Chủ Nhật, 22/7/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoàn thiện quy định về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam

1. Khái quát quá trình hình thành, phát triển mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam

Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự biểu hiện bản chất nhà nước và pháp luật, mô hình tố tụng hình sự, việc tổ chức thực hiện quyền công tố và kiểm soát quyền lực trong tố tụng hình sự. Do vậy, việc nghiên cứu mối quan hệ tố tụng này có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta trong thời gian tới.

Viện kiểm sát/Viện công tố của các nước khác nhau có vị trí trong bộ máy nhà nước khác nhau. Khái quát có các mô hình sau: Trực thuộc cơ quan lập pháp hoặc Quốc hội (Trung Quốc, Liên bang Nga...), trực thuộc cơ quan hành pháp (Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Anh, Pháp...), trực thuộc cơ quan tư pháp (Hàn Quốc) hoặc có vị trí trung gian giữa hệ thống tư pháp và hành pháp (Cộng hoà Liên bang Đức, Italia...). Cơ quan điều tra ở đa số các nước trực thuộc hệ thống hành pháp, một số nước còn thành lập Cơ quan điều tra chuyên biệt trực thuộc Viện kiểm sát/Viện công tố (Liên bang Nga, Trung Quốc). Mối quan hệ giữa Viện kiểm sát/Viện công tố với Cơ quan điều tra ở các nước có 3 đặc điểm cơ bản: Thứ nhất, dù theo mô hình tố tụng nào thì Viện kiểm sát/Viện công tố là hệ thống cơ quan độc lập trong bộ máy nhà nước, có thẩm quyền quyết định và vai trò rất quan trọng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Thứ hai, phần lớn cơ quan công tố đều có thẩm quyền chỉ đạo và quyết định đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra (Đức, Pháp..); một số nước thuộc hệ thống án lệ (Mỹ, Anh), cơ quan công tố chỉ có vai trò phối hợp, tư vấn đối với nhân viên cảnh sát hoặc nhân viên điều tra. Thứ ba, hầu hết các nước đều giao cho Viện kiểm sát/Viện công tố thẩm quyền điều tra, nhưng biện pháp thực hiện khác nhau, như: Kiểm sát viên là chủ thể điều tra có quyền điều tra tất cả các tội phạm hình sự, thực tế là chỉ huy điều tra (Đức, Italia); chỉ điều tra những tội phạm cụ thể như: Tội phạm về chức vụ, tham nhũng (Nhật, Na uy, Trung Quốc); phối hợp cùng với Cảnh sát tư pháp, Thẩm phán để điều tra vụ án (Pháp) hoặc chỉ giám sát, phối hợp với Cơ quan điều tra (Anh, Mỹ)(1).

Ở Việt Nam, từ các triều đại phong kiến đã có sự giám sát quyền lực và tập trung chủ yếu ở triều đình. Nhà Trần đã lập ra chức quan Ngự sử đài giám sát quan chức trong triều đình. Vua Lê Thánh Tông đã lập hệ thống cơ quan “Hàn đặc bách quan”. Vua Minh mệnh thành lập Đô sát viện trên cơ sở hợp nhất Ngự sử đài và Lục khoa thời Lê cùng sự tham khảo mô hình của các triều đại Minh, Thanh (Trung Quốc) là cơ quan ngang bộ có thẩm quyền can gián vua, giám sát tối cao về quân sự, hành chính, tư pháp và quan chức (2).

Sau khi Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, bộ máy nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, Công tố viện và sau là Viện công tố được thành lập ngoài chức năng công tố, còn có chức năng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự được quy định trong một số văn bản pháp luật, như: Nghị định số 256/TTg ngày 01/7/1959 của Chính phủ quy định: “Ngoài chức năng truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp, Viện công tố còn có chức năng trong việc giám sát chấp hành pháp luật trong điều tra, xét xử, chấp hành án, giam giữ...”. Khi Viện kiểm sát nhân dân được thành lập, chức năng kiểm sát điều tra các vụ án hình sự được quy định tại Chương 3 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960. Ngày 28/6/1963, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Công an đã ban hành Thông tư liên bộ số 427-TTLB quy định tạm thời một số nguyên tắc về quan hệ công tác giữa hai ngành trong công tác điều tra, kiểm sát điều tra, nhằm bảo đảm việc điều tra và xử lý tội phạm đúng chính sách, đúng pháp luật và nhanh chóng. Theo đó, Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định, bản cáo trạng do Cơ quan Công an lập để truy tố bị cáo ra Toà án cùng cấp xét xử. Sau đó, Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành Thông tư liên bộ số 01/TTLB ngày 23/01/1984 hướng dẫn về công tác điều tra và kiểm sát điều tra.

Bộ luật Tố tụng Hình sự đầu tiên của nước ta (năm 1988) là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất quy định về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã phân định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong các chế định tố tụng hình sự, đã hình thành cơ chế pháp lý bảo đảm hoạt động điều tra và công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra chặt chẽ hơn.

2. Nội dung, hình thức mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam

* Về nội dung “phối hợp” giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Bất cứ Nhà nước nào cũng đều có sự phối hợp trong việc thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, các nước có chế độ chính trị khác nhau thì sự phối hợp giữa các nhánh quyền lực cũng khác nhau. Trong Nhà nước tư sản, hầu như không có sự phối hợp giữa các nhánh quyền lực, nếu có chỉ là sự thỏa hiệp vì lợi ích của chính mình hoặc trước sức ép của công luận... Nhưng ở Nhà nước xã hội chủ nghĩa, xuất phát từ bản chất là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân và do duy nhất Đảng Cộng sản lãnh đạo, nên các cơ quan trong bộ máy Nhà nước có sự phối hợp chặt chẽ dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Đảng cầm quyền.

Trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng tuy có chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng đều có mục đích chung là phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi phạm tội, do đó, sự phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng là tất yếu, khách quan. Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định cụ thể về mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong đó, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án có sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát khác với sự phối hợp giữa Viện kiểm sát và Toà án. Bởi lẽ, sự phối hợp giữa Viện kiểm sát với Toà án thường chỉ xuất hiện sau khi vụ án đã được Viện kiểm sát truy tố và chuyển hồ sơ đến Toà án đưa ra vụ án để xét xử. Còn công tác phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không chỉ được thực hiện sau khi Cơ quan điều tra kết luận điều tra vụ án chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát mà còn được thực hiện từ khi Cơ quan điều tra phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự.

Khi tiến hành tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát vừa tiến hành các hoạt động tố tụng độc lập, vừa có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng. Trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Cơ quan điều tra có chức năng, nhiệm vụ phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, còn Viện kiểm sát có chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động điều tra vụ án hình sự, bảo đảm hoạt động điều tra vụ án hình sự đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do vậy, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không chỉ có mối quan hệ trong từng chế định tố tụng hình sự cụ thể mà sự phối hợp xuyên suốt toàn bộ quá trình tố tụng từ khi phát hiện tội phạm đến khi kết thúc điều tra vụ án hình sự.

Về hình thức, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phối hợp bằng nhiều cách thức, cấp độ, tần suất khác nhau, như: Phối hợp theo quy định của pháp luật (Bộ luật Tố tụng Hình sự, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Thông tư liên tịch), các quy định giữa hai ngành, hai đơn vị cùng cấp (quy chế, quy định phối hợp); phối hợp thường xuyên định kỳ theo chương trình, kế hoạch hoặc đột xuất thông qua việc giải quyết vụ án hình sự cụ thể. Về chủ thể, có sự phối hợp giữa Lãnh đạo Viện kiểm sát với Lãnh đạo Cơ quan điều tra hoặc giữa Điều tra viên với Kiểm sát viên. Về hình thức phối hợp thông qua văn bản hoặc trao đổi trực tiếp...

Về nội dung, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phối hợp trong từng chế định tố tụng hình sự, như: Trong việc nắm, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; khởi tố vụ án, khởi tố bị can; việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; việc điều tra thu thập chứng cứ và lập hồ sơ vụ án; việc đình chỉ, tạm đình chỉ, kết thúc điều tra vụ án. Trong đó, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát cùng có sự phối hợp chặt chẽ, bình đẳng về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm; chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp phụ thuộc chủ yếu vào sự tích cực phối hợp của cả hai chủ thể này.

Về tính chất, sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự nhằm mục đích chung là phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm theo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm khác nhau, nên sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được tiến hành trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mỗi ngành được pháp luật quy định cụ thể.

Về mức độ, phối hợp cũng cần có cơ chế để bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ và hiệu quả, khắc phục tình trạng phối hợp mang tính hình thức, không hiệu quả. Trong tố tụng hình sự, mức độ của sự phối hợp tùy thuộc vào tính chất của chế độ tố tụng hình sự, đối với những hoạt động quan trọng và cần thiết phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát như: Khám nghiệm hiện trường, tử thi, áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn... đòi hỏi phải có sự phối hợp nghiêm ngặt về thời gian và cách thức phối hợp.

Như vậy, khái niệm phối hợp giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự là: Sự liên kết theo chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra nhằm mục đích phát hiện, khởi tố, điều tra  và xử lý tội phạm theo đúng quy định của pháp luật.

* Về nội dung Viện kiểm sát “chế ước” hoạt động điều tra trong tố tụng hình sự Việt Nam

Trong bất cứ bộ máy nhà nước nào, cũng đều có sự phân công giữa các nhánh quyền lực. Ở Nhà nước tư sản, sự phân công quyền lực được thực hiện chủ yếu theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”, trong đó có sự độc lập tuyệt đối giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Do có sự độc lập, nên sự giám sát, chế ước mang tính chất hạn chế, cản trở lẫn nhau và hầu như không có sự phối hợp. Sự phân công quyền lực trong Nhà nước tư sản mang tính tuyệt đối, trong nhiều trường hợp các nhánh quyền lực đối lập và triệt tiêu lẫn nhau. Chẳng hạn, vì lý do hoặc căn nguyên rất nhỏ của cá nhân cũng có thể dẫn đến việc thay đổi Nội các Chính phủ hoặc xảy ra đảo chính trong Nhà nước tư sản... Tuy nhiên, xét một cách khách quan thì chính sự độc lập tuyệt đối trong giám sát quyền lực của nhà nước tư sản cho thấy hiệu quả giám sát quyền lực mà nó mang lại là rõ rệt. Đây cũng là vũ khí lý luận mà các học giả tư sản cho rằng cách thức tổ chức quyền lực của Nhà nước tư sản văn minh, ưu việt nhất hiện nay.

Trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa, sự phân công quyền lực mang tính tương đối và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các nhánh quyền lực. Trong đó, quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp giữa các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Mặc dù có sự phân công, phân nhiệm theo chức năng, nhiệm vụ, nhưng giữa các cơ quan nhà nước có sự phối hợp với nhau. Tuy nhiên, cũng cần phải làm rõ ranh giới giữa phân công với phối hợp và các hình thức, mức độ của sự phân công, phối hợp để hoạt động của các cơ quan nhà nước đạt hiệu quả cao và không bị chồng chéo. Mặt khác, do đặc điểm của từng mối quan hệ, nên sự phân công giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước có những đặc thù nhất định. So với Nhà nước tư sản thì sự phân công quyền lực trong Nhà nước xã hội chủ nghĩa có những đặc điểm hoàn toàn khác biệt, đó là bên cạnh sự phân công, giám sát giữa các cơ quan nhà nước còn có sự phối hợp giữa các cơ quan này. Với bản chất như vậy, sự giám sát giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa không triệt tiêu, bài trừ, hạn chế nhau mà có cùng một mục đích chung, chính là sự ưu việt hơn hẳn so với Nhà nước tư sản. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, một trong những vấn đề phức tạp nhất trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa là sự phân công, giám sát giữa các cơ quan như thế nào để bảo đảm tính ưu việt, hiệu quả.

Trong bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có sự giám sát giữa các cơ quan nhà nước. Trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng có hoạt động giám sát, chế ước với các hình thức, mức độ khác nhau, trong đó, Viện kiểm sát giám sát, yêu cầu, hủy bỏ các quyết định, hành vi không có căn cứ, trái pháp luật của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, nhằm đảm bảo việc khởi tố, điều tra vụ án đúng pháp luật. Quyền năng này của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra có hiệu lực rất cao và Cơ quan điều tra phải chấp hành. Khái quát quyền năng này của Viện kiểm sát đối với hoạt động của Cơ quan điều tra có thể xác định bằng khái niệm “chế ước”. Theo nghĩa Hán Việt, “chế là phép định ra, làm ra, đặt ra; ước là bó buộc”(3).

Xét dưới góc độ chung, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án đều có sự kiểm tra, giám sát, chế ước lẫn nhau với mức độ và hình thức nhất định. Trong đó, Viện kiểm sát và Toà án có sự kiểm tra, giám sát, chế ước nhau khi Toà án có quyền phán quyết như đề nghị của Viện kiểm sát hoặc không theo đề nghị của Viện kiểm sát, thậm chí có trường hợp Toà án trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc tuyên bị cáo không phạm tội. Ngược lại, Viện kiểm sát cũng có quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Toà án nếu thấy quyết định của Toà án không có căn cứ, đúng pháp luật thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị để Toà án cấp trên xem xét lại quyết định của Toà án cấp dưới bằng trình tự, thủ tục, hình thức nhất định.

Tuy nhiên, tính chất, mức độ chế ước của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra hoàn toàn khác sự chế ước của Viện kiểm sát đối với Toà án, bởi những đặc điểm sau: Thứ nhất, về thời điểm, Viện kiểm sát chế ước hoạt động điều tra ngay từ khi Cơ quan điều tra bắt đầu thực hiện các hoạt động tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm và được thực hiện trong suốt quá trình điều tra vụ án. Thứ hai, sự chế ước chỉ được thực hiện một chiều giữa Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra. Có nghĩa là, Viện kiểm sát là cơ quan chế ước, còn Cơ quan điều tra là cơ quan bị chế ước. Cũng có ý kiến cho rằng, trong tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền chế ước lẫn nhau, trong đó Cơ quan điều tra có quyền chế ước đối với Viện kiểm sát. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, về nguyên tắc, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có quyền kiểm tra, giám sát lẫn nhau. Trong đó, chỉ có Viện kiểm sát cùng cấp và cấp trên chế ước đối với Cơ quan điều tra cùng cấp và cấp dưới, còn Cơ quan điều tra chỉ có quyền kiểm tra, giám sát đối với Viện kiểm sát cùng cấp. Tính chất kiểm tra, giám sát của Cơ quan điều tra đối với Viện kiểm sát có mức độ nhất định và không có đầy đủ các yêu cầu của sự chế ước. Phân biệt khái niệm “chế ước” và “giám sát” cho thấy, giám sát chỉ là một phần của chế ước, chế ước có hiệu lực pháp lý cao hơn giám sát, nếu giám sát là việc kiểm tra, theo dõi thì chế ước bao gồm cả kiểm tra, theo dõi và thực hiện các biện pháp khác nhằm bảo đảm hoạt động được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, nếu Cơ quan điều tra phát hiện hoạt động của Viện kiểm sát cùng cấp không có căn cứ, trái pháp luật thì chỉ có quyền đề nghị Viện kiểm sát cấp trên xem xét, quyết định mà không có quyền yêu cầu hoặc hủy bỏ các quyết định của Viện kiểm sát. Thứ ba, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, quyền chế ước của Viện kiểm sát chỉ được tiến hành đối với hoạt động của Cơ quan điều tra, có nghĩa là đối tượng của sự chế ước chính là quyết định, hành vi của Cơ quan điều tra và Điều tra viên trong quá trình tiến hành tố tụng, còn đối với những vấn đề khác của Cơ quan điều tra như: Tổ chức, bộ máy của Cơ quan điều tra hoặc những hoạt động khác không phải là tiến hành tố tụng (hành chính, dân sự, kỷ luật nội bộ...) thì không phải là đối tượng chịu sự điều chỉnh của Viện kiểm sát. Thứ tư, sự chế ước được tiến hành trong từng chế định tố tụng hình sự và mức độ chế ước rất cao đối với những hoạt động tố tụng liên quan trực tiếp đến quyền con người trong tố tụng hình sự, như khởi tố bị can hoặc áp dụng các biện pháp ngăn chặn (bắt bị can để tạm giam, gia hạn tạm giữ, tạm giam...), đều phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành.

Viện kiểm sát vừa là cơ quan tiến hành tố tụng độc lập có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan điều tra, vừa thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Cơ quan điều tra. Do vậy, trong tố tụng hình sự, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra vừa có sự phối hợp với nhau, nhưng đồng thời có sự phân công, cụ thể: Cơ quan điều tra có nhiệm vụ phát hiện, khởi tố, điều tra vụ án hình sự, còn Viện kiểm sát có nhiệm vụ giám sát hoạt động của Cơ quan điều tra, bảo đảm cho hoạt động điều tra đúng quy định của pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm. Bản chất sự phân công trong tố tụng hình sự là Viện kiểm sát chế ước hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra.

Viện kiểm sát chế ước hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra bằng tổng hợp các quyền năng pháp lý, như: Giám sát, yêu cầu, hủy bỏ, cụ thể như sau:

Một là, Viện kiểm sát có quyền giám sát các hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra một cách trực tiếp (kiểm sát việc khám nghiệm...) hoặc gián tiếp (nghiên cứu hồ sơ). Hoạt động giám sát của Viện kiểm sát là cơ sở để Viện kiểm sát thực hiện quyền chế ước. Bởi vì, chỉ khi Viện kiểm sát nắm được hoạt động của Cơ quan điều tra thì mới xác định được hoạt động điều tra đó đúng hay sai, việc điều tra đó khách quan, đầy đủ hay không mới có căn cứ để Viện kiểm sát thể hiện quan điểm của mình.

Hai là, Viện kiểm sát có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện các hoạt động điều tra, như: Yêu cầu điều tra vụ án, truy nã bị can, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, cung cấp tài liệu, chứng cứ... Tuy nhiên, trên thực tế vẫn có những trường hợp quyền yêu cầu của Viện kiểm sát không được thực hiện nghiêm chỉnh, như: Yêu cầu không khả thi hoặc không giám sát chặt chẽ việc thực hiện.

Ba là, Viện kiểm sát có quyền hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của Cơ quan điều tra. Trên thực tế, Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền năng này khi đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện hoặc khi Cơ quan điều tra không thể tự hủy bỏ khắc phục được. Cùng với thẩm quyền hủy bỏ, Viện kiểm sát phải có thẩm quyền ban hành các quyết định khác thay thế quyết định bị hủy bỏ mới bảo đảm quyền chế ước được thực hiện nghiêm túc và triệt để. Ví dụ: Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án hình sự của Cơ quan điều tra, đồng thời ban hành quyết định khởi tố vụ án hình sự.

Ba hình thức thể hiện trên trong quyền chế ước của Viện kiểm sát đối với Cơ quan điều tra cũng là sự biểu hiện ở ba mức độ chế ước khác nhau. Mức độ chế ước của Viện kiểm sát phản ánh chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra của Viện kiểm sát, nhưng đồng thời cũng phản ánh trình độ nghiệp vụ của Cơ quan điều tra khi tiến hành điều tra vụ án hình sự. Trong một số trường hợp, Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền giám sát, mà không thực hiện quyền yêu cầu hay hủy bỏ khi Cơ quan điều tra đã thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Ngược lại, Viện kiểm sát sẽ thực hiện cả quyền giám sát, yêu cầu và hủy bỏ khi Cơ quan điều tra tiến hành điều tra vụ án không đầy đủ hoặc không thực hiện nghiêm chỉnh yêu cầu của Viện kiểm sát.

Trong thực tiễn, nơi nào Viện kiểm sát thực hiện nghiêm chỉnh, triệt để những quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, phát huy tối đa quyền năng chế ước mà pháp luật giao cho thì ở nơi đó chất lượng điều tra, chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra được nâng lên. Nếu Viện kiểm sát tiến hành kiểm sát điều tra từ đầu hoặc thường xuyên bám sát tiến độ điều tra, yêu cầu khắc phục kịp thời những vi phạm, thiếu sót trong giai đoạn điều tra… thì sẽ khắc phục và hạn chế được các trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung hoặc các trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm.

Như vậy, sự chế ước của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra trong tố tụng hình sự là: Quyền năng giám sát, yêu cầu, huỷ bỏ của Viện kiểm sát do pháp luật quy định nhằm bảo đảm hoạt động của Cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm, bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự.

* Về mối quan hệ “phối hợp” và “chế ước” giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Các chế định tố tụng hình sự khác nhau thì yếu tố phối hợp hoặc chế ước cũng khác khau. Do đó, khi điều tra, thu thập chứng cứ, tài liệu chủ yếu có sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, như: Khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi... để bảo đảm Cơ quan điều tra chủ động, nhanh chóng, kịp thời thu giữ các chứng cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội của bị can. Nhưng khi thực hiện các biện pháp tố tụng liên quan đến quyền con người thì việc chế ước rất chặt chẽ, như: Khởi tố bị can, bắt bị can để tạm giam... đòi hỏi phải có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành.

Quá trình thực hiện mối quan hệ tố tụng này cũng đòi hỏi mỗi chủ thể phải sử dụng đúng mức và linh hoạt hai yếu tố phối hợp và chế ước, nhất là đối với Viện kiểm sát. Trong quá trình tiến hành tố tụng, nếu Viện kiểm sát thực hiện sự phối hợp không đúng với bản chất của nó hoặc chỉ phối hợp mà không chế ước sẽ dẫn đến hiện tượng hữu khuynh, nể nang, né tránh hoặc phụ thuộc vào Cơ quan điều tra hoặc không kiên quyết đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải vì thiếu bản lĩnh nghề nghiệp. Hậu quả dẫn đến những thiếu sót, vi phạm của Cơ quan điều tra, Điều tra viên không được Viện kiểm sát, Kiểm sát viên yêu cầu khắc phục, bổ sung dẫn đến phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung, vụ án bị đình chỉ hoặc bị Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội...

Ngược lại, nếu Viện kiểm sát thực hiện sự chế ước không đúng hoặc chỉ có chế ước mà không có phối hợp, sẽ dẫn đến hiện tượng tả khuynh “quyền anh, quyền tôi”, làm ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động chung của hai cơ quan. Trên thực tế, một số Kiểm sát viên chỉ tìm những thiếu sót, sai phạm của Điều tra viên, Cơ quan điều tra để báo cáo thành tích hoặc cho rằng đó là nhiệm vụ chính, mà không nhận thức được rằng Kiểm sát viên không thể đứng ngoài nhiệm vụ của Điều tra viên mà phải cùng Điều tra viên tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để tìm kiếm chứng cứ chứng minh và làm rõ sự thật của vụ án nhằm xử lý theo quy định của pháp luật. Do vậy, việc sử dụng đúng đắn, linh hoạt hai yếu tố phối hợp và chế ước giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự sẽ góp phần tạo ra sức mạnh tổng hợp, đồng bộ trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm. Đây là đặc điểm ưu việt của hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tiến hành tố tụng của Việt Nam, cần được kế thừa, phát huy trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay.

Tóm lại, mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự là: Sự phối hợp và chế ước của Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra cùng cấp và một số cơ quan khác được giao nhiệm vụ điều tra ban đầu trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, nhằm bảo đảm việc điều tra vụ án đúng quy định của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.

* Hình thức mối quan hệ giữa Cơ quan Điều tra và Viên kiểm sát trong tố tụng hình sự Việt Nam

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự có các hình thức sau:

- Căn cứ hoạt động cơ bản của mối quan hệ, có hình thức phối hợp và hình thức chế ước. Trong quan hệ phối hợp, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện các hình thức trao đổi thông tin trực tiếp như: Gặp, trao đổi trực tiếp, qua điện thoại, thông qua các cuộc họp, giao ban, hội nghị hoặc gửi hồ sơ, tài liệu cho nhau... hoặc thông qua các hình thức văn bản, như: Thông báo, công văn đề nghị... Trong quan hệ chế ước, Viện kiểm sát thực hiện các hình thức chế ước cụ thể như: Giám sát, yêu cầu, phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, huỷ bỏ các lệnh, quyết định tố tụng.

- Căn cứ vào thời điểm Viện kiểm sát phê chuẩn lệnh quyết định của Cơ quan điều tra, có hình thức Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi thực hiện và hình thức Viện kiểm sát phê chuẩn sau khi Cơ quan điều tra thực hiện. Hình thức Viện kiểm sát phê chuẩn trước khi Cơ quan điều tra thực hiện đều là những chế định, biện pháp tố tụng quan trọng liên quan trực tiếp đến quyền tự do thân thể của con người như: Bắt bị can để tạm giam, gia hạn tạm giữ, ra lệnh tạm giam... Bên cạnh đó, hình thức Viện kiểm sát phê chuẩn sau khi Cơ quan điều tra thực hiện là những chế định, biện pháp tố tụng để bảo đảm tính khẩn cấp, kịp thời cho yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, như: Bắt khẩn cấp, khám xét khẩn cấp...

- Căn cứ vào tính chất hoạt động giám sát của Viện kiểm sát, có hình thức giám sát trực tiếp và hình thức giám sát gián tiếp. Viện kiểm sát giám sát trực tiếp được thực hiện thông qua các hoạt động tố tụng đòi hỏi phải có mặt trực tiếp của Kiểm sát viên, như: Kiểm sát việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi... Ngoài ra, Viện kiểm sát còn có hình thức kiểm sát gián tiếp, như: Thông qua việc nghiên cứu hồ sơ, tài liệu, nghe báo cáo...

 

- Căn cứ vào cách thức quan hệ có hình thức trao đổi bằng miệng và hình thức trao đổi bằng văn bản. Hình thức trao đổi trực tiếp hoặc gọi điện thoại của Điều tra viên và Kiểm sát viên hoặc giữa lãnh đạo hai cơ quan thường được sử dụng để trao đổi thông tin, những vấn đề cần thiết, kịp thời, nhưng không đòi hỏi tính pháp lý cao. Còn việc trao đổi bằng văn bản là hình thức quan hệ chủ yếu giữa hai ngành theo trình tự, thủ tục, thẩm quyền được quy định rất chặt chẽ về nội dung, hình thức trong Bộ luật Tố tụng Hình sự và là căn cứ pháp lý chủ yếu giữa hai cơ quan tiến hành tố tụng.

- Căn cứ các chế định tố tụng hình sự được Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, nội dung và hình thức mối quan hệ tố tụng giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được biểu hiện cụ thể trong các chế định tố tụng hình sự, như: Trong việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; trong việc khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; trong việc áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn; trong việc thu thập chứng cứ và lập hồ sơ vụ án hình sự; trong việc kết thúc điều tra đề nghị truy tố, đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại, phục hồi điều tra.

3. Một số vướng mắc, bất cập chủ yếu trong mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự hiện hành

- Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có những nguyên tắc phối hợp, chế ước rất quan trọng hình thành mô hình tố tụng hình sự nhưng chưa được pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể, dẫn đến nhận thức chưa thống nhất, việc thực hiện còn nhiều hạn chế, bất cập và chưa hiệu quả.

- Trong các lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự chưa quan tâm đến nguyên tắc cơ bản của mối quan hệ tố tụng hình sự giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát dẫn đến việc thực hiện mối quan hệ tố tụng hình sự này gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, bất cập, làm hạn chế quyền công tố của Viện kiểm sát.

Điển hình là Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 quy định thẩm quyền của Viện kiểm sát rộng, dẫn đến chồng chéo, trùng lặp và không phân định được trách nhiệm của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 tuy đã phân định quyền hạn, nhiệm vụ của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, nhưng việc quy định mang tính biệt lập và không bảo đảm nguyên tắc chế ước, dẫn đến thẩm quyền của Viện kiểm sát bị bó hẹp, như: Viện kiểm sát không có thẩm quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi ra quyết định hủy bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra, chỉ được khởi tố bị can sau khi vụ án đã kết thúc điều tra chuyển hồ sơ đến Viện kiểm sát hoặc miễn tố là thẩm quyền duy nhất của Viện kiểm sát nhưng Cơ quan điều tra thực hiện là chủ yếu, dẫn đến bỏ lọt tội phạm; mặt khác, nhiều hoạt động tố tụng còn nặng về thủ tục hành chính (Viện kiểm sát thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đều phải chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra...) dẫn đến việc các cơ quan tiến hành tố tụng phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần, làm kéo dài thời hạn giải quyết vụ án...

- Pháp luật hiện hành chưa phân định cụ thể trách nhiệm giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, nên chưa đề cao được trách nhiệm của từng cơ quan tiến hành tố tụng hình sự nhất là trường hợp có oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

- Sự phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong một số trường hợp cụ thể chưa chặt chẽ, chưa phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của các cơ quan tiến hành tố tụng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự; cơ chế pháp lý để bảo đảm sự phối hợp từ cả hai phía và với mục đích chung của tố tụng hình sự còn chưa rõ ràng.

- Viện kiểm sát là cơ quan có thẩm quyền chế ước các hoạt động điều tra, song cơ chế để bảo đảm cho Viện kiểm sát có vị trí, vai trò quan trọng và quyết định trong tố tụng hình sự chưa được thể hiện rõ rệt. Trong đó, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát chưa được tổ chức một cách độc lập, chuyên biệt với tư cách là những cơ quan tư pháp quan trọng trong bộ máy nhà nước ta. Viện kiểm sát có thẩm quyền chế ước hoạt động điều tra nhưng chưa có cơ chế pháp lý chặt chẽ để bảo đảm thực hiện...

4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát

4.1. Sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

Hiện nay, khái niệm “cơ quan tư pháp” chưa có nhận thức thống nhất, nên việc xác định phạm vi, đối tượng của công tác kiểm sát hoạt động tư pháp còn nhiều hạn chế, bất cập; mặt khác, Cơ quan điều tra là một trong những cơ quan  trực thuộc hệ thống các cơ quan tư pháp có vị trí, vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước ta và trong đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng chưa được quy định cụ thể trong Hiến pháp. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này cần quy định Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án là các cơ quan tư pháp; đồng thời, tiếp tục quy định Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp để bảo đảm mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, phù hợp với cách làm của nhiều nước trên thế giới, kế thừa và phát huy những ưu điểm trong mô hình tố tụng hình sự ở nước ta trong những năm qua, phù hợp với chủ trương cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

4.2. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Một là, mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự là mối quan hệ tố tụng quan trọng, phức tạp và đặc thù, do vậy, cần phải có điều luật quy định về nguyên tắc phối hợp, chế ước giữa Viện kiểm sát với Cơ quan điều tra để nhận thức thống nhất và thực hiện nghiêm chỉnh trong toàn bộ quá trình tố tụng hình sự.

Hai là, cần luật hóa các hoạt động điều tra ban đầu để Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra từ khi Cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp nghiệp vụ. Phát hiện, điều tra tội phạm là một hoạt động nghiệp vụ đặc thù để xác định tội phạm và hỗ trợ công tác điều tra, nên những hoạt động này cần phải được thực hiện một cách bí mật và có hiệu quả. Tuy nhiên, đây là những hoạt động hết sức phức tạp, liên quan đến quyền tự do của con người và có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc bảo đảm không bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội. Vì vậy, cần phải được luật hóa và có sự giám sát chặt chẽ của Viện kiểm sát cùng cấp, trong những trường hợp phức tạp cần phải được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát trước khi thi hành.

Ba là, để bảo đảm việc phát hiện tội phạm mang tính chủ động và nâng cao trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, Bộ luật Tố tụng Hình sự cần quy định Cơ quan điều tra có trách nhiệm “phát hiện tội phạm”, còn Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc phát hiện tội phạm của Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra có trách nhiệm cung cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp toàn bộ các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, kể cả những vụ việc Cơ quan điều tra hoặc cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu thực hiện các biện pháp nghiệp vụ để phát hiện tội phạm; Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc thụ lý, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra để bảo đảm không bỏ lọt tội phạm.

Bốn là, bảo đảm các yêu cầu của Viện kiểm sát phải được Cơ quan điều tra thực hiện nghiêm chỉnh, trong trường hợp cần thiết Viện kiểm sát có thể trực tiếp thực hiện mọi biện pháp do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định để bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội (như quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988). Theo hướng này, Bộ luật Tố tụng Hình sự cần quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp điều tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trực tiếp ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, trực tiếp ra quyết định khởi tố bị can hoặc trực tiếp thực hiện các biện pháp điều tra hoặc quyết định tố tụng nếu đã yêu cầu mà Cơ quan điều tra không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm chỉnh.

Năm là, cần phân định cụ thể trách nhiệm của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong toàn bộ quá trình phát hiện tội phạm, khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn, việc điều tra, thu thập chứng cứ và lập hồ sơ vụ án hình sự để nâng cao trách nhiệm của từng cơ quan; đồng thời, nâng cao hiệu quả phối hợp, chế ước giữa hai cơ quan này trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự.

Sáu là, cần quy định quyền hạn đề ra yêu cầu điều tra của Viện kiểm sát trong khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra thành một chế định tố tụng hình sự bảo đảm Viện kiểm sát thực hiện tốt việc chỉ đạo, định hướng hoạt động điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự.

Bảy là, cần quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của một số chủ thể được giao tiến hành một số hoạt động điều tra ban đầu và mối quan hệ của các chủ thể này với Viện kiểm sát có thẩm quyền để bảo đảm việc tiến hành tố tụng chặt chẽ theo quy định của pháp luật.

Từ những vấn đề chung nêu trên, kiến nghị hoàn thiện Bộ luật Tố tụng Hình sự đối với những vấn đề cụ thể như sau:

1. Bổ sung một điều quy định về nguyên tắc hoạt động của mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự như sau:

Điều... Mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Trong quá trình tiến hành tố tụng hình sự, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát phối hợp chặt chẽ và bảo đảm sự chế ước của Viện kiểm sát đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ điều tra theo quy định của pháp luật; bảo đảm việc phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.

2. Do công tác tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm là hoạt động ban đầu rất quan trọng và phức tạp, nhưng hiện nay, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 mới chỉ quy định tại 3 điều luật (Điều 101, Điều 102 và Điều 103). Vì vậy, cần quy định công tác này thành một chương trong Bộ luật Tố tụng Hình sự về công tác phát hiện, tiếp nhận, giải quyết và kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, trên cơ sở các điều: Điều 101, Điều 102, Điều 103 của Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành.

3. Cần bổ sung vào khoản 1 Điều 103 của Bộ luật Tố tụng Hình sự cụm từ: “Cơ quan điều tra có trách nhiệm phát hiện tội phạm”. Đồng thời, tách khoản 3 và khoản 4 Điều 103 Bộ luật Tố tụng Hình sự hiện hành để bổ sung một điều mới trong Bộ luật Tố tụng Hình sự sửa đổi, bổ sung tới đây, cụ thể như sau:

Điều... Kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trong thời hạn ba ngày kể từ khi nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, Cơ quan điều tra, các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có trách nhiệm cung cấp cho Viện kiểm sát cùng cấp về nội dung tin báo, tố giác về tội phạm để kiểm sát việc giải quyết.

Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện yêu cầu của Viện kiểm sát trong việc điều tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm thì Viện kiểm sát trực tiếp điều tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm và quyết định việc khởi tố.

4. Bổ sung vào khoản 1 Điều 104 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: “Viện kiểm sát quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp đã yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố nhưng không ra quyết định khởi tố vụ án hình sự.”

5. Sửa đổi, bổ sung khoản 5 Điều 126 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: “5. Trong trường hợp phát hiện có người đã thực hiện hành vi phạm tội chưa bị khởi tố bị can thì Viện kiểm sát yêu cầu Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can. Nếu đã yêu cầu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện thì  Viện kiểm sát ra quyết định khởi tố bị can. Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ra quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra.”

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 127 của Bộ luật Tố tụng Hình sự theo hướng: Trong thực tiễn không nhất thiết mọi trường hợp thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đều phải chuyển hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung mà chỉ nên quy định trong những trường hợp cần thiết. Do vậy, đề nghị sửa đổi, bổ sung đoạn 2 khoản 2 Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự như sau: “Trong trường hợp cần thiết, sau khi Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải gửi cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra”.

7. Về việc bảo đảm nhận thức thống nhất về thẩm quyền hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, cần thực hiện đúng quy định tại đoạn 2 khoản 2 Điều 94 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: “Đối với những biện pháp ngăn chặn do Viện kiểm sát phê chuẩn thì việc huỷ bỏ hoặc thay thế phải do Viện kiểm sát quyết định” và bỏ đoạn 2 khoản 6 Điều 120 của Bộ luật Tố tụng Hình sự đã quy định: “Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác”. Bởi lẽ, khi đã hết thời hạn tạm giam thì hiệu lực của lệnh tạm giam không còn hiệu lực, phải trả tự do cho họ; đồng thời, để tránh cách hiểu và vận dụng không thống nhất hiện nay.

4.3. Hoàn thiện Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân

- Quy định một chương riêng về tổ chức và hoạt động của Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, trong đó, quy định thẩm quyền, tổ chức, hoạt động và mối quan hệ giữa hoạt động điều tra của Viện kiểm sát với chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.

- Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ thực hành quyền công tố với chức năng, nhiệm vụ kiểm sát các hoạt động tư pháp trong tố tụng hình sự.

- Quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân trong việc phối hợp, chế ước đối với hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra.

- Phân định rõ thẩm quyền tố tụng và thẩm quyền quản lý hành chính trong hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân.

- Mở rộng quyền hạn tiến hành tố tụng cho Kiểm sát viên, phân định quyền hạn giữa Kiểm sát viên với lãnh đạo đơn vị nghiệp vụ (cấp Vụ, cấp Phòng), Lãnh đạo Viện kiểm sát.

- Quy định cụ thể quyền năng pháp lý cho Viện kiểm sát để chủ động và quyết định trong hoạt động tố tụng, như quy định Viện kiểm sát có thẩm quyền: Phân công, thay đổi Điều tra viên điều tra đối với vụ án; có các chế định tố tụng chặt chẽ để bảo đảm Viện kiểm sát chủ động quyết định trong các hoạt động tố tụng đối với việc nắm, quản lý tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố, khởi tố vụ án, khởi tố bị can... và Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp thực hiện các chế định tố tụng này ngay trong giai đoạn điều tra vụ án nếu việc yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện không đạt hiệu quả.

- Bên cạnh việc quy định Viện kiểm sát có thực quyền để bảo đảm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, cần quy định chế tài cụ thể để xử lý những trường hợp Cơ quan điều tra không thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của Viện kiểm sát dẫn đến oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm.

4.4. Ban hành Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự

Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự lần đầu tiên được ban hành năm 1989, đã góp phần quan trọng hình thành và phát triển hệ thống Cơ quan điều tra các cấp thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và Viện kiểm sát nhân dân tối cao ngày càng chuyên nghiệp, hiệu quả, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm hình sự. Tuy nhiên, trước yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, yêu cầu cải cách tư pháp hội nhập, cần thiết phải pháp điển hóa và nâng Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự thành Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự.

Yêu cầu đặt ra cho việc xây dựng Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự là củng cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý về tổ chức và hoạt động điều tra hình sự đặt trong mối quan hệ với Viện kiểm sát có thẩm quyền, nhằm bảo đảm các điều kiện về tổ chức bộ máy, phân công hợp lý thẩm quyền, trách nhiệm phát hiện tội phạm và điều tra tội phạm; nâng cao khả năng hợp tác quốc tế trong điều tra tội phạm, bảo đảm chế độ, chính sách cần thiết, phục vụ tốt yêu cầu phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh chính trị, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội trong tình hình mới.

Ngoài những nội dung cơ bản kế thừa Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự hiện hành, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự cần xây dựng những nội dung liên quan đến việc luật hóa các hoạt động điều tra ban đầu, quy định cụ thể thẩm quyền, trách nhiệm của các Cơ quan điều tra, về mối quan hệ và trách nhiệm giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động phát hiện tội phạm, khởi tố, điều tra vụ án hình sự.

4.5. Ban hành Quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự

Phối hợp và chế ước giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát là một hệ thống yếu tố liên kết phức tạp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự, trong đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Cơ quan điều tra hình sự chỉ quy định những vấn đề mang tính nguyên tắc, do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần sớm có văn bản hướng dẫn và thể chế hóa những quy định của luật để chi tiết, cụ thể mối quan hệ này nhằm bảo đảm nhận thức thống nhất và hoạt động có hiệu quả.

Mặt khác, trong thực tiễn, các cơ quan tiến hành tố tụng trong đó có Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát ở các cấp đã có nhiều quy chế, quy định phối hợp, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác phối hợp chế ước giữa hai ngành. Do vậy, việc các cơ quan có thẩm quyền như Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Quốc phòng cần ban hành quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong hoạt động tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng và cần thiết để các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp vận dụng. Việc ban hành quy chế phối hợp tùy theo điều kiện, đặc điểm cụ thể ở địa phương.

(1)  Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2008), Số Chuyên đề về Viện kiểm sát/Viện công tố một số nước trên thế giới (số 1+2), Thông tin khoa học Kiểm sát.

Chương trình phát triển Liên hợp quốc, Việt Nam (2010), Dự thảo báo cáo nghiên cứu về tổ chức và chức năng của hệ thống tư pháp 5 nước chọn lọc: Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Liên Bang Nga.

(2)  Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2011), Đề án và Phụ lục Đề án mô hình tố tụng hình sự Việt Nam, Hà Nội.

(3) Hán Việt từ điển (1992), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.


Nguyễn Tiến Sơn - Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online



 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi