Thứ Bảy, 29/2/2020
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp - Quy định của Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam

Thứ nhất là, hình sự hóa bắt buộc, tức là những vi phạm bắt buộc phải thiết lập là tội phạm tại các quốc gia thành viên được quy định tại Điều 15, điều 16, điều 17, điều 23, điều 25 (đó là hành vi hối lộ của công chức quốc gia; chào mời hoặc chấp nhận hối lộ của công chức quốc gia; hối lộ của công chức nước ngoài hoặc công chức của các tổ chức quốc tế công; tham ô, biển thủ hoặc các dạng chiếm đoạt tài sản khác bởi công chức; tẩy, rửa tài sản do phạm tội mà có; cản trở hoạt động tư pháp). Đây là phần cơ bản và cấp bách nhất của những nỗ lực toàn cầu để chống lại các thủ đoạn tham nhũng.

Thứ hai là, các hành vi phạm tội mà UNCAC đưa ra tiêu chuẩn tối thiểu được quy định tại Điều 16, khoản 2 điều 18 đến điều 22, điều 24 (đó là hành vi hối lộ công chức nước ngoài hoặc công chức của tổ chức quốc tế công; lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi; lạm dụng chức năng; làm giàu bất hợp pháp; hối lộ trong khu vực tư; biển thủ tài sản trong khu vực tư; che giấu tài sản). Đây là những tội danh không bắt buộc mà các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải xem xét việc hình sự hóa.

Tham nhũng có thể được biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, để có thể điều chỉnh càng nhiều hành vi sai trái càng tốt, UNCAC đưa ra thêm một loạt các tội danh không bắt buộc mà các quốc gia thành viên được yêu cầu xem xét, cân nhắc việc thực hiện. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ phân tích một trong những hành vi thuộc phần thứ hai - hành vi làm giàu bất hợp pháp (Điều 20) từ góc độ quy định của UNCAC và đối chiếu với quy định của pháp luật Việt Nam.

1- Quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp của Công ước Liên Hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC)  

Điều 20 Công ước quy định trên cơ sở tuân thủ hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước mình, các quốc gia thành viên phải xem xét việc quy định là tội phạm hành vi làm giàu bất hợp pháp. Các quốc gia thành viên phải xem xét việc thông qua các biện pháp lập pháp và các biện pháp cần thiết khác nhằm quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp là tội phạm nếu hành vi này được thực hiện một cách cố ý. Tức là, việc tài sản của một công chức tăng đáng kể so với thu nhập hợp pháp của công chức này mà không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kể như vậy.

Nhiều quốc gia đã quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp là tội phạm như Hồng Kông, Trung Quốc, Singapore, Zambia… Thực tế đã cho thấy, việc quy định này là rất hữu ích vì nó giải quyết khó khăn thường gặp trong quá trình truy tố, đó là khi phải chứng minh được rằng một công chức đã đòi hoặc nhận hối lộ trong những trường hợp mà việc giàu lên của công chức đó không tương xứng với thu nhập hợp pháp của người đó và có thể một vụ tham nhũng đã được thực hiện. Việc ghi nhận tội danh làm giàu bất hợp pháp cũng được công nhận là công cụ hữu ích trong việc ngăn chặn tham nhũng trong đội ngũ công chức tại các nước này.

Theo Điều 10 Pháp  lệnh  phòng  ngừa  tham  nhũng của Hồng Kông, hành vi bị coi là tội phạm khi một viên chức chính phủ có một mức sống cao hoặc sở hữu hoặc kiểm soát những tài sản không phù hợp với thu nhập của người đó, trừ phi người đó có  thể  đưa  ra  những  giải  thích  có  tính  thuyết  phục  với  tòa  án. Quy  định  này  đặt  nghĩa  vụ chứng minh vô  tội  lên bị cáo. Mức phạt cao nhất đối với  tội phạm này là mười năm tù kèm thêm phạt tiền  (lên  tới 500,000 đô  la Hồng Kông).  Trong năm năm đầu kể từ khi Ủy ban độc lập chống tham nhũng của Hồng Kông được thành lập, số vụ bị truy tố theo Điều 10 nêu trên là 37 vụ. Vụ gây tai tiếng nhất là vụ phát hiện tài sản tham nhũng lên đến 600 triệu đô la (số  tài  sản này  tương đương với  thu nhập chính  thức trong 10,000 năm của bị  cáo) .

Pháp luật Singapore có quy định tương tự như vậy. Điều 24 của Luật phòng ngừa tham nhũng trao cho Cục  điều  tra  tham  nhũng (CPIB) quyền  điều  tra  bất  kì  người  nào  sở  hữu  những nguồn  tiền  hoặc  tài  sản  không  phù  hợp  với  những  nguồn  thu  nhập  chính  thức  của  họ và người đó không thể giải  thích được lí do có những khoản tiền hoặc tài sản này. Thực tế cho thấy việc người sở hữu tiền hoặc tài sản trong trường hợp nêu trên không chứng minh được nguồn gốc tài sản đó sẽ được xem như một chứng cứ xác định người đó đã có được những khoản tiền hoặc tài sản này một cách bất chính. Tòa án cũng được quyền ra quyết định  tịch thu các tài sản đó.

Tại Nam Phi, các Điều 22 và 23 của Luật phòng, chống tham nhũng của nước này quy định việc điều tra tài sản và đời sống của các cá nhân bị tình nghi là phạm tội về tham nhũng. Việc điều tra có thể được bắt đầu dựa trên lệnh của tòa án khi tài sản hoặc đời sống của cá nhân bị cho là “không phù hợp với những nguồn thu nhập hoặc tài sản được biết đến trong quá khứ hoặc hiện tại của người đó”. Lệnh điều tra sẽ được đưa ra khi thẩm phán đồng ý rằng “cuộc điều tra đó có thể khám phá thông tin có khả năng hỗ trợ việc chứng minh rằng đời sống hoặc tài sản của người bị tình nghi có được là do việc thực hiện các hành vi tham nhũng”. Tuy nhiên bản thân hành vi sở hữu các tài sản này không phải là tội phạm. Chứng cứ cụ thể chứng minh các tội phạm về tham nhũng được quy định tại các điều luật khác cũng cần phải được tìm ra.

Có thể thấy, nghĩa vụ của quốc gia thành viên trong việc xem xét để quy định hành vi làm giàu bất hợp pháp thành tội phạm lại tùy thuộc vào hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống pháp luật nước đó. Điều 20 UNCAC đã quy định đối với những điều bắt buộc với các quốc gia thành viên trong trường hợp có xung đột về thể chế hoặc những nguyên tắc cơ bản thì quốc gia đó phải thông qua những biện pháp cụ thể “phù hợp với hiến pháp và các nguyên tắc cơ bản trong hệ thống pháp luật nước họ”. Điều khoản này thừa nhận rằng việc ghi nhận hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp là hiệu quả vì bị cáo phải đưa ra giải thích hợp lý về việc gia tăng đáng kể tài sản của mình. Bị cáo phải có nghĩa vụ chứng minh, có thể đưa ra giải thích hợp lý và đáng tin cậy trong quá trình truy tố và quá trình truy tố đó phải chứng minh được rằng việc giàu lên là vượt xa thu nhập hợp pháp của một người.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi làm giàu bất hợp pháp 

Hành vi làm giàu bất hợp pháp là trường hợp tài sản của một công chức tăng đáng kể so với thu nhập hợp pháp của họ mà khi được cơ quan có thẩm quyền yêu cầu, họ không giải thích được một cách hợp lý về lý do tăng đáng kể đó. Hành vi này chưa được qui định là tội phạm trong Bộ luật hình sự hiện hành. Tuy nhiên, hành vi này đã được đề cập phần nào trong mối liên hệ với hành vi kê khai tài sản của cán bộ, công chức và viên chức.

Điều 44 Luật sửa đổi, bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012 quy định: “Người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải kê khai trung thực và chịu trách nhiệm về việc kê khai”.

Điều 52 Luật sửa đổi, bổ sung Luật phòng, chống tham nhũng năm 2012 quy định: “Người kê khai tài sản không trung thực bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật. Quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản không trung thực phải được công khai tại cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà kê khai tài sản không trung thực thì bị xóa tên khỏi danh sách những người ứng cử; người được dự kiến bổ nhiệm, phê chuẩn mà kê khai tài sản không trung thực thì không được bổ nhiệm, phê chuẩn vào chức vụ đã dự kiến”.

Điều 5 Nghị định 78/2013/NĐ-CP của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập quy định người có nghĩa vụ kê khai tài sản phải giải trình trung thực, đầy đủ, kịp thời về các nội dung liên quan đến việc kê khai tài sản, thu nhập; nguồn gốc tài sản tăng thêm khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền.

Điều 29 Nghị định 78/2013/NĐ-CP quy định người kê khai tài sản, thu nhập, người giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm không trung thực thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm phải bị xử lý kỷ luật: Với cán bộ, áp dụng một trong các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức, bãi nhiệm; với công chức, áp dụng một trong các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức; với viên chức, áp dụng một trong các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức;  với người làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước, áp dụng một trong các hình thức kỷ luật: Khiển trách, cảnh cáo, cách chức; với người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, áp dụng theo quy định về xử lý kỷ luật trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân.

Quy định trên cho thấy, người có nghĩa vụ kê khai có thể bị áp dụng các hình thức kỷ luật nếu kê khai tài sản, thu nhập hoặc giải trình nguồn gốc tài sản tăng thêm không trung thực, mà không qui định về trách nhiệm hình sự của người có hành vi kê khai không chính xác tài sản của mình. Theo đó, việc kê khai tài sản, thu nhập tính đến thời điểm hiện tại thiên về hình thức, các chế tài xử lý không đủ sức để răn đe, giáo dục cũng như xử lý triệt để hành vi này.

Đối chiếu với yêu cầu của UNCAC, Việt Nam vẫn chưa hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp, có nghĩa là vẫn còn khoảng cách giữa Bộ luật Hình sự Việt Nam và UNCAC. Tuy nhiên, Việt Nam đã và đang có những bước đi cụ thể để xem xét thông qua những biện pháp này mặc dù có tuyên bố bảo lưu về việc không chịu ràng buộc bởi điều khoản này.

Và bước đi rõ ràng gần đây nhất nhằm kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn và tạo ra cơ chế kết nối giữa các phương thức giám sát, phát hiện và xác minh các khoản thu nhập có nguồn gốc bất hợp pháp của người có chức vụ, quyền hạn là dự thảo Đề án kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn đang được Thanh tra Chính phủ công bố lấy ý kiến rộng rãi.

Đề án đã đưa ra 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nhằm hoàn thiện và thực hiện tốt các công cụ đã có hiện nay. Trong đó, nhóm giải pháp xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về kiểm soát thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn liên quan trực tiếp đến hành vi làm giàu bất hợp pháp; đó là giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về kê khai, giải trình, xác minh tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Cụ thể như sau:

Một là, quy định cụ thể nghĩa vụ của người có chức vụ, quyền hạn thuộc phạm vi kiểm soát thực hiện việc kê khai thu nhập phát sinh theo kỳ kê khai và chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung kê khai. Người kê khai có trách nhiệm giải trình, chứng minh nguồn gốc của các khoản thu nhập đã kê khai hoặc các vấn đề khác liên quan đến thu nhập khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền.

Hai là, quy định thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc xác minh bản kê khai thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn theo định kỳ hoặc đột xuất. Cơ quan tiến hành việc xác minh thu nhập có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước liên quan thực hiện các biện pháp cần thiết để ngăn chặn việc che dấu thông tin, tẩu tán tài sản hoặc cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động kiểm tra, xác minh. Việc xác minh có thể sử dụng một số nghiệp vụ điều tra nhằm làm rõ các khoản thu nhập có dấu hiệu bất minh.

Ba là, quy định các biện pháp chế tài cụ thể, bảo đảm tính khả thi đối với các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về kê khai, giải trình, xác minh thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn. Đối với các khoản thu nhập không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ bị phát hiện, khi có yêu cầu giải trình nguồn gốc mà không giải trình được thì được xem là các khoản thu nhập bất hợp pháp, đồng thời chuyển hồ sơ vi phạm cho cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý. Xem xét quy định tội làm giàu bất hợp pháp trong Bộ luật Hình sự.

Thực tế ở Việt Nam cho thấy, tuy chưa có một báo cáo chính thức của các cơ quan, tổ chức nào về vấn đề này nhưng qua nhiều nguồn phản ánh khác nhau, có thể thấy rằng tình trạng làm giàu bất chính vẫn đang diễn ra ở nhiều lĩnh vực đời sống và có tính chất rất nghiêm trọng. Mặc dù hình sự hóa hành vi làm giàu bất hợp pháp không phải là quy định bắt buộc, nhưng xuất phát từ đòi hỏi của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, việc bổ sung hành vi này là tội phạm là cần thiết. Hành vi làm giàu bất hợp pháp có tính nguy hiểm cao cho xã hội, nhưng các chế tài xử lý hiện không đủ răn đe, giáo dục cũng như xử lý triệt để nên cần phải quy định thành một tội danh trong Bộ luật Hình sự hoặc thông qua việc hình sự hóa hành vi vi phạm nghĩa vụ kê khai tài sản thu nhập tăng thêm và nghĩa vụ giải trình. Để bảo đảm tính khả thi khi hình sự hóa hành vi này cần tiếp tục nghiên cứu, quy định bổ sung tội phạm này vào thời gian thích hợp. 



ThS. TẠ THU THỦY - Viện Khoa học Thanh tra

Nguồn: Viện Khoa học Thanh tra

 



 

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác