chúng tôi cho rằng cần có quy định tách biệt cụ thể, rõ ràng về quyền thực hành công tố và quyền kiểm sát trong tố tụng hình sự mà không nên gộp chung trong một điều luật. Có nghĩa là cần tách riêng Điều 23 BLTTHS năm 2003 và Điều 24 dự thảo BLTTHS thành hai điều luật quy định về hai chức năng công tố và kiểm sát của Viện kiểm sát.

- Điều 27: Trách nhiệm của các tổ chức và công dân trong đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm

Đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó có cả các cơ quan tổ chức và mọi người. Do vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung trách nhiệm của các cơ quan trong điều luật. Mặt khác, nếu dùng từ công dân thì lại thu hẹp trách nhiệm của những người nước ngoài, người không có quốc tịch đang sinh sống, làm việc tại Việt Nam. Do đó, nên thay từ công dân bằng từ cá nhân hoặc mọi người thì bao trùm rộng hơn, đầy đủ hơn.

Trong khoản 2 của điều luật này nên bổ sung thêm trách nhiệm của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

Các khoản 1, 2 và 3 của điều luật đã sửa "công dân" thành "cá nhân" thì tên của điều luật này cần sửa công dân thành cá nhân.

- Điều 28: Phát hiện và khắc phục nguyên nhân và điều kiện phạm tội

Cần bổ sung thêm nhiệm vụ của cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong việc tìm ra những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp khắc phục, ngăn ngừa và trách nhiệm trả lời của các cơ quan này đối với yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.

- Điều 29: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Dự thảo BLTTHS giữ nguyên quy định của Điều 28 BLTTHS năm 2003. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thường chỉ chú trọng đến việc chứng minh tội phạm mà ít, thậm chí không quan tâm đến việc điều tra, xác định trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự trong một số trường hợp có thể có ý nghĩa quyết định trách nhiệm hình sự, xác định có tội hay không có tội, quyết định khung hình phạt. Vì một người chiếm đoạt dưới 2 triệu đồng (trộm cắp, lừa đảo…) chưa hẳn đã là tội phạm nếu họ không gây hậu quả nghiêm trọng, chưa bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản. Nếu Tòa án xác định được giá trị tài sản dưới hai triệu đồng thì tuyên bố người đó không phạm tội, nhưng họ vẫn phải có trách nhiệm dân sự. Hoặc một người tham ô 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng khác với người tham ô trên 50 triệu đồng, trên 500 triệu đồng. Sự khác biệt này xét riêng về góc độ trách nhiệm dân sự (trách nhiệm bồi hoàn tiền bị chiếm đoạt) vừa là yếu tố định khung hình phạt, vừa là trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự.

Để chứng minh tội phạm, xác định tình tiết định khung tội phạm chính xác, đầy đủ thì đó là trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu các cơ quan điều tra, truy tố chưa xác định đầy đủ, chính xác các chứng cứ này thì theo quy định tại điểm I khoản 2 Điều 1 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT-VKSNDTC-BCA-TANDTC ngày 27/8/2010 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Điểm i "Chứng cứ để chứng minh": tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra "là chứng cứ để đánh giá tính chất, hậu quả (vật chất, phi vật chất) của hành vi phạm tội trong việc xác định tội phạm và quyết định hình phạt". Khi thiếu hoặc không đầy đủ, không chính xác về chứng cứ này, Tòa án phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung mà không được tách phần dân sự thành vụ kiện khác. Để tránh việc hồ sơ phải trả để điều tra bổ sung vì thiếu chứng cứ xác định thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra hay đó chính là trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Chúng tôi đề nghị sửa Điều 29 dự thảo BLTTHS như sau:

"Điều 29: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự được tiến hành cùng với việc giải quyết vụ án hình sự. Các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra phải xác định rõ tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Trong trường hợp vụ án hình sự phải giải quyết vấn đề bồi thường, bồi hoàn mà chưa có điều kiện chứng minh và không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án hình sự thì có thể tách ra để giải quyết theo thủ tục tố tụng dân sự khi có yêu cầu của đương sự".

- Điều 30 và Điều 31

Hai điều luật này đều quy định về việc bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại. Điều 30 có quy định về việc phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật.

Theo chúng tôi hai điều luật này có nội dung gần giống nhau, nên ghép vào thành một điều luật để không bị lặp lại quy định; cụ thể như sau:

"Điều 30: Bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật do cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự gây ra.

1. Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật do cơ quan hoặc người có thẩm quyền tiến hành tố tụng gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự, quyền lợi.

2. Cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã gây ra thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự cố ý vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án có trách nhiệm bồi hoàn cho cơ quan mình theo quy định của pháp luật".

Theo chúng tôi, trách nhiệm bồi hoàn thiệt hại của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự chỉ nên đặt ra khi có lỗi cố ý. Những trường hợp do nhận thức pháp luật hoặc do trình độ đánh giá tài liệu, chứng cứ không đúng đắn đến vi phạm pháp luật thì không đặt ra việc bồi hoàn.

3. Chương III. Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

- Điều 41: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án

Chúng tôi đồng tình với việc bỏ một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chánh án, Phó Chánh án trong hoạt động tố tụng của Tòa án và giao những quyền hạn, nhiệm vụ đó cho Thẩm phán. Tuy nhiên, điều luật vẫn còn giữ lại quyền quyết định chuyển vụ án, quyết định xử lý vật chứng của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử vụ án hình sự, Tòa án phải ra nhiều quyết định khác nhau, tùy từng vụ án. Những quyết định tố tụng có thể phải ban hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là do Thẩm phán nghiên cứu hồ sơ và xem xét có cần thiết phải ra quyết định này hoặc quyết định khác hay không. Nếu Luật quy định một số quyết định phải do Chánh án hoặc Phó Chánh án ký trên cơ sở đề xuất của Thẩm phán thì vừa không đảm bảo thời hạn xét xử, vừa hạn chế quyền của Thẩm phán. Ở góc độ nào đó còn được hiểu là quản lý hành chính đã lấn sân của tố tụng hình sự và đó là một quy định mang tính rất hình thức, không rõ ràng về trách nhiệm của Chánh án, Phó Chánh án và Thẩm phán Tòa án. Thẩm phán là người được Chánh án phân công xét xử vụ án, được giao giải quyết vụ án, chịu trách nhiệm chính trong giải quyết xét xử vụ án. Thẩm phán cùng các thành viên Hội đồng xét xử được quyền phán quyết mà các phán quyết này liên quan đến tài sản, danh dự, nhân phẩm…, thậm chí là quyền được sống của con người. Theo chúng tôi, tất cả các quyết định về giải quyết vụ án như: thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn (kể cả biện pháp bắt giam), quyết định trưng cầu giám định, quyết định kê biên tài sản, quyết định bắt buộc chữa bệnh, xử lý vật chứng, quyết định chuyển vụ án v.v… nên giao quyền cho Thẩm phán quyết định.

- Điều 42: Nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán

Ngoài việc nên giao cho Thẩm phán có toàn quyền ban hành các quyết định trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như đã nêu ở Điều 41, chúng tôi cho rằng:

Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 2 Luật tổ chức Tòa án nhân dân thì "c. Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra, xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự".

Theo quy định này thì Tòa án có quyền điều tra khi đã thụ lý vụ án. Vấn đề là Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền điều tra không? Theo chúng tôi, quy định này mặc dù đã được Quốc hội thông qua, nhưng rõ ràng đã lấn sân của điều tra và không khả thi nhiều. Thẩm phán không được đào tạo nghiệp vụ điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ. Sự chồng lấn này vô hình chung đã không tách bạch các chức năng điều tra, truy tố, xét xử. Mặt khác về nguyên tắc, Thẩm phán đã điều tra thì không được xét xử. Như vậy, trong tổ chức của Tòa án sẽ phải có một bộ phận, một đơn vị hay một tổ chức nào đó có biên chế các Thẩm phán chuyên điều tra. Đó là các Thẩm phán "đứng" chứ không phải Thẩm phán "ngồi". Mặc dù BLTTHS cũng đã có quy định về việc Thẩm phán trả hồ sơ để điều tra bổ sung ở giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa, nhưng quy định mới này của Luật tổ chức Tòa án nhân dân cũng đặt ra vấn đề phải quy định thêm quyền điều tra của Thẩm phán tại Điều 42 dự thảo BLTTHS, đồng thời cũng đặt ra các thủ tục để Thẩm phán tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ. Trong trường hợp kết quả điều tra của Thẩm phán vẫn không làm sáng tỏ được vụ án thì giải quyết thế nào? Có thể có hai trường hợp xảy ra, đó là:

- Một là: Tòa án đưa vụ án ra xét xử nếu không còn quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung (Tòa án chỉ trả được hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần).

- Hai là: Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu còn quyền điều tra. Như đã nêu ở trên, Thẩm phán được phân công xét xử vụ án không có quyền điều tra, nếu qua nghiên cứu hồ sơ vụ án hoặc tại phiên tòa mà thấy cần điều tra bổ sung (xác minh, thu thập chứng cứ) thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa sẽ yêu cầu Thẩm phán "đứng" điều tra. Đây là một quy định mới nhưng theo chúng tôi sẽ tạo ra sự cồng kềnh, kéo dài vụ án và kém hiệu quả và trách nhiệm của Tòa án là hết sức nặng nề, đặc biệt là trong trường hợp xét xử có oan sai.

- Điều 45: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm tra viên

Trong thực tiễn, nhiều trường hợp các Tòa án sử dụng Thẩm tra viên làm thư ký tại các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm điểm c khoản 1 điều này: "Có thể làm thư ký phiên tòa".

- Điều 46: Những trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng

Từ chối hoặc thay đổi người tiến hành tố tụng nhằm đảm bảo sự vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, những người thân thích với nhau không nên cùng giải quyết một vụ án. Ví dụ như em ruột là Điều tra vụ án, anh ruột là Thẩm phán xét xử vụ án đó hoặc làm Kiểm sát viên trong vụ án đó. Tức là những người thân thích với nhau không được là người tiến hành tố tụng trong cùng một vụ án. Do đó, chúng tôi đề nghị bổ sung thêm quy định này trong Điều 46.

- Điều 48 và Điều 49: Thay đổi điều tra viên và Thay đổi kiểm sát viên

Theo quy định tại Điều 50 "Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm" thì Thẩm phán, Hội thẩm phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu trước đó đã là người tiến hành tố tụng (tham gia xét xử) tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Đó là những trường hợp mà vụ án bị hủy để điều tra hoặc xét xử lại "với thành phần Hội đồng xét xử khác" nhằm đảm bảo việc xét xử được vô tư, khách quan. Thế nhưng, Điều 48 và Điều 49 lại không có quy định tương tự đối với Điều tra viên và Kiểm sát viên. Trường hợp vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại nếu Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên vẫn tiếp tục được điều tra hoặc kiểm sát điều tra, thực hành quyền công tố thì có đảm bảo vô tư, khách quan trong giải quyết vụ án không? Trong thực tiễn đã xảy ra những trường hợp vì bảo vệ quan điểm của cá nhân hoặc vì một lý do không trong sáng nào đó mà Điều tra viên, Kiểm sát viên không vô tư, khách quan, dẫn tới những sai lầm nghiêm trọng trong truy tố và trong xét xử. Ví dụ như vụ án ông Nguyễn Văn Chấn hay vụ án "Vườn điều". Do vậy, khi vụ án bị hủy để điều tra lại, xét xử lại thì Điều tra viên, Kiểm sát viên của vụ án đó cũng phải bị thay đổi hoặc phải từ chối tiến hành tố tụng. Mặt khác, đối với những trường hợp mà Tòa án trả hồ sơ vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; ví dụ như vi phạm nghiêm trọng được hướng dẫn tại điểm n khoản 2 Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của VKSNDTC-BCA-TANDTC hướng dẫn về thi hành các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung có nội dung "Có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật”, nếu không quy định thay đổi Điều tra viên thì việc xét xử sai cũng là chuyện khó tránh khỏi. Mặt khác, không chỉ trường hợp lời khai của bị can mà có thể cả lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ hoặc người tham gia tố tụng khác như người làm chứng cũng có thể bị mớm cung, bị đe dọa hoặc cưỡng bức phải khai không đúng sự thật; do đó, phải quy định trả hồ sơ điều tra bổ sung trong cả những trường hợp này. Ngoài ra, không có trường hợp nào vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà lại không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Nếu theo khoản 2 của Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2010 "những trường hợp sau đây được coi là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự" thì từ điểm a đến điểm p là những vi phạm nghiêm trọng tố tụng hình sự và đều trực tiếp xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng. Khoản 3 Điều 4 của Thông tư liên tịch 01/2010 hướng dẫn "Viện kiểm sát, Tòa án không trả hồ sơ để điều tra bổ sung" mặc dù có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng "theo hướng dẫn tại khoản 1 và được cụ thể hóa tại khoản 2 Điều này" là không thỏa đáng. Tòa án không thể sử dụng những tài liệu, chứng cứ được thu thập do vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, trái quy định về pháp luật tố tụng hình sự làm căn cứ, chứng cứ để xét xử vụ án. Nếu không được trả hồ sơ thì chỉ có thể hoặc là xét xử sai hoặc là bỏ lọt tội phạm.

4. Chương IV: Người tham gia tố tụng

- Điều 52 và Điều 53: Người bị bắt và người bị tạm giữ

Cần có quy định về "quyền im lặng" tại cả hai điều luật này để phù hợp và cụ thể hơn quy định tại khoản 2 Điều 9 Dự thảo BLTTHS. Lập luận về vấn đề này, chúng tôi đã nêu tại nội dung " Điều 9" của bài viết.

- Điều 54: Bị can

Để đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo, nhất là đối với những trường hợp mà họ không nhờ người bào chữa, tự bào chữa thì việc quy định quyền được đọc, ghi chép, sao chụp các tài liệu trong hồ sơ của vụ án sau khi đã kết thúc điều tra là cần thiết. Quy định này không chỉ đảm bảo quyền bào chữa mà còn đảm bảo quyền được khiếu nại về quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng hoặc người tiến hành tố tụng.

- Điều 55: Bị cáo

Điểm b khoản 2 của điều luật được sửa từ "tham gia phiên tòa" sang "có mặt tại phiên tòa". Chúng tôi không đồng tình với việc sửa đổi này vì có mặt tại phiên tòa là nghĩa vụ quy định tại khoản 3 của điều này. Khoản 2 của điều này quy định về quyền chứ không phải là nghĩa vụ. Bị cáo có quyền tham gia phiên tòa, Tòa án phải triệu tập họ đến phiên tòa, nếu Tòa án không thực hiện đúng việc triệu tập bị cáo đến phiên tòa thì Tòa án không được xét xử vắng mặt họ. Tức là phiên tòa phải hoãn xử vì chưa triệu tập hợp lệ đối với bị cáo. Do đó, chúng tôi đề nghị giữ nguyên Điều này của BLTTHS năm 2003.

- Điều 56: Bị hại

Khoản 1 quy định: "Bị hại gồm cá nhân bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra”.

Sửa đổi lớn của điều luật này là khái niệm về người bị hại. Nếu theo khái niệm tại Điều 51 BLTTHS năm 2003 thì người bị hại là cá nhân, còn theo Điều 56 của Dự thảo BLTTHS thì người bị hại sẽ còn bao gồm cả cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra. Suy cho cùng thì uy tín cũng là tinh thần, thiệt hại về tinh thần của cá nhân cũng có thể là thiệt hại về uy tín (chẳng hạn việc bị vu khống, tố cáo sai sự thật để triệt hạ uy tín, người bị hại vừa bị thiệt hại về uy tín, vừa bị thiệt hại về tinh thần). Như vậy, việc quy định trong điều luật có sự trùng lặp.

Theo quy định tại khoản 5 của điều này thì: "Bị hại nếu từ chối hoặc trốn tránh việc khai báo, giám định, cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của BLHS". Cơ quan, tổ chức là pháp nhân, pháp nhân thì không bị truy cứu trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp đó là pháp nhân kinh tế, thương mại vi phạm pháp luật trong một số tội phạm cụ thể quy định trong Bộ luật hình sự (sửa đổi). Cơ quan, tổ chức khi tham gia tố tụng với tư cách là bị hại thì không thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 5 điều luật này và cũng không thể bị dẫn giải theo quy định tại khoản 4 của điều luật này.

Điều 57 Dự thảo BLTTHS quy định "Nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại". Vậy khi cơ quan, tổ chức là nguyên đơn dân sự có thiệt hại thì thiệt hại này có khác gì với thiệt hại nếu cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại trong vụ án không? Thiệt hại của cơ quan, tổ chức do tội phạm gây ra trong vụ án là một, như vậy trường hợp nào thì cơ quan, tổ chức được xác định là bị hại và trường hợp nào được xác định là nguyên đơn dân sự? Chắc chắn là trong một vụ án, cơ quan, tổ chức không thể được xác định cả hai tư cách tham gia tố tụng, vừa là bị hại, vừa là nguyên đơn dân sự khi mà có cùng một thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần.

Ngoài ra, trong dự thảo BLTTHS có rất nhiều điều luật vẫn giữ nguyên thuật ngữ "người bị hại" và cũng rất nhiều điều luật sửa thành “bị hại” (ví dụ vẫn giữ "người bị hại" tại các Điều 7, Điều 5a, Điều 36, Điều 46, Điều 67a, Điều 188, Điều 204, Điều 401, Điều 402…)

Trong thực tiễn xét xử có rất nhiều trường hợp người bị hại bị mất tích hoặc được coi như đã chết, chẳng hạn trong các vụ án mua bán người; mua bán, chiếm đoạt, đánh tráo trẻ em. Khoản 6 của Điều luật này chỉ quy định "trường hợp bị hại là cá nhân bị chết thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền quy định tại Điều này" là chưa phù hợp thực tiễn. Chúng tôi đề nghị cần sửa khoản 6 Điều này theo hướng: "Trường hợp người bị hại là cá nhân bị chết, bị mất tích hoặc là trẻ em thì người đại diện hợp pháp của họ có những quyền quy định tại Điều này".

Với những phân tích trên, chúng tôi cho rằng cần giữ nguyên khái niệm về người bị hại, không nên quy định người bị hại bao gồm cả cơ quan, tổ chức. Khoản 4 của Điều luật này còn bổ sung quy định "trường hợp cố ý vắng mặt hoặc có hành vi cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải". Quy định này vừa có phần "khắt khe" với người bị hại là cá nhân, vừa không khả thi đối với trường hợp là cơ quan, tổ chức.

Thực tiễn trong rất nhiều năm qua, mặc dù BLTTHS quy định người bị hại có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 308 của BLHS nếu từ chối khai báo mà không có lý do chính đáng, nhưng chưa có trường hợp nào bị xử lý theo quy định này. Chúng tôi cho rằng đây là một quy định không hợp lý đối với người bị hại vì họ là người bị hại. Bị can, bị cáo có quyền im lặng, có quyền không khai báo, không cung cấp tài liệu… và không bị xử lý trách nhiệm hình sự; ngược lại, người bị hại là người bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do hành vi phạm tội của bị can, bị cáo gây ra thì lại bị xử lý trách nhiệm hình sự. Điều luật này không có tính khả thi, do đó, chúng tôi đề nghị bỏ quy định này.

5. Chương V: Chứng cứ và chứng minh

- Quy định về nguồn chứng cứ

Chúng tôi đề nghị bổ sung nguồn chứng cứ bao gồm "người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người đã chết hoặc mất tích" bởi họ cũng là người tham gia tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng phải đảm bảo cho họ thực hiện các quyền của mình như đối với quyền của người bị hại. Đối với nguồn chứng cứ, đề nghị bổ sung thêm nguồn chứng cứ là các dữ liệu của máy tính.

- Quy định về cung cấp chứng cứ

Việc bổ sung về quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa là hoàn toàn cần thiết. Đây là một quy định mới, rất tiến bộ nhằm đảm bảo việc tranh tụng trong quá trình tố tụng hình sự. Tuy nhiên, người bào chữa lại không có quyền gặp bị can, bị cáo là không phù hợp. Thực tiễn thì người bào chữa vẫn gặp, được gặp, có quyền được gặp thân chủ của mình để thu thập chứng cứ từ thân chủ nhằm bào chữa cho họ. Do đó, chúng tôi đề nghị bổ sung vào điều này như sau:

"b. Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng và những người biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp chứng cứ, tài liệu, đồ vật và các tình tiết liên quan đến vụ án".

(Liên quan đến vụ án chứ không phải là liên quan đến việc bào chữa vì người bào chữa thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án và sử dụng những gì thu thập được để bào chữa. Không thể đưa ra Tòa án những chứng cứ, tài liệu, đồ vật không liên quan đến vụ án).

- Quy định về kiểm tra, đánh giá chứng cứ

Khi xác định một chứng cứ nào đó có hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án hay không, các chứng cứ đã đầy đủ chưa thì Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm đều phải kiểm tra chứng cứ đó. Tác nghiệp “kiểm tra” đã nằm trong “đánh giá” và đó là một tác nghiệp đương nhiên. Do đó, Điều luật này không cần phải bổ sung tác nghiệp "Kiểm tra" và nên giữ nguyên tên của Điều luật này là "Đánh giá chứng cứ"

Điều luật này đã bổ sung khoản 3 về quyền đánh giá chứng cứ của người bào chữa đối với các chứng cứ do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án đã thu thập. Đây là một quy định mới, tiến bộ. Tuy nhiên, người bào chữa còn có thể có quyền đánh giá chứng cứ của người bào chữa là "đối phương" hoặc của những người tham gia tố tụng khác chứ không chỉ của các cơ quan tiến hành tố tụng. Người bào chữa có quyền đánh giá chứng cứ của các cơ quan tiến hành tố tụng, của người bào chữa là "đối phương" của những người tham gia tố tụng thì ngược lại các chứng cứ mà người bào chữa thu thập cũng phải được các cơ quan tiến hành tố tụng, người bào chữa "đối phương" và những người tham gia tố tụng đánh giá. Nếu quy định rõ điều này trong tố tụng thì sẽ thể hiện rõ nét hơn quyền tranh tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam.

- Quy định về tạm giam

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án sửa đổi, bổ sung Điều 88 của BLTTHS năm 2003 về tạm giam. Tạm giam là biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc nhất nên việc áp dụng biện pháp này cần hết sức thận trọng và chỉ áp dụng trong những trường hợp thật sự cần thiết nhằm tránh việc bắt, tạm giam để thuận tiện cho điều tra. BLHS đang được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung theo hướng giảm bớt các quy định và hạn chế áp dụng hình phạt tù. BLTTHS là luật hình thức cũng cần phải thể hiện để phù hợp với Luật nội dung. Do vậy, chúng tôi cho rằng không nên bỏ quy định chỉ có thể áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm như dự thảo về điều luật này của phương án 1. Vì thế, chúng tôi đồng tình với phương án 2 của Dự thảo.

- Quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú

Khoản 2 quy định "Những người quy định tại khoản 1 Điều 87 của Bộ luật này, Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú".

Quy định này không rõ ràng vì sẽ được hiểu là tất cả Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp đều có quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho dù họ có được phân công hay không được phân công giải quyết vụ án. Theo chúng tôi nếu hiểu theo nghĩa này và quy định đúng theo cách hiểu này thì quá rộng và dễ dẫn tới tùy tiện khi áp dụng. Vì vậy, cần phải quy định những người này chỉ có quyền khi được phân công giải quyết vụ án.

Mặt khác, quyền ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa được chuyển về điểm c khoản 2 Điều 89 (Dự thảo) là điều quy định về "Bắt bị can, bị cáo để tạm giam" chứ không phải là quyết định về “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Dự thảo BLTTHS không có điều luật nào quy định về   quyền ra lệnh “Cấm đi khỏi nơi cư trú” của Thẩm phán được phân công làm Chủ tọa phiên tòa. Kiểm tra toàn bộ dự thảo BLTTHS đều không có? Chắc chắn đây là quyền không thể bỏ đi của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và phải được quy định tại BLTTHS.

Mặt khác, khi điều luật quy định quyền ra lệnh "Cấm đi khỏi nơi cư trú" của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp thì vì lý do gì không quy định những quyền này cho Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án cấp cao? Rõ ràng đây là một thiếu sót của điều luật và cần được sửa đổi. Với những lập luận trên, chúng tôi đề nghị sửa đổi về quy định này như sau:

"Những người quy định tại khoản 2 Điều 89 của Bộ luật này, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm sát viên cao cấp, Điều tra viên cao cấp, Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền ra lệnh Cấm đi khỏi nơi cư trú".

- Quy định về bảo lĩnh

Việc bỏ quyền ra quyết định bảo lĩnh của Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa và không quy định quyền này của Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao là không hợp lý. Các lý do không hợp lý và đề nghị sửa đổi tương tự như đã phân tích ở quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú.

- Quy định về đặt tiền để bảo đảm

Dự thảo BLTTHS đề ra hai phương án. Sự khác nhau của hai phương án này chỉ ở chỗ có quy định được đặt tài sản không. Phương án 1 là không cho đặt tài sản, phương án 2 là có cho đặt tài sản. Chúng tôi xin có một số ý kiến về các nội dung sửa đổi về Điều 93 BLTTHS năm 2003 như sau:

Một là: Nếu luật chỉ quy định được đặt tiền mà không được đặt tài sản sẽ dẫn tới nhiều trường hợp người dân (cha mẹ, người thân thích của bị can, bị cáo) hoặc bị can, bị cáo phải bằng mọi cách bán tài sản để có tiền đặt. Việc phải “ bán chạy” tài sản gây thêm thiệt hại cho họ nhất là đó lại là tài sản có giá trị. Do đó cần quy định được đặt tài sản có giá trị để bảo đảm. Việc giải quyết tài sản có giá trị đem đặt như thế nào thì trong Điều luật này (khoản 7) đã quy định do “Chính phủ chủ trì, phối hợp với TAND tối cao, VKSND tối cao quy định chi tiết trình tự, thủ tục, mức tiền hoặc tài sản phải đặt để bảo đảm…”

Hai là: Khoản 2 Điều này bỏ thẩm quyền của Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa vì lý do đã bổ sung vào khoản 1 Điều 89 là không đúng vì trong khoản 1 Điều 89 không có quy định này và đó là điều luật quy định về “ Bắt bị can, bị cáo”. Kiểm tra lại quy định tại Điều 42 “nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán” cũng không thấy có quy định quyền ra quyết định này cũng như quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú và bảo lĩnh. Do đó, cũng giống như phân tích ở quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú, chúng tôi đề  nghị giữ nguyên quy định này của Điều 93 BLTTHS năm 2003 hoặc đưa các quyền của Thẩm phán tương ứng với các quy định về vấn đề này tại BLTTHS thì phù hợp hơn.

Ba là: Nếu bổ sung thẩm quyền ra quyết định của Kiểm sát viên VKSND tối cao, Kiểm sát viên cấp cao, Điều tra viên cao cấp thì cũng cần bổ sung thẩm quyền của Thẩm phán TAND tối cao, Thẩm phán TAND cấp cao.

- Quy định về hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn

Về cơ bản, chúng tôi đồng tình với việc bổ sung tại khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này vì rất chặt chẽ và thể hiện trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân khi họ bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn. Tuy nhiên, dự thảo BLTTHS cũng đã bổ sung quyền miễn truy tố của Viện kiểm sát tại Điều 24. Do đó, khi bị can được miễn truy tố thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng với họ đều phải được hủy bỏ. Vì vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung trường hợp “bị can được miễn truy tố” vào khoản 1 Điều luật này. Cụ thể là:

Khi vụ án bị đình chỉ, bị can, bị cáo được đình chỉ; bị can được miễn truy tố; bị cáo được Tòa án tuyên bố không phạm tội thì mọi biện pháp ngăn chặn đã áp dụng đều phải được hủy bỏ” (Theo chúng tôi phải sử dụng cụm từ “tuyên bố không phạm tội”, không nên dùng cụm từ “Tòa án tuyên vô tội” vì cụm từ này không chính xác và không được sử dụng trong các điều luật khác của Bộ luật này).

- Quy định về kê biên tài sản

Khoản 1 của Điều luật bổ sung nội dung: “Kê biên tài sản cũng được áp dụng đối với tài sản đang do người khác quản lý nếu có căn cứ cho rằng tài sản này có được do hành vi phạm tội của bị cáo”; có nghĩa là tài sản đang do người khác quản lý nhưng có căn cứ để xác định đó là do phạm tội mà có thì mới được kê biên. Theo chúng tôi, không chỉ “tài sản do phạm tội mà có”, tài sản đó là tài sản của bị can, bị cáo phạm tội, mà BLHS quy định có thể bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ, hoặc có thể bị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung thì vẫn có thể kê biên để đảm bảo thi hành án. Do đó chỉ cần chứng minh tài sản do người khác đang quản lý là tài sản của bị can, bị cáo là các cơ quan tiến hành tố tụng đã có quyền kê biên. Nếu quy định như dự thảo thì rất khó khăn cho việc điều tra để chứng minh tài sản đó là do phạm tội mà có.

Khoản 4 của Điều luật này bổ sung nội dung: “có thể để cho người bào chữa tham dự việc kê biên tài sản”. Quy định này không phù hợp với quy định về “Quyền và nghĩa vụ của người bào chữa” có nội dung người bào chữa có quyền: “Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên, hoặc Kiểm sát viên đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can. Có mặt khi cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức khám nghiệm hiện trường, kê biên tài sản, khám người, chỗ ở, chỗ làm việc trong những hoạt động điều tra khác theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, khi các cơ quan tiến hành tố tụng kê biên tài sản thì người bào chữa có quyền tham dự chứ không phải là “có thể để cho người bào chữa tham dự” như quy định tại khoản 4 Điều luật này. Khi người bào chữa có quyền tham dự việc kê biên tài sản thì cơ quan tiến hành tố tụng tổ chức việc kê biên tài sản phải có nghĩa vụ bảo đảm quyền này cho họ chứ không phải là muốn thông báo hoặc không thông báo cũng được. Do đó, khoản 4 của Điều luật này phải sửa là “người bào chữa có quyền tham dự việc kê biên tài sản”.

- Quy định về tạm hoãn xuất cảnh

Đây là một quy định mới và cần thiết được áp dụng trong quá trình tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 3 của Điều luật này thì “khi xét thấy việc tạm hoãn xuất cảnh không còn cần thiết thì người có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều 89 của Bộ luật này phải kịp thời ra quyết định giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh”.

Chúng tôi xin có ý kiến như sau:

Một là: Luật không quy định thời hạn tạm hoãn xuất cảnh, có nghĩa là chỉ khi nào xét thấy việc tạm hoãn xuất cảnh không còn cần thiết, người có thẩm quyền không áp dụng quyết định này nữa thì những người quy định tại khoản 1 của Điều này mới được xuất cảnh. Quy định này không rõ ràng bởi lệ thuộc hoàn toàn vào ý thức chủ quan của người có thẩm quyền ra quyết định và có thể xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân. Luật không nên có quy định mang tính áp đặt chủ quan và không có giới hạn về thời gian. Giả sử vụ án bị kéo dài không phải do lỗi chủ quan của những người quy định tại khoản 1 của Điều luật này mà do lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng hoặc của người có thẩm quyền ra quyết định thì họ sẽ phải chịu việc hạn chế tự do.

Trong biện pháp cưỡng chế bắt tạm giam cũng phải có thời hạn, hết thời hạn tạm giam luật quy định thì phải trả tự do. Biện pháp này cũng cần và rất cần thời hạn, không thể không có thời hạn như dự thảo được.

Hai là: Khoản 3 dùng thuật ngữ “giải tỏa tạm hoãn xuất cảnh” – một thuật ngữ hết sức mới, lần đầu tiên được sử dụng trong BLTTHS. Theo chúng tôi hiểu đây là việc người có thẩm quyền ban hành biện pháp cưỡng chế này ra quyết định hủy bỏ quyết định hoặc thay đổi biện pháp này bằng một biện pháp khác. Nếu đúng như chúng tôi hiểu thì đề nghị nên sử dụng thuật ngữ hủy bỏ quyết định tạm hoãn xuất cảnh thì đúng hơn và đảm bảo sự thống nhất về việc sử dụng thuật ngữ trong cùng một văn bản pháp luật.

Ba là: Theo chúng tôi không thật cần thiết phải quy định biện pháp tạm hoãn xuất cảnh vì đây là trường hợp bị can, bị cáo được tại ngoại và họ đã bị cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, điều này cũng có nghĩa là họ không được xuất cảnh nếu không được sự cho phép của các cơ quan tiến hành tố tụng (đã ra quyết định này). Biện pháp tạm hoãn xuất cảnh chỉ đúng với trường hợp là người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Nếu quy định đây là nghĩa vụ của người làm chứng, người có nghĩa vụ liên quan trong quy định về quyền và nghĩa vụ của họ thì không cần thiết phải quy định thành một điều luật riêng về vấn đề này.

6. Chương VII: Bào Chữa

- Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa.

Đề nghị bổ sung vào quy định tại điểm d khoản 1 điều này về quyền của người bào chữa, đó là quyền được đề nghị hủy bỏ một số biện pháp cưỡng chế như: áp giải, dẫn giải, kê biên tài sản, phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng hoặc kho bạc nhà nước, tạm hoãn xuất cảnh và phạt tiền. Các biện pháp cưỡng chế này là những biện pháp trực tiếp tác động đến quyền con người và đương nhiên người bào chữa có quyền đề nghị các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, giải quyết.

Về nghĩa vụ của người bào chữa có một vấn đề đặt ra là trong quá trình thực hiện các tác nghiệp của mình nếu người bào chữa biết thân chủ còn có các hành vi phạm tội nghiêm trọng khác thì họ có nghĩa vụ phải tố giác không? Hiện nay, có hai quan điểm về vấn đề này:

- Quan điểm thứ nhất cho rằng: người bào chữa không có nghĩa vụ phải tố giác vì nếu tố giác thì mất đi ý nghĩa của bào chữa và đó là nghề nghiệp của người bào chữa.

- Quan điểm thứ hai cho rằng: người bào chữa cũng phải có nghĩa vụ chấp hành, tuân thủ pháp chế; nghĩa là người bào chữa phải có trách nhiệm tố giác tội phạm, nếu họ không tố giác những hành vi phạm tội được quy định tại Điều 313 BLHS thì phải chịu trách nhiệm hình sự. Chúng tôi đồng tình với quan điểm này và đề nghị cần quy định nội dung này trong dự thảo BLTTHS.

- Quy định về việc chỉ định người bào chữa.

Khoản 3 điều luật này quy định: “3. Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có nhược điểm về thể chất và không thể tự mình thực hiện được quyền và nghĩa vụ bào chữa”.

Bào chữa là quyền, hoàn toàn không phải là nghĩa vụ phải thực hiện quyền này. Điều luật này quy định các cơ quan tiến hành tố tụng phải bảo đảm quyền bào chữa cho người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo khi họ là các đối tượng quy định tại điều luật này. Do vậy, chúng tôi đề nghị bỏ quy định về “nghĩa vụ” trong dự thảo BLTTHS.

Mặt khác, đề nghị bổ sung vào đoạn 1 nội dung: “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” vì các cơ quan này khi bắt, tạm giữ cũng phải bảo đảm quyền bào chữa của người bị bắt, người bị tạm giữ.

- Quy định về thay đổi hoặc từ chối người bào chữa.

Đề nghị bổ sung vào điểm a và b khoản 3 Điều luật này nội dung “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” như đã lập luận ở Điều 112 dự thảo BLTTHS.

- Quy định về trách nhiệm thông báo cho người bào chữa.

Đề nghị bổ sung trách nhiệm của “cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” vào khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này.

- Quy định về “Đề nghị thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật; đề nghị triệu tập người làm chứng” và “ Thu thập, giao nộp chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa”.

Đây là hai điều luật mới, rất tiến bộ, thể hiện sâu sắc nguyên tắc tranh tụng, đảm bảo quyền tranh tụng, nâng cao vai trò, vị trí của người bào chữa trong hoạt động tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo thực hiện tốt việc bảo vệ quyền con người. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với những quy định tại hai điều luật này, đặc biệt là quy định tại khoản 2 Điều 119 “Người bào chữa tự mình thu thập chứng cứ sau khi đã đề nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thu thập mà không được chấp nhận”.

Tuy nhiên, trong hai điều luật có những quy định trùng lặp và cần được sửa lại. Chẳng hạn quy định tại khoản 3 Điều 122 trùng với quy định tại khoản 1 Điều 121.

Mặt khác trong cả hai điều luật này cũng cần bổ sung trách nhiệm của “Cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra” như đã trình bày tại phần trên.

7. Chương VIII: Giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

- Quy định về yêu cầu giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

Cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do hành vi phạm tội trực tiếp gây ra quy định tại khoản 1 Điều luật này nếu theo sửa đổi tại Điều 56 dự thảo BLTTHS là bị hại. Điều 56 dự thảo và Điều 51 BLTTHS năm 2003 cũng chỉ quy định thiệt hại về vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra chứ không quy định là do “hành vi phạm tội trực tiếp gây ra”. Do đó, nên quy định như khái niệm tại Điều 56 về bị hại để phù hợp và chính xác.

Theo khoản 2 của Điều luật này thì “Cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự theo quy định tại Điều 162 BLTTDS có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tập thể, lợi ích của Nhà nước”.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 56 BLTTDS thì cơ quan, tổ chức này là nguyên đơn. Như vậy, cơ quan, tổ chức càng không thể vừa là nguyên đơn vừa là bị hại trong cùng vụ án hình sự (như đã trình bày tại Điều 56 dự thảo BLTTHS trong bài viết này).

8. Chương IX: Biên bản, thời hạn, chi phí tố tụng.

- Quy định về tính thời hạn

Chúng tôi đồng tình với phương án 2 của Dự thảo BLTTHS về Điều luật này. Việc quy định “Nếu thời hạn được tính bằng tháng thì một tháng được tính là ba mươi ngày”, nếu tính thống nhất như quy định này thì thời hạn trong các điều luật khác của BLTTHS cũng cần phải thống nhất. Chẳng hạn như quy định tại Điều 338 dự thảo BLTTHS thì khoản 1 quy định là 02 tháng, khoản 2 và khoản 3 lại quy định là 30 ngày…

Mặt khác, cũng cần thống nhất về cách viết thời hạn vì trong Bộ luật, có Điều luật thì viết bằng số (30 ngày, 02 tháng), có Điều luật thì viết bằng chữ “ba mươi ngày”… Theo chúng tôi, các văn bản pháp luật cần phải thật chính xác, dễ đọc, dễ hiểu, tránh sự nhầm lẫn. Nếu viết bằng số có thể dễ nhầm lẫn hoặc không phù hợp với trình độ dân trí thấp. Nếu viết bằng chữ vừa đảm bảo chính xác vừa đảm bảo dễ đọc, dễ hiểu và không thể nhầm lẫn.

9. Chương X: Cấp, giao, gửi, thông báo các văn bản tố tụng

- Quy định về nghĩa vụ cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng

Cần quy định thêm nghĩa vụ của các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra mới đầy đủ

- Quy định về các phương thức cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng

Khoản 1 quy định: 1.“Cấp, giao, gửi thông báo trực tiếp, qua bưu điện việc cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng theo quy định tại khoản 1 Điều luật này được coi là hợp lệ” (theo quy định của Điều 134 dự thảo BLTTHS). Như vậy, việc cấp, giao, gửi văn bản tố tụng qua bưu điện cũng được coi là hợp lệ. Các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra chỉ cần gửi các văn bản tố tụng của mình qua bưu điện, không cần biết người có quyền được nhận các văn bản tố tụng này có nhận được hay không là không phù hợp với thực tiễn. Ví dụ khi Tòa án gửi văn bản tố tụng (quyết định đưa vụ án ra xét xử, triệu tập bị cáo tại ngoại đến Tòa án…) qua bưu điện mà không rõ họ đã nhận được chưa thì Tòa án cũng không được xét xử vắng mặt. Nghiên cứu các quy định khác tại Chương X của Dự thảo BLTTHS cũng không thấy có quy định nào chặt chẽ về việc cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng qua bưu điện. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc quy định cấp, giao, gửi hoặc thông báo văn bản tố tụng qua bưu điện. Vì vậy, chúng tôi cho rằng việc quy định cấp, giao, gửi hoặc thông báo bằng văn bản tố tụng qua bưu điện là không hợp pháp vì lý do trên và còn vì bưu điện không có nghĩa vụ phải thực hiện việc này.

Trong thực tiễn, chỉ những trường hợp gửi qua bưu điện bằng gửi đảm bảo và khi bưu điện giao lại biên lai về nhận gửi đảm bảo thì được tạm coi là hợp lệ. Sở dĩ chỉ là tạm coi là hợp lệ bởi cũng chưa chắc chắn là việc cấp, giao, gửi các văn bản tố tụng đó có đúng là đã đến tay người nhận không. Nếu coi gửi qua bưu điện bằng gửi bảo đảm là hợp lệ thì cần quy định thêm trong khoản 1 Điều 133 là “qua bưu điện bằng gửi bảo đảm” thì sẽ chặt chẽ hơn.

II. Phần thứ 2: Khởi tố, điều tra vụ án

1. Chương XI: Khởi tố vụ án hình sự

- Quy định về các thông tin về dấu hiệu tội phạm.

Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định là “Căn cứ khởi tố vụ án hình sự” là chặt chẽ hơn so với sửa đổi thành “thông tin về dấu hiệu tội phạm” vì thông tin về dấu hiệu tội phạm chưa hẳn đã là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Mặt khác khi dùng ngôn ngữ “thông tin” thì không thật pháp lý bằng dùng “căn cứ” vì các quy định trong Điều luật này là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự. Điều 100 BLTTHS năm 2003 quy định rất chặt chẽ, khoa học; chúng tôi cho rằng không nên sửa đổi, cần giữ nguyên tinh thần của Điều luật này. Tuy nhiên, trong thực tiễn đã xảy ra một số trường hợp nhận hối lộ của cơ quan tổ chức nước ngoài (vụ đường sắt, Bộ y tế..) mà các thông tin này do nước ngoài cung cấp. Nếu không coi đây là một căn cứ khởi tố vụ án hình sự thì thông tin này không có giá trị pháp lý. Do đó, chúng tôi đề nghị cần bổ sung vào điều luật “Tin báo của cơ quan, tổ chức trong nước hoặc nước ngoài” để phù hợp với thực tiễn, đồng thời cũng phù hợp với quy định sửa đổi của BLHS về việc mở rộng đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực tư.

Nếu đề nghị trên được chấp nhận thì quy định về “Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị, khởi tố” cũng phải sửa đổi.

- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị, khởi tố.

Liên quan đến quyền con người, quyền công dân trong việc bắt, giữ, giam, khám xét người, nơi ở, thư tín… Có nhiều ý kiến cho rằng mọi trường hợp này đều nên giao thẩm quyền cho Tòa án. Tòa án phê chuẩn, không phê chuẩn thì phù hợp hơn và nhiều nước trên thế giới đều giao thẩm quyền này cho Tòa án.

Tuy nhiên, nếu giao thẩm quyền này cho Tòa án thì cũng phải tính đến việc Tòa án phê chuẩn lệnh giam thì khi xét xử sẽ xử giam hoặc ngược lại. Vì vậy, nếu giao thẩm quyền này cho Tòa án thì trách nhiệm của Tòa án nặng nề hơn khi phải bảo đảm gần như tuyệt đối về quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân. Ở nước ta có cơ quan Viện kiểm sát và trong tình hình hiện nay thì giao thẩm quyền này cho Viện kiểm sát là phù hợp.

- Quy định về quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Khoản 1 Điều luật này cần giữ nguyên quy định “Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra” để phù hợp với Luật tổ chức TAND.

- Quy định về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại

Nếu quy định bị hại bao gồm cả cơ quan, tổ chức thì quy định này không dành cho đối tượng này vì các tội danh quy định trong điều luật thì chỉ cá nhân mới là người bị hại.

Khoản 1 cần bổ sung thêm trường hợp người bị hại bị mất tích hoặc coi như là đã chết (như đã phân tích ở Điều 56 dự thảo BLTTHS)

Khoản 2 “Trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 điều này thì vụ án phải được đình chỉ”.

Khi luật đã quy định quyền khởi tố vụ án hình sự đối với một số tội phạm xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe (BLHS sửa đổi sẽ quy định mở rộng hơn đối với các tội phạm do lỗi vô ý xâm phạm đến tính mạng và cả các tội phạm ít nghiêm trọng xâm hại về tài sản, nếu có sự thỏa thuận đền bù thiệt hại và người bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự thì các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ miễn trách nhiệm hình sự). Theo hướng này thì quyền của người bị hại được tôn trọng hơn và cũng giảm bớt các vụ án hình sự. Khi đã đề cập đến quyền khởi tố vụ án hình sự thì cũng phải đề cập đến việc rút yêu cầu khởi tố. Viện kiểm sát khởi tố, truy tố và có quyền rút quyết định này kể cả khi Tòa án đã mở phiên tòa (Điều 290 Dự thảo BLTTHS) thì tại sao lại hạn chế quyền rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại chỉ được thực hiện trước khi mở phiên tòa sơ thẩm? Trong thực hiện, tại phiên tòa sơ thẩm, sau khi xét xử sơ thẩm hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại xin rút yêu cầu khởi tố thì Tòa án vẫn phải xét xử và các Tòa án coi việc rút yêu cầu khởi tố vụ án của người bị hại là tình tiết giảm nhẹ của khoản 2 Điều 46 BLHS. Theo chúng tôi, quy định này không hợp lý và cần sửa đổi theo hướng không hạn chế thời điểm rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của người bị hại để vừa phù hợp với thực tiễn, vừa phù hợp với định hướng sửa đổi BLHS là hướng thiện.

Nếu đề xuất này được chấp nhận thì quy định tại khoản 8 Điều 164 dự thảo BLTTHS cũng phải sửa là: “Đối với những tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 162 Bộ luật này mà bị hại không yêu cầu khởi tố hoặc có yêu cầu khởi tố nhưng đã rút yêu cầu khởi tố trong quá trình tố tụng”.

- Quy định về quyết định không khởi tố vụ án hình sự, quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Điều luật này chỉ có thể áp dụng đối với các trường hợp khởi tố của cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân hoặc một số cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra. Riêng trường hợp khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử lại không phù hợp vì:

Một là: Hội đồng xét xử có quyền khởi tố vụ án chứ không có quyền điều tra vụ án nên không thể biết có căn cứ hay không có căn cứ quy định tại Điều 164 (căn cứ không được khởi tố vụ án và nếu đã khởi tố thì phải ra quyết định hủy bỏ).

Hai là: Sau khi kết thúc phiên tòa thì Hội đồng xét xử vụ án đó không còn quyền hạn để giải quyết bất cứ vấn đề nào khác của vụ án và vì vậy, mặc dù có quyền khởi tố vụ án hình sự nhưng Hội đồng xét xử không có quyền ra quyết định hủy bỏ quyết định khởi tố vụ án.

Để giải quyết vướng mắc này, chúng tôi đề nghị Điều luật này cần sửa đổi theo hướng “trừ trường hợp khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử” hoặc nếu giữ nguyên điều này thì phải sửa Điều 161 dự thảo BLTTHS theo hướng việc giải quyết quyết định khởi tố vụ án hình sự của Hội đồng xét xử do Viện kiểm sát quyết định.

- Quy định về thời hạn điều tra.

Trong thực tiễn có nhiều vụ án rất phức tạp, không chỉ liên quan đến trong nước mà còn liên quan đến nước ngoài (tội phạm xuyên quốc gia). Chẳng hạn như các vụ án về tội rửa tiền, ma túy, mua bán người… ở một số nước, các vụ án phức tạp này nhiều khi không có thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Nếu Luật quy định cứng nhắc các thời hạn này thì không thể thực hiện được và luôn luôn trong tình trạng phải “chạy đua” với thời gian hoặc thu hẹp diện điều tra để đảm bảo về thời hạn. Vì vậy chúng tôi đề nghị BLTTHS cần có quy định mở rộng thời hạn đối với các vụ án đặc biệt. Thẩm quyền phê chuẩn thời hạn kéo dài điều tra do Viện trưởng VKSND tối cao quyết định; thời hạn kéo dài thời hạn xét xử do Chánh án TAND tối cao quyết định.

Tuy nhiên, do kéo dài thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sẽ liên quan đến thời hạn tạm giam và những trường hợp tạm giam kéo dài đặc biệt này cũng phải do Viện trưởng VKSND tối cao, Chánh án TAND tối cao quyết định.

2. Chương XIV: Hỏi cung bị can

- Quy định về Biên bản hỏi cung bị can

Dự thảo khoản 1 của Điều luật này bỏ đoạn “Nếu việc hỏi cung được ghi âm thì sau khi hỏi cung, phải phát lại để bị can và Điều tra viên cùng nghe. Biên bản phải ghi lại nội dung việc hỏi cung, bị can và Điều tra viên cũng ký xác nhận” của khoản 2 Điều 132 BLTTHS năm 2003.

Theo chúng tôi, không nên bỏ toàn bộ quy định này mà chỉ sửa, bỏ đi quy định trùng với quy định tại khoản 2 của Điều luật. Khi khoản 1 của Điều luật này quy định “Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản, xem lại việc ghi âm, ghi hình” thì cần có quy định bị can có quyền được nghe lại, xem lại việc ghi âm, ghi hình như họ được quyền nghe hoặc tự đọc lại biên bản hỏi cung. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, nếu luật quy định mỗi lần hỏi cung bị can đều phải ghi âm hoặc ghi hình thì hết sức tốn kém trong việc trang bị phương tiện ghi hình, không phải cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra hoặc Viện kiểm sát khi “Kiểm sát việc hỏi cung bị can” đều có thể thực hiện được. Do đó, nên quy định mềm mỏng hơn bằng từ “có thể”.  “Mỗi lần hỏi cung bị can đều phải lập biên bản và có thể ghi âm, ghi hình”. Quy định như vậy sẽ không bắt buộc vừa lập biên bản hỏi cung vừa “đều phải” ghi âm hoặc ghi hình. Vì việc ghi âm hoặc ghi hình có thể được thực hiện nên cần quy định “Nếu việc hỏi cung được ghi âm hoặc ghi hình thì sau khi hỏi cung phải phát lại để bị can và Điều tra viên cùng nghe hoặc xem. Điều tra viên phải lập biên bản về việc nghe hoặc xem này, bị can và Điều tra viên cùng ký xác nhận”.

3. Chương XV: Lấy lời khai người làm chứng, bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Đối chất và nhận dạng.

- Quy định về đối chất

Đối chất là một quy định nhằm làm rõ những mâu thuẫn trong lời khai của hai hay nhiều người về một vấn đề nào đó của vụ án. Biên bản đối chất là một chứng cứ quan trong đề xác định sự thật khách quan của vụ án. Vì vậy hoạt động đối chất phải được tiến hành trong mọi trường hợp khi có mâu thuẫn trong lời khai của hai hay nhiều người tham gia tố tụng. Nếu khoản 1 Điều luật này sửa từ trong mọi trường hợp sang cụm từ “nếu xét thấy cần thiết” tức là không phải mọi trường hợp có mâu thuẫn trong lời khai giữa các bên tham gia tố tụng đều phải đối chất. Quy định được sửa này cũng có nghĩa là Điều tra viên, Kiểm sát viên chỉ thực hiện khi “xét thấy cần thiết” mà không bắt buộc, cũng có nghĩa là quy định tùy nghi. Tùy nghi thường hay đi cùng với tùy tiện vì thực hiện cũng được, không thực hiện cũng được, nhất là đối với một hoạt động tố tụng rất quan trọng là “Đối chất để làm rõ mâu thuẫn, xác định rõ chứng cứ của vụ án” là điều không nên quy định trong tố tụng. Giả sử khi xét xử do không có biên bản đối chất mà mâu thuẫn giữa các lời khai của những người tại phiên tòa không thể làm rõ được thì Tòa án vẫn phải trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung. Do đó, chúng tôi đề nghị giữ nguyên quy định của khoản 1 Điều 138 BLTTS năm 2003.

4. Chương XIX a: Những biện pháp điều tra đặc biệt

Những biện pháp điều tra đặc biệt thực chất là các nghiệp vụ điều tra của cơ quan điều tra, được sử dụng trong các vụ án hình sự. Các biện pháp này ở một góc độ nào đó, theo quy định của Hiến pháp là không được thực hiện bởi xâm phạm đến quyền con người. Cho dù đó là “đặc biệt” thì cũng không nên quy định trong BLTTHS bởi khi đã quy định thì dễ bị lạm dụng và người dân luôn ở trong trạng thái có thể bị xâm phạm quyền tự do, dân chủ từ phía Cơ quan điều tra. Chúng tôi đề nghị bỏ chương này trong dự thảo BLTTHS.

III. Phần thứ ba: Truy tố

1. Chương XX: Những quy định chung

- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của VKSND khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố.

Khoản 7 của Điều luật này quy định “Truy tố bị can trước Tòa án bằng bản cáo trạng hoặc bằng quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn; quyết định không truy tố bị can”. Trong quy định tại điểm b khoản 1 Điều 235 dự thảo BLTTHS quy định “b. Miễn truy tố bị can” và trong quy định tại Điều 243 dự thảo BLTTHS về “Miễn truy tố bị can” đều không đề cập đến “không truy tố bị can” và “miễn truy tố bị can” là hai hoạt động tố tụng hay chỉ là một. Theo chúng tôi bản chất của việc “miễn truy tố bị can” cũng là “không truy tố bị can”. Vì vậy, sử dụng thuật ngữ trong các điều luật nên thống nhất và để tránh việc hiểu khác đi của người dân.

IV. Phần thứ tư: xét xử vụ án hình sự

1. Chương XXIII: Những quy định chung về xét xử

- Quy định về Quyết định đưa vụ án ra xét xử

+ Theo quy định tại Điều 291 dự thảo BLTTHS thì Tòa án có thể xét xử bị cáo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố nhưng phải đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo. Như vậy, Tòa án có thể xử bị cáo ở khung hình phạt nặng hơn so với khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố. Để đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, cần quy định bổ sung vào điểm d khoản 1 của Điều luật này như sau:

“d, Tội danh và điểm, khoản, điều của BLHS mà Viện kiểm sát truy tố đối với hành vi của bị cáo. Trường hợp bị cáo có thể bị xét xử về khoản nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát truy tố thì phải ghi rõ điểm, khoản, điều luật của BLHS”

Sở dĩ chúng tôi bổ sung thêm “điểm” trong quy định này vì “điểm” của khung hình phạt thường là những tình tiết định khung tăng nặng. Bị cáo có quyền được biết trước họ có phạm vào tình tiết định khung tăng nặng hay không để có thể chuẩn bị bào chữa và có hay không có tình tiết tăng nặng (“điểm”) là vấn đề liên quan trực tiếp đến hình phạt.

Giả sử BLTTHS không quy định giới hạn của việc xét xử thì trong quyết định đưa vụ án ra xét xử cũng rất cần và buộc phải cho bị cáo biết họ có thể xét xử về khoản nặng hơn hoặc tội danh nặng hơn để bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo.

+ Điểm e quy định:

“e, Họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, Kiểm sát xét xử tại phiên tòa; họ tên Kiểm sát viên dự khuyết (nếu có)”

Như đã trình bày ở phần trên, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thì không có quyền kiểm sát tại phiên tòa. Công tố là quyền buộc tội, nếu vừa buộc tội lại vừa kiểm sát hoạt động của Hội đồng xét xử, tức là cùng một lúc thực hiện hai chức năng của hai chủ thể khác nhau về quyền là không đúng. Do đó, chúng tôi đề nghị phải bỏ quyền “kiểm sát xét xử” trong quy định này.

+ Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử cần có quy định về việc ghi họ tên người giám định vì theo quy định tại Điều 64 dự thảo BLTTHS họ là người tham gia tố tụng và theo quy định tại Điều luật này thì họ phải từ chối hoặc bị thay đổi nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 64 dự thảo BLTTHS. Theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 55 thì bị cáo có quyền đề nghị thay đổi người giám định. Để đảm bảo cho bị cáo được thực hiện quyền này thì họ phải được biết trước người giám định là ai.

- Quy định về nội quy phiên tòa

Nội quy phiên tòa cần bổ sung thêm quy định cấm mang vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc vào phòng xét xử; Cũng cần có quy định về hoạt động của phóng viên, nhà báo tại phiên tòa để tránh tình trạng lộn xộn hoặc hạn chế quyền tác nghiệp của nhà báo.

- Quy định về vị trí ngồi tại phòng xử án

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 103 Hiến pháp năm 2013 “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo”. Tòa án phải bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, có nghĩa là không chỉ đảm bảo về các nội dung tranh tụng của vụ án mà còn phải đảm bảo cả về hình thức tranh tụng. Tranh tụng tại Tòa án được bảo đảm công khai, dân chủ, bình đẳng giữa các bên tham gia, giữa các bên buộc tội và bên gỡ tội. Sự bình đẳng này trước Tòa án phải được thể hiện ngay ở vị trí ngồi tại phòng xét xử. Ở rất nhiều nước trên thế giới, vị trí ngồi của công tố và luật sư phải ngang hàng với nhau và chỉ nhìn vào đó người ta cảm nhận được tranh tụng dân chủ, bình đẳng.

Khoản 1 Điều luật này quy định:

“1. Phía trên của phòng xử án gồm vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên và Thư ký Tòa án. Hội đồng xét xử ngồi chính giữa; Kiểm sát viên ngồi bên phải, Thư ký ngồi bên trái Hội đồng xét xử”

Khoản 2 quy định:

“2. Phía dưới của phòng xử án gồm vị trí ngồi của những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa.

Người bào chữa ngồi bên trái, người giám định và người phiên dịch ngồi bên phải Hội đồng xét xử…”

Vị trí ngồi theo quy định này không thể hiện và không bảo đảm quyền bình đẳng trong tranh tụng tại phiên tòa khi Kiểm sát viên, người thực hành quyền công tố ngồi trên người bào chữa; điều này không thể hiện tính tranh tụng và bình đẳng theo nguyên tắc của tố tụng hình sự. Mặc dù đây là hình thức phiên tòa nhưng nó chứa đựng và ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử mà Hiến pháp đã quy định. Quy định của khoản 1 và khoản 2 của Điều luật này đã không thể hiện đúng quy định của Hiến pháp. Vì vậy, chúng tôi đề nghị cần phải sửa điều này theo hướng: phía trên của phòng xử án là vị trí ngồi của Hội đồng xét xử; phía dưới của phòng xét xử án là vị trí ngồi như sau: Kiểm sát viên ngồi phía bên phải Hội đồng xét xử; người bào chữa ngồi phía bên trái Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa ngồi bên trái Hội đồng xét xử; người giám định, người phiên dịch ngồi phía bên phải Hội đồng xét xử; bị cáo ngồi trước vành móng ngựa đối diện với Hội đồng xét xử; người bị hại, người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác ngồi ở những hàng ghế đầu tiên trong phòng xử án, những người tham gia phiên tòa ngồi ở những hàng ghế tiếp theo phía sau những người tham gia tố tụng; trong trường hợp cần thiết, để đảm bảo an ninh, trật tự hoặc đảm bảo việc cách ly người tham gia tố tụng, chủ tọa phiên tòa có thể bố trí vị trí ngồi của bị cáo, người bị hại, người làm chứng.

Chúng tôi xin minh họa về vị trí ngồi tại phòng xử án như sau:

 

Hội đồng xét xử

 

Người bào chữa

 

Kiểm sát viên

 

Bị cáo

 

Thư ký Tòa án

 

Người phiên dịch

 

 

Người giám định

Người làm chứng, bị đơn dân sự

 

 

Người bị hại, nguyên đơn dân sự

Người tham dự phiên tòa

 

 

Người tham dự phiên tòa

                                                                                           

- Quy định về Biên bản phiên tòa

+ Khoản 1 của điều luật quy định “… Cùng với việc ghi biên bản, phải ghi âm, ghi hình về diễn biến phiên tòa”. Theo quy định này thì mọi phiên tòa đều phải ghi âm, ghi hình. Đây là một quy định bắt buộc phải thực hiện. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, các Tòa án không thể thực hiện được vì các lý do sau:

Một là: Kinh phí để trang bị các phương tiện này, nhất là ghi hình cho khoảng 2000 phòng xử án là rất lớn. Trong điều kiện kinh tế nước nhà như hiện nay thì đây cũng là một khoản chi khá lớn, không dễ gì đáp ứng.

Hai là: Giả sử nhà nước quan tâm cấp đủ kinh phí để trang bị phương tiện, kỹ thuật này thì cũng phải có người sử dụng, tức là có kỹ thuật viên để ghi hình, trong khi mà biên chế cán bộ của Tòa án lại rất hạn chế. Tính sơ bộ, nếu bố trí người thực hiện việc ghi âm, ghi hình của toàn hệ thống Tòa án cũng phải khoảng 1000 người (các Tòa án lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, mỗi ngày có hàng chục phiên tòa, một người không thể cùng một lúc thực hiện việc ghi hình ở nhiều phiên tòa, nên biên chế phải gấp nhiều lần các Tòa án khác).

Ba là: Thực tiễn cho thấy, ngay ở TAND tối cao, được tổ chức quốc tế hỗ trợ kinh phí xây dựng, trang bị một phòng xét xử với đầy đủ trang thiết bị ghi âm, ghi hình, nhưng rất nhiều năm qua hệ thống này không hoạt động được vì không có cán bộ kỹ thuật. Không sử dụng, để không hàng chục năm hầu như đã hư hỏng, rất lãng phí.

Với những lý do nêu trên, chúng tôi cho rằng không nên quy định có tính bắt buộc mà nên giữ lại quy định trước đây của điều 200 BLTTHS năm 2003. Tức là chỉ quy định “có thể ghi âm, ghi hình”chứ không nên quy định “phải ghi âm, ghi hình”

+ Khoản 4: Cần quy định thêm trường hợp người không biết chữ, người có nhược điểm về thể chất (người khiếm thị), người không biết tiếng Việt có quyền được nghe đọc, nghe dịch và có yêu cầu sửa đổi, bổ sung vào biên bản phiên tòa.

- Quy định về Bản án

+ Điểm d khoản 2 quy định về bản án sơ thẩm

“d, Nhận định của Hội đồng xét xử phải phân tích những chứng cứ xác định có tội và những chứng cứ xác định không có tội, xác định bị cáo phạm tội hay không và nếu bị cáo phạm tội thì phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của Bộ luật hình sự, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và cần phải xử lý như thế nào. Nếu bị cáo không phạm tội thì bản án phải ghi rõ những căn cứ xác định bị cáo không có tội và phải giải quyết việc khôi phục danh dự, quyền và lợi ích hợp pháp của họ”.

Điểm b khoản 3 quy định về bản án phúc thẩm

“b, Tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, nội dung kháng cáo, kháng nghị; nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, những căn cứ để chấp nhận hoặc không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị, điểm, khoản, điều của Văn bản quy phạm pháo luật mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án”.

Như vậy, trong cùng một điều luật thì Bản án sơ thẩm phải nhận định và xác định bị cáo phạm tội gì, theo điểm, khoản, điều nào của BLHS còn Bản án phúc thẩm thì lại nhận định, xác định điểm, khoản, điều của Văn bản quy phạm pháp luật mà Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ để giải quyết vụ án. Quy định đối với việc xét xử, giải quyết vụ án, bản án của Tòa án cấp phúc thẩm là không đúng. Tòa án sơ thẩm hay Tòa án phúc thẩm khi giải quyết, xét xử vụ án hình sự đều phải căn cứ vào BLHS và BLTTHS. Hiện nay BLHS đang được soạn thảo sửa đổi, bổ sung và có những ý kiến nên mở rộng nguồn xử lý vụ án hình sự ở các Luật chuyên ngành khác. Tức là tội phạm và hình phạt không chỉ quy định trong BLHS mà còn có thể được quy định ở các văn bản quy phạm pháp luật khác. Chúng tôi không đồng tình với ý kiến mở rộng nguồn của Luật hình sự. Tội phạm, hình phạt chỉ nên được quy định trong một văn bản quy phạm pháp luật duy nhất, đó là BLHS.

 Giả sử có việc mở rộng nguồn của Luật hình sự thì giữa những quy định về nhận định của Bản án sơ thẩm và Bản án phúc thẩm cũng phải thống nhất về căn cứ áp dụng chứ không được mâu thuẫn như đã nêu ở phần trên.

+ Bản án gốc là bản án mà Hội đồng xét xử đã tuyên án (công bố công khai) và đã có chữ ký của tất cả các thành viên Hội đồng xét xử. Bản án chính là bản án do chủ tọa phiên tòa ký thay mặt Hội đồng xét xử. Bản án sao là bản án được sao từ bản chính. Do vậy, cần có quy định về bản án gốc, bản án chính, bản án sao. Có thể bản án chính và bản án sao không hoàn toàn giống hệt nhau vì bản án chính đã được sửa chữa các lỗi chính tả, nhầm lẫn về số liệu… Theo chúng tôi, Luật nên quy định cho phép Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa được sửa những lỗi này trong bản án và có văn bản đính chính kèm theo; điều này sẽ tạo sự nghiêm túc hơn việc chỉ được sửa, bổ sung bằng văn bản.

- Chúng tôi đề nghị cần bổ sung quy định mang tính nguyên tắc đối với bản án sơ thẩm và phúc thẩm như sau: “…Các quyết định của bản án sơ thẩm hoặc phúc thẩm không được trái với các kết quả biểu quyết của biên bản nghị án”.

- Quy định về phiên dịch tại phiên tòa

Cần quy định thêm trường hợp bị cáo có yêu cầu được nghe dịch về biên bản phiên tòa để họ có thể yêu cầu sửa chữa, bổ sung (như đã nêu ở phần Biên bản phiên tòa). Nếu quy định trong điều luật này thì không cần quy định ở Điều 254 dự thảo BLTTHS hoặc ngược lại. Theo chúng tôi, quy định ở Điều 254 thì hợp lý hơn.

- Quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát khi kiểm sát xét xử

Chúng tôi không đồng tình với quy định này như đã phân tích ở phần Quyết định đưa vụ án ra xét xử. Một số quy định trong điều này như kháng nghị bản án, quyết định có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng của Tòa án nên đưa về điểm e khoản 1 Điều 260 dự thảo BLTTHS “Nhiệm vụ, quyền hạn của viện kiểm sát khi thực hiện quyền công tố”

-Quy định về Kiểm sát tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án là quy định vi phạm, nghiêm trọng nguyên tắc “độc lập và chỉ tuân thủ theo pháp luật” của Hội đồng xét xử.

Quy định về Kiểm sát hoạt động tố tụng hình sự của người tham gia tố tụng, trong đó có người bào chữa là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử mà Hiến pháp 2013 đã quy định. Bên buộc tội không thể, không được áp đặt bất cứ điều gì với bên gỡ tội, đó là bản chất, là cốt lõi của tranh tụng.

-Vì những lí do trên, chúng tôi đề nghị bỏ quy định về Điều 261 dự thảo BLTTHS.

2. Chương XXIV: Xét xử sơ thẩm

- Quy định về chuyển vụ án

Theo quy định về việc chuyển vụ án tại Điều 174 BLTTHS năm 2003 thì Tòa án đã thụ lý vụ án chỉ được chuyển vụ án nếu xét thấy vụ án đó không thuộc thẩm quyền xét xử của mình trong hai trường hợp: (1) Khi vụ án chưa được xét xử và quyết định chuyển vụ án do Chánh án Tòa án quyết định; (2) Nếu vụ án đã đưa ra xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp trên hoặc Tòa án quân sự thì việc chuyển vụ án do Hội đồng xét xử quyết định. Như vậy, nếu vụ án đã đưa ra xét xử thuộc thẩm quyền của Tòa án cùng cấp thì Hội đồng xét xử của Tòa án nhân dân hoặc Tòa án quân sự vẫn phải tiếp tục xét xử vụ án mặc dù biết rõ không thuộc thẩm quyền của Tòa án mình. Hậu quả là bản án đó bị hủy vì vi phạm thẩm quyền xét xử, vụ án bị kéo dài do lỗi của pháp luật, nhưng những người tiến hành tố tụng lại là người phải trực tiếp gánh chịu hậu quả đó.

Vì vậy, chúng tôi đồng tình với việc sửa Điều 174 BLTTHS năm 2003 theo hướng không phân biệt trước khi xét xử hay trong khi xét xử vụ án mà phát hiện vụ án không thuộc thẩm quyền thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án quyết định hoặc thay mặt Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát truy tố. Viện kiểm sát xét thấy việc trả hồ sơ đúng thì hủy cáo trạng (quyết định truy tố) để chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát có thẩm quyền truy tố. Nếu xét thấy việc trả hồ sơ của Tòa án không có căn cứ thì Viện kiểm sát chuyển lại hồ sơ cho Tòa án kèm theo văn bản nêu rõ lý do không chấp nhận việc trả hồ sơ. Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử.

Chúng tôi đề nghị cần quy định rõ hơn trong khoản 2 của Điều luật này đối với trường hợp chuyển hồ sơ vụ án giữa VKSND và VKSQS.

Ví dụ: Nếu VKSND quận A xét thấy thẩm quyền truy tố thuộc VKSQS khu vực B hoặc ngược lại thì thẩm quyền thủ tục chuyển vụ án thế nào? Chuyển trực tiếp hay phải qua Viện kiểm sát cấp trên? Trường hợp Viện kiểm sát được nhận hồ sơ vụ án để truy tố lại xét thấy hồ sơ vụ án đó không thuộc thẩm quyền của mình thì giải quyết thế nào?

- Quy định về thụ lý hồ sơ vụ án

Khoản 2 Điều 269 qui định:“Trong thời gian 24h kể từ khi thụ lý hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án ra quyết định phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa”. Về quy định này, chúng tôi xin nêu ra một số ý kiến sau:

Một là: thời hạn luật quy định để Chánh án phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa là quá ngắn. Trong thực tế không ít trường hợp Chánh án Tòa án phải đi học, đi họp, đi công tác mà Tòa án đó chưa có Phó Chánh án thì chưa thể phân công được, dẫn tới vi phạm pháp luật. Mặt khác, trước khi phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Chánh án cũng phải nghiên cứu sơ bộ hồ sơ vụ án để quyết định phân công Thẩm phán cho phù hợp với khả năng, trình độ, sở trường của Thẩm phán nhằm bảo đảm việc xét xử giải quyết vụ án tốt nhất. Do đó, chúng tôi đề nghị cần quy định là: “Trong 03 ngày làm việc, kể từ khi thụ lý hồ sơ vụ án, Chánh án Tòa án ra quyết định phân công Thẩm phán chủ tọa phiên tòa”.

Hai là: Khi dùng thuật “Thẩm phán chủ tọa phiên tòa”, tức là vụ án đã thụ lý, Chánh án Tòa án đã ra quyết định phân công Thẩm phán thì Thẩm phán này đã là Chủ tọa phiên tòa, tức là vụ án sẽ được đưa ra xét xử. Thực tiễn, họ là chủ tọa phiên tòa, tức là vụ án sẽ được đưa ra xét xử. Tuy nhiên, không phải tất cả các vụ án đã thụ lý đều được kết thúc tại phiên tòa vì trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công có thể ra các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc chuyển vụ án. Những quyết định này có thể chấm dứt việc làm “Chủ tọa phiên tòa” của Thẩm phán được phân công. Do đó, nếu dùng thuật ngữ” quyết định phân công Thẩm phán giải quyết vụ án” thì đúng trong mọi trường hợp vì xét xử nằm trong giải quyết.

- Quy định về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Chúng tôi đồng tình với việc sửa từ “nhận hồ sơ vụ án” thành “thụ lý hồ sơ vụ án” vì nhận hồ sơ không có nghĩa là thụ lý hồ sơ vụ án. Thực tế có nhiều hồ sơ vụ án phức tạp, rất nhiều tài liệu, Tòa án nhận hồ sơ và phải có thời gian để kiểm tra các tài liệu theo bảng kê tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Những trường họp này thường kéo dài nhiều ngày mới thụ lý nếu có đủ điều kiện để thụ lý. Mặt khác nhận hồ sơ, chưa thụ lý thì chưa phát sinh tố tụng tại Tòa án.

Trong thời hạn xét xử, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải ra một trong các quyết định: đưa vụ án ra xét xử; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án. Có lẽ vì theo qui định tại Điều 174 BLTTHS năm 2003 thì thẩm quyền chuyển vụ án không thuộc Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án mà thuộc Chánh án Tòa án nên Luật chỉ quy định trong thời hạn chuẩn bị xét  xử, Thẩm phán chỉ được ra một trong các quyết định nêu trên. Điều 261 dự thảo BLTTHS đã sửa về quy định chuyển vụ án khi không thuộc thẩm quyền và cũng không quy định về thẩm quyền quyết định chuyển vụ án là của Chánh án Tòa án. Do đó, cần bổ sung vào khoản 1 của Điều này Thẩm phán có thẩm quyền “quyết định chuyển vụ án”.

- Quy định về áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn.

 Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với việc giao cho Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có quyền quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn và có quyền ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên tòa mà đến ngày mở phiên tòa, thời hạn tạm giam đã hết.

Tuy nhiên theo trình tự tố tụng thì sau khi nhận được hồ sơ giải quyết, Thẩm phán phải nghiên cứu hồ sơ vụ án để xác định mình có được giải quyết vụ án hay phải từ chối tiến hành tố tụng. Nếu không phải từ chối tiến hành tố tụng thì việc đầu tiên phải thực hiện là xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn. Do đó, nên chuyển Điều luật này sát sau Điều luật quy định về  “Thụ lý hồ sơ vụ án” thì phù hợp hơn.

- Quy định về những vấn đề cần giải quyết trước khi mở phiên tòa.

Đây là quy định mới về một số công việc mà Thẩm phán phải giải quyết trong giai đoạn chuẩn bị xét xử. Tuy nhiên, một số quy định tại Điều luật này không hợp lý và mâu thuẫn  với các điều luật khác trong Bộ luật này, cụ thể như sau:

Một là: điểm a khoản 1 Điều 272 quy định

“a) Yêu cầu của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng và những người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa; thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án;” Hồ sơ vụ án do VKS “thẩm định” trước khi quyết định truy tố hoặc không truy tố. Kiểm sát viên lại có quyền yêu cầu Thẩm phán cung cấp và bổ sung chứng cứ là không phù hợp; ngược lại, Thẩm phán mới có quyền này, tức là có quyền yêu cầu VKS “cung cấp, bổ sung chứng cứ “ và được thể hiện bằng quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Hai là: điểm d khoản 1 Điều 272 quy định

“d) Đề nghị của những người tham gia tố tụng về việc vắng mặt tại phiên tòa” Tức là những người tham gia tố tụng xin được xử vắng mặt họ. Nếu Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa chấp nhận và đã ra thông báo cho họ biết thì theo quy định tại Điều 295 dự thảo BLTTHS “Giải quyết những yêu cầu về xem xét chứng cứ và hoãn phiên tòa khi có người vắng mặt”, nếu tại phiên tòa, Kiểm sát viên hoặc những người tham gia tố tụng có yêu cầu triệu tập người đó ra Tòa, thẩm quyền giải quyết có triệu tập hay không triệu tập, có hoãn phiên tòa hay không hoãn phiên tòa, khi có người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa lại thuộc về Hội đồng xét xử. Nếu Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa vì cần phải triệu tâp người tham gia tố tụng vắng mặt thì giải quyết thông báo chấp nhận cho phép vắng mặt của Thẩm phán như thế nào? Do đó, theo chúng tôi, quy định này mâu thuẫn với quy định tại Điều 295 vì Thẩm phám không có quyền chấp nhận hay không chấp nhận việc vắng mặt của người tham gia tố tụng mà đây là quyền của Hội đồng xét xử, chỉ được giải quyết tại phiên tòa.

Ba là: Khoản 2 của Điều luật này quy định

“2. Nếu xét thấy yêu cầu, đề nghị có căn cứ thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa chấp nhận và thông báo cho người có yêu cầu, đề nghị biết. Nếu không có căn cứ chấp nhận thì phải trả lời bằng văn bản”.

Như vậy, theo quy định trên thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu, đề nghị thay đổi thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án. Quy định này trái với quy định tại các Điều 50 “Thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm” và Điều 51 “Thay đổi Thư ký Tòa án”. Theo quy định của hai điều luật này thì việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án trước khi mở phiên tòa thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án chứ không phải là của Thẩm phán.

Do đó, chúng tôi đề nghị nếu có quy định mới về các công việc mà Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa cần phải giải quyết thì cần nghiên cứu và loại bỏ những mâu thuẫn, trái các quy định khác của BLTTHS như đã nêu ở trên.

- Quy định về trả hồ sơ để điều tra bổ sung

+ Chúng tôi đồng tình với việc pháp điển hóa hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 01/2010/TTLT ngày 27/8/2010 của VKSND tối cao, Bộ Công an, TAND tối cao hướng dẫn thi hành các quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung vào Điều luật này để áp dụng thống nhất và không cần phải ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành.

Tuy nhiên, Điều 267 dự thảo BLTTHS quy định: “Khi thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát đã truy tố”. Tòa án ở đây được hiểu là Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa và khi đã giao cho Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ thì đây là một trường hợp mới cần quy định rõ hơn trong khoản 1 của Điều luật này. Đó là “... Khi xét thấy vụ án không thuộc thẩm quyền xét xử của mình thì Thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên tòa quyết định trả hồ sơ cho VKS đã truy tố”

+ Khoản 2 Điều 273 quy định: “Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa quyết định trả hồ sơ cho VKS trong trường hợp VKS có đề nghị bằng văn bản để bổ sung chứng cứ; thay đổi, bổ sung cáo trạng; khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng”.

Đây là trường hợp VKS chủ động đề nghị rút hồ sơ, trả lại hồ sơ vụ án bằng văn bản gửi Tòa án. Trong văn bản này, đương nhiên VKS phải nêu lý do rút hồ sơ. Trường hợp này có được hiểu là nếu có đề nghị của VKS thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa phải ra quyết định trả hồ sơ không? Mặc dù trong dự thảo quy định không rõ nhưng tinh thần là phải trả hồ sơ. Quy định này không phù hợp và mang tính áp đặt. Giả sử, Thẩm phán xét thấy những lý do xin rút hồ sơ (hay yêu cầu, đề nghị) rút hồ sơ của VKS là không có căn cứ thì theo quy định của Điều luật này vẫn phải trả hồ sơ. Tòa án đã thụ lý hồ sơ vụ án thì việc giải quyết vụ án như thế nào thuộc quyền của Tòa án, hay nói cách khác, việc trả hồ sơ hay không trả hồ sơ cho VKS là quyền của Tòa án - quyền của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Nếu VKS có yêu cầu, đề nghị rút hồ sơ mà Thẩm phán xét thấy lý do xin rút hồ sơ là có căn cứ thì chấp nhận, nếu thấy không có căn cứ thì có quyền không chấp nhận và thông báo cho VKS biết. Vì vậy, chúng tôi đề nghị sửa khoản 2 của Điều luật này như sau:

“2. Khi VKS có đề nghị bằng văn bản về việc rút hồ sơ để bổ sung chứng cứ; thay đổi, bổ sung cáo trạng; khắc phục vi phạm thủ tục tố tụng thì Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa xem xét, nếu thấy đề nghị rút hồ sơ của VKS có căn cứ thì quyết định trả hồ sơ; nếu thấy không có căn cứ thì thông báo cho VKS biết.

+ Khoản 3 Điều 273 quy định:

“3. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung phải nêu rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho VKS kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định”. Quy định này là phù hợp trong trường hợp Tòa án chủ động trả hồ sơ cho VKS, nhưng không phù hợp trong trường hợp VKS có đề nghị trả hồ sơ vì các vấn đề cần điều tra, bổ sung là của VKS chứ không phải của Tòa án. Do vậy, trong khoản 3 phải loại trừ trường hợp trả hồ sơ theo đề nghị của VKS. Mặt khác, khi quy định thời hạn trả hồ sơ cần quy định rõ “ trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày...”.

- Quy định về sự có mặt của Kiểm sát viên

Chúng tôi đề nghị chỉ quy định Kiểm sát viên thực hành quyền công tố mà không thực hành Kiểm sát xét xử tại phiên tòa (như đã trình bày tại những điều luật liên quan đến vấn đề này ở phần trên)

- Quy định về sự có mặt của người bào chữa

Chúng tôi hoàn toàn đồng tình với những sửa đổi, bổ sung tại Điều luật này. Việc quy định chặt chẽ về sự có mặt của người bào chữa và tôn trọng ý chí của bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo sẽ hạn chế được trình trạng rất nhiều phiên tòa phải hoãn xử như hiện nay. Tuy nhiên, để quy định chặt chẽ hơn chúng tôi đề xuất sửa đoạn cuối của Khoản 2 Điều luật này như sau:

2...., trừ trường hợp bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo đều đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa. Yêu cầu này phải được ghi trong biên bản phiên tòa.”

Sở dĩ chúng tôi đề xuất việc sửa như trên vì các lí do sau đây:

Một là: Nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì người đại diện theo pháp luật của họ có quyền tham gia tố tụng, tức là có quyền nhờ người bào chữa, thay đổi người bào chữa. Đây là trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa nên họ có quyền yêu cầu Toà án chỉ định người bào chữa cho bị cáo. Nếu bị cáo hoặc người đại diện theo pháp luật của bị cáo đều đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa thì mới được áp dụng Điều luật này. Nếu một trong hai người (bị cáo hoặc đại diện theo pháp luật của họ) không đồng ý thì Toà án phải hoãn phiên toà.

Hai là: Đây là trường hợp đặc biệt nên cần phải ghi ý kiến đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa của bị cáo và đại diện theo pháp luật của bị cáo vào biên bản phiên toà vì nếu không thể hiện trong biên bản phiên toà thì Toà án phải lập biên bản về việc này và lưu trong hồ sơ vụ án.

- Quy định về sự có mặt của Điều tra viên

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án như sau:

Phương án 1: “Trong quá trình xét xử. Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đã điều tra vụ án đến phiên toà để làm rõ những tình tiết của vụ án, làm căn cứ cho việc ra bản án, quyết định”.

Phương án 2: Không quy định trong BLTTHS

Chúng tôi đồng tình với phương án 1, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đến phiên toà. Theo chúng tôi đó là quy định mới, tiến bộ. Nếu phương án 1 được chấp nhận thì cần bổ sung vào Điều 36 dự thảo BLTTHS về nghĩa vụ chấp hành của Điều tra viên khi Hội đồng xét xử triệu tập đến phiên toà. Mặt khác cũng cần nghiên cứu, suy nghĩ về tư cách tham gia tố tụng tại phiên toà của Điều tra viên. Họ là người tiến hành tố tụng hay là người tham gia phiên toà? Quyền và nghĩa vụ của Điều tra viên tại phiên toà là gì? Những vấn đề này cũng phải được quy định cụ thể trong Điều luật này để Hội đồng xét xử thực hiện.

- Quy định về Kiểm sát viên rút quyết định hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên toà.

+ Tên của Điều luật này nên sửa đổi như sau:“Kiểm sát viên rút quyết định truy tố. Kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn”. Khoản 1 của cả hai phương án nên sửa thành:“Tại phiên toà, Kiểm sát viên có thể rút ra một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn tội danh đã truy tố”.

Trong cả hai phương án cũng cần bổ sung từ “bằng” vào trường hợp Kiểm sát viên kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn thì …”

Sở dĩ chúng tôi đề xuất như trên là bởi các lý do sau đây:

Một là: tại khoản 3 Điều 312 quy định về Luận tội có nội dung “…về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”.

Hai là: tại phiên toà, các quyết định cuối cùng để giải quyết vụ án thuộc về Hội đồng xét xử. Việc Kiểm sát viên nên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố là quyền của người thực hành quyền công tố. Chấp nhận hay không chấp nhận là quyền của Hội đồng xét xử. Theo Điều 195 BLTTHS năm 2003 thì Kiểm sát viên rút một phần hoặc toàn bộ truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn phải xét xử toàn bộ vụ án. Tại Công văn số 328/NCPL ngày 22/6/1993 của TAND tối cao về quyết định rút truy tố của VKS đã hướng dẫn như sau:

Nếu VKS rút toàn bộ quyết định truy tố (tức là rút toàn bộ cáo trạng) thì Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến về việc rút truy tố của VKS. Khi nghị án, nếu có căn cứ xác định bị cáo không phạm tội  thì Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không phạm tội. Ngược lại, nếu xét thấy có đủ căn cứ để xác định bị cáo có tội thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm đình chỉ việc xét xử vụ án và kiến nghị với VKS cấp trên trực tiếp để xem xét về quyết định rút toàn bộ truy tố của VKS cấp dưới. Cùng với công văn kiến nghị này, Toà án phải chuyển hồ sơ đến VKS cấp trên trực tiếp của VKS cấp dưới nêu trên.

Nếu VKS cấp trên trực tiếp thống nhất với quyết định rút toàn bộ truy tố của VKS cấp dưới thì ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án đã ra quyết định tạn đình chỉ biết. Nếu VKS cấp trên trực tiếp nhất trí với kiến nghị  của Toà án thì ra quyết định huỷ bỏ quyết định rút toàn bộ truy tố của VKS cấp dưới và chuyển hồ sơ cho Toà án đã ra quyết định tạm đình chỉ. Toà án thụ lý lại vụ án và xét xử trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý lại vụ án.

Nghiên cứu quy định của một số nước khác trên thế giới như Trung Quốc, Nga, Đức, Pháp về vấn đề này thì tuy cách giải quyết khác nhau, nhưng hầu hết các nước này đều quy định là Toà án vẫn có nghĩa vụ chứng minh tội phạm (tức là vẫn tiếp tục xét xử). Điều  221 BLTTHS năm 2003 cũng quy định Toà án tiếp tục xét xử vụ án trong trường hợp Kiểm sát viên rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án.

Từ những lập luận trên, chúng tôi cho rằng không nên quy định có tính “trói buộc” quyền của Hội đồng xét xử tại phiên toà. Hội đồng xét xử không thể bị giới hạn “chỉ xét xử phần quyết định truy tố không bị rút” hoặc cũng không thể trả hồ sơ cho VKS để điều tra bổ sung được. Khi mà Kiểm sát viên đã rút một phần hay rút toàn bộ quyết định truy tố thì việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung liệu có khách quan và vô tư nữa không? Vì vậy, chúng tôi đề nghị quy định như sau:

Điều 290: Kiểm sát viên rút quyết định truy tố,  kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn quyết định đã truy tố tại phiên toà.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên có thể rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố; kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn tội VKS đã truy tố.

Trường hợp Kiểm sát viên kết luận về tội bằng hoặc nhẹ hơn thì Hội đồng xét xử vẫn tiếp tục xét xử vụ án.

Trường hợp Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố thì Hội đồng vẫn xét xử toàn bộ vụ án. Nếu xét thấy phần rút quyết định truy tố có căn cứ thì Hội đồng xét xử ra quyết định đình chỉ đối với phần rút truy tố.

Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử toàn bộ vụ án. Nếu xét thấy quyết định rút toàn bộ quyết định truy tố có căn cứ thì Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không phạm tội. Nếu thấy quyết định rút toàn bộ truy tố không có căn cứ thì Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo thủ tục chung”.

- Quy định về giới hạn của việc xét xử

Chúng tôi cho rằng đây là một quy định hạn chế rất nhiều quyền của Hội đồng xét xử. Theo quy định này thì Tòa án không có quyền xét xử bị cáo về một tội danh nặng hơn tội danh đã khởi tố. Như vậy, việc xét xử của Tòa án lệ thuộc vào việc truy tố của VKS, trong trường hợp dù có đủ căn cứ bị cáo phạm tội nặng hơn cũng không được xét xử đúng tội. Trách nhiệm chứng minh tội phạm là của các cơ quan tiến hành tố tụng, dù có chứng minh được tội phạm thì tội phạm với ý nghĩa là đúng tội cũng không bị xử lý. Giới hạn của xét xử là quy định làm kéo dài tố tụng không cần thiết hoặc có thể làm mất đi chân lý. Do đó, chúng tôi đề nghị cần loại bỏ quy định về giới hạn của việc xét xử trong dự thảo BLTTHS

- Quy định về chuẩn bị bắt đầu phiên tòa

Đây là một điều luật mới, quy định những công việc mà Thư ký Tòa án phải thực hiện trước khi bắt đầu phiên tòa. Chúng tôi đồng tình với quy định này, tuy nhiên trong khoản 2 có quy định “nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do”. Thư ký Tòa án chỉ có thể kiểm tra, xác định có mặt hay vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án chứ không thể làm rõ lý do vắng mặt. Nếu quy định như trên thì Thư ký Tòa án phải thực hiện việc xác minh. Ví dụ có thông tin họ vắng mặt vì bị ốm phải đi bệnh viện, phải đi công tác gấp…thì Thư ký Tòa án phải xác minh tại bệnh viện hoặc nơi người tham gia tố tụng vắng mặt đang công tác, làm việc. Điều này có nghĩa là phiên tòa phải chờ kết quả xác minh thì mới bắt đầu được. Quy định này không phù hợp thực tiễn xét xử. Thư ký Tòa án chỉ kiểm tra, xác định sự có mặt hay vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa để báo cáo Hội đồng xét xử. Việc quyết định giải quyết sự vắng mặt của người tham gia tố tụng là quyền của Hội đồng xét xử. Do đó, chúng tôi đề nghị bỏ quy định “nếu có người vắng mặt thì cần phải làm rõ lý do”.

- Quy định về bắt đầu phiên tòa

+ Trong thực tiễn xét xử, khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố lý do “ Hôm nay, ngày…. tháng….năm….TAND… mở phiên tòa công khai để xét xử vụ án….. Thay mặt Hội đồng xét xử, tôi công bố quyết định đưa vụ án ra xét xử”. Không có phiên tòa nào, Hội đồng xét xử mà người người thay mặt là Chủ tọa phiên tòa bắt đầu phiên tòa bằng việc đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử. Để phù hợp thực tiễn, chúng tôi đề nghị nên bổ sung vào khoản 1 như sau:

“1. Khi bắt đầu phiên tòa, Chủ tọa phiên tòa tuyên bố lý do, khai mạc phiên tòa và đọc quyết định đưa vụ án ra xét xử” để phù hợp với thực tiễn xét xử.

+ Như đã nêu ở trên, Thư ký phiên tòa không thể biết lý do, không buộc phải làm rõ lý do vắng mặt của những người được Tòa án triệu tập đến phiên tòa nên câu cuối của khoản 2 của quy định này cần bỏ và nếu để thì phải thêm từ nếu có trong ngoặc đơn (nếu có), tức là Thư ký Tòa án có thể biết hoặc không biết lý do vắng mặt.

+ Khoản 3 quy định “Chủ tọa phiên tòa kiểm tra căn cước, phổ biến quyền, nghĩa vụ của những người tham gia phiên tòa có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án”. Theo quy định này, những người tham gia tố tụng vắng mặt thì không cần phải phổ biến quyền và nghĩa vụ của họ (nếu Tòa án xét xử vắng mặt). Thực tiễn xét xử, Hội đồng xét xử phải xem xét và quyết định có xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng không; nếu vẫn xét xử thì vẫn phải dành cho họ, bảo đảm cho họ có và thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Chẳng hạn Chủ tọa phiên tòa phải thay mặt Hội đồng xét xử công bố quyết định như “Sự vắng mặt của người bị hại không ảnh hưởng đến việc xét xử, nên Tòa án vẫn xét xử vụ án. Tòa án sẽ thông báo kết quả xét xử cho người bị hại vắng mặt biết và họ có quyền kháng cáo bản án”.

Vì vậy, chúng tôi để nghị bổ sung vào khoản 3 cả trường hợp người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa. Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng không làm triệt tiêu quyền và nghĩa vụ của họ.

- Quy định về giải quyết việc đề nghị thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Thư ký Tòa án, người giám định, người phiên dịch.

Dự thảo bổ sung vào quy định của BLTTHS năm 2003 cụm từ “lý do của việc đề nghị thay đổi (nếu có)”. Chúng tôi đề nghị bỏ từ “(nếu có)” vì khi có đề nghị thay đổi thì người đề nghị đương nhiên phải nêu lý do. Mặt khác, Chủ tọa phiên tòa đã hỏi Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng về việc có ai đề nghị thay đổi hay không và lý do của việc đề nghị thay đổi. Nếu để từ “(nếu có)” thì có nghĩa là cứ đề nghị thay đổi, không cần phải nêu lý do. Quy định này là không hợp lý.

- Quy định về công bố bản cáo trạng

Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng và trình bày ý kiến bổ sung. Ý kiến bổ sung này không được làm xấu đi tình trạng của bị cáo hoặc không được làm thay đổi, không được làm ảnh hưởng (tạo ra ảnh hưởng) đối với những vấn đề cơ bản của bản cáo trạng. Thông thường, tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng, Chủ tọa phiên tòa vẫn hỏi ý kiến của bị cáo về bản cáo trạng và các vấn đề Kiểm sát viên bổ sung (nếu có). Do vậy, chúng tôi đề nghị bổ sung vào Điều luật này Khoản 2:

“2. Chủ tọa phiên tòa hỏi ý kiến của bị cáo về bản cáo trạng và ý kiến bổ sung của Kiểm sát viên ( nếu có)”.

- Quy định về trình tự xét hỏi

Dự thảo BLTTHS đưa ra hai phương án. Chúng tôi đồng tình với phương án 1 và có ý kiến về khoản 4 của Phương án 1 như sau:

“4. Những người khác tham gia phiên tòa cũng có quyền đề nghị Chủ tọa phiên tòa hỏi thêm về những tình tiết cần làm sáng tỏ. Người giám định được hỏi về những vấn đề có liên quan đến việc giám định”.

Những người khác tham gia phiên tòa là tất cả những ai đến dự phiên tòa. Nếu quy định như vậy thì người đến dự phiên tòa (tham gia phiên tòa) cũng có quyền đề nghị, quyền phát biểu tại phiên tòa. Đây là quy định không hợp lý và thực tiễn xét xử thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận cho những người tham gia tố tụng phát biểu chứ không phải những người tham gia, tham dự phiên tòa được phát biểu. Quy định như vậy cũng làm mất đi tính nghiêm túc của phiên tòa. Do đó, chúng tôi đề nghị phải sửa lại là “những người khác tham gia tố tụng tại phiên tòa cũng có quyền đề nghị…”

- Quy định về công bố những lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố

Chúng tôi đề nghị bổ sung khoản 3 của Điều luật này như sau:

“3. Trong trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân, theo yêu cầu của người tham gia tố tụng hoặc xét thấy cần thiết thì Hội đồng xét xử không công bố các lời khai trong giai đoạn điều tra, truy tố”.

- Quy định về nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình

Dự thảo quy định: “Theo yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hoặc khi xét thấy cần thiết, Hội đồng xét xử cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm; xem băng ghi hình, đĩa ghi hình tại phiên tòa”.

Theo chúng tôi, không nên dùng từ “yêu cầu Hội đồng xét xử” mà nên dùng từ “đề nghịHội đồng xét xử” thì phù hợp hơn, đồng thời thể hiện sự tôn trọng đối với Hội đồng xét xử.

- Quy định về luận tội

Dự thảo quy định tại khoản 3 “Kiểm sát viên có thể đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hoặc một phần nội dung bản cáo trạng hoặc kết luận về khoản nhẹ hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố”

Theo Điều 290 của dự thảo thì Kiểm sát viên có quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố. Về quyết định rút một phần hay toàn bộ quyết định truy tố thường diễn ra trong phần luận tội, tức là sau khi xét hỏi. Khi luận tội, Kiểm sát viên rút một phần quyết định truy tố, chỉ luận tội về phần không rút hoặc không luận tội nếu rút toàn bộ quyết định truy tố. Do dó, cần quy định rõ trong khoản 3 Điều luật này về quyền rút một phần hoặc rút toàn bộ quyết định truy tố của Kiểm sát viên.

Chúng tôi đề xuất thiết kế khoản 3 như sau:

“3. Kiểm sát viên có thể đề nghị rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hoặc phần nội dung bản cáo trạng không rút truy tố; kết luận về khoản nhẹ hơn khoản mà VKS đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà VKS đã truy tố”.

Quy định này không trùng với quy định tại Điều 290 Dự thảo BLTTHS vì ở Điều 290 tuy cũng có quy định về quyền rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, nhưng nội dung của Điều luật đó nhằm quy định về việc giải quyết của Hội đồng xét xử đối với việc rút quyết định truy tố của Kiểm sát viên.

Điều 312 là Điều luật được bổ sung mới, tách từ Điều 217 BLTTHS năm 2003 quy định về “Trình tự phát biểu khi tranh luận” nhằm cụ thể hóa chức năng công tố - chức năng buộc tội. Điều luật này cụ thể hóa các nội dung mà Kiểm sát viên phải kết luận, phải để nghị tại phiên tòa, nội dung này không thể thiếu việc quyết định rút một phần, rút toàn bộ quyết định truy tố - một trong những quyền quan trọng của VKS mà đại diện là Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa thực hiện.

- Quy định về tranh luận

Bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa có quyền trình bày ý kiến của mình về kết luận của Viện kiểm sát chứ không phải chỉ đối với luận tội. Chẳng hạn người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của họ cũng có quyền phát biểu, trình bày ý kiến của mình về việc Kiểm sát viên rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố. Bộ luật cũng quy định khi Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố, Hội đồng xét xử yêu cầu những người tham gia tố tụng trình bày ý kiến của việc rút đó (Điều 221 BLTTHS 2003). Để đảm bảo quyền của những người tham gia tố tụng, đảm bảo thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa, đảm bảo phù hợp với các quy định khác của BLTTHS về vấn đề này, chúng tôi đề nghị cần thiết phải thay cụm từ “về luận tội của Kiểm sát viên” bằng cụm từ “Về kết luận của Kiểm sát viên”.

Trong phần tranh luận, Chủ tọa phiên tòa là người điều khiển việc tranh luận. Khi ý kiến của người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác chưa được Kiểm sát viên “đáp lại”, tranh luận lại thì Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu Kiểm sát viên tranh luận chứ không phải là “đề nghị Kiểm sát viên tranh luận”. Đối đáp lại, tranh luận là trách nhiệm của Kiểm sát viên, Chủ tọa phiên tòa yêu cầu (tức là buộc) Kiểm sát viên phải trả lời, “yêu cầu” và “đề nghị” không đồng nghĩa hoàn toàn với nhau dưới góc độ tranh tụng.

- Quy định về trở lại việc xét hỏi

Có quan điểm đề nghị sửa điều này thành “Quyết định của Hội đồng xét xử sau tranh luận”. Theo đó, Hội đồng xét xử quyết định một số vấn đề về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, trở lại việc xét hỏi, yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ, tiến hành xác minh, thu thập bổ sung chứng cứ hoặc tiến hành nghị án, tạm ngừng hoặc hoãn phiên tòa….

Chúng tôi không đồng tình với quan điểm này vì các lẽ sau đây:

Hội đồng xét xử chỉ quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung, yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ khi nghị án. Khi kết thúc tranh luận, còn có thủ tục bị cáo nói lời sau cùng, nếu bị cáo trình bày thêm những tình tiết mới, có ý nghĩa quan trọng đối với vụ án thì Hội đồng xét xử chưa thể nghị án mà phải trở lại việc xét hỏi (Điều 330 dự thảo BLTTHS và Điều 220 BLTTHS 2003). Cho dù kết thúc phần tranh luận, không có việc trở lại xét hỏi thì Hội đồng xét xử cũng không được bỏ qua quyền nói lời sau cùng của bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử cũng chưa thể ra ngay quyết định tiến hành nghị án được.

Trở lại việc xét hỏi là một quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc “ Khi nghị án chỉ được căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”. Xét hỏi để thẩm tra các tài liệu, chứng cứ và trong mô hình tố tụng hình sự Việt Nam hiện nay, xét hỏi vẫn là phần rất quan trọng. BLTTHS đã quy định tới 03 lần trở lại việc xét hỏi, đó là sau khi tranh luận, sau khi bị cáo nói lời sau cùng và khi nghị án.

Do đó, chúng tôi đồng tình với việc giữ nguyên quy định này của BLTTHS năm 2003 để phù hợp với quy định tại điều 316 và 318 dự thảo BLTTHS (quy định về Bị cáo nói lời sau cùng và Trở lại việc xét hỏi và tranh luận), cũng như phù hợp với trình tự tố tụng tại phiên tòa.

- Quy định về nghị án

+ Trong thực tiễn xét xử, thông thường, Chủ tọa phiên tòa vừa điều khiển việc nghị án vừa là người ghi biên bản nghị án. Do đó luật nên quy định là “Chủ tọa phiên tòa điều khiển việc nghị án và có trách nhiệm đưa ra từng vấn đề để Hội đồng xét xử thảo luận, quyết định. Chủ tọa phiên tòa có thể tự mình hoặc phân công một thành viên Hội đồng xét xử ghi biên bản nghị án”.

Để đảm bảo khách quan trong nghị án, tránh việc “áp đặt” hay “lái” các vấn đề phải giải quyết khi nghị án, cần quy định Hội thẩm phát biểu ý kiến trước, biểu quyết trước Thẩm phán. Cụ thể nên sửa như sau: “Hội thẩm phát biểu và biểu quyết trước, Thẩm phán phát biểu và biểu quyết sau cùng”

+ Khoản 2 của Điều luật này cần bổ sung vào điểm c về “biện pháp chấp hành hình phạt” trong trường hợp Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

“c, Hình phạt, các biện pháp chấp hành hình phạt, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với bị cáo”.

Mặt khác, chúng ta đang tiến hành sửa đổi BLHS, trong đó sửa đổi các biện pháp xử lý chuyển hướng đối với người chưa thành niên phạm tội, biện pháp phạt tiền và nếu không chấp hành hình phạt tiền thì chuyển thành hình phạt tù. Đây cũng là những vấn đề mới cần nghiên cứu để bổ sung trong BLTTHS và trong Điều luật mới này.

+ Trong thực tiễn xét xử, hầu như không xảy ra trường hợp không có ý kiến chiếm đa số khi Hội đồng xét xử nghị án. Tuy nhiên cũng không thể loại trừ trường hợp này. Nếu xảy ra thì giải quyết thế nào khi mà các thành viên Hội đồng xét xử vẫn bảo lưu ý kiến của mình. Về nguyên tắc, chỉ quyết định theo đa số tức là khi không có đa số thì không quyết định được, không thể tuyên án được. Trong trường hợp này phải hoãn phiên tòa, nhưng trong dự thảo không có quy định nào cho phép hoãn phiên tòa. Do đó, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa phải tìm cách “lách luật” bằng việc tìm lý do để “trở lại việc xét hỏi, tranh luận” để cố tìm ra lí do hoãn phiên tòa để tổ chức phiên tòa với thành phần Hội thẩm hoặc Thẩm phán khác. Để giải quyết các trường hợp hy hữu này, chúng tôi đề nghị nên có quy định “nếu không có ý kiến nào chiếm đa số thì phải thảo luận và biểu quyết lại từng ý kiến của các thành viên Hội đồng xét xử đã đưa ra để xác định ý kiến đa số. Trường hợp vẫn không xác định được ý kiến đa số thì phải hoãn phiên tòa để xét xử lại vụ án bằng thành phần Hội đồng xét xử khác”.

- Quy định về tuyên án

Chúng tôi đề nghị thay “đọc bản án” bằng “công bố bản án” bản án cho phù hợp với việc sửa từ này trong quy định “công bố bản cáo trạng”; đồng thời thể hiện sự trang nghiêm và mang tính quyền lực nhà nước, pháp lý hơn.

 

ThS. NGUYỄN QUANG LỘC - Nguyên Thẩm phán TAND tối cao

Nguồn: Cổng thông tin điện tử TANDTC (www.toaan.gov.vn)

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác