Chủ Nhật, 8/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, căn cứ, thẩm quyền và thủ tục áp dụng từng biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam) đối với người chưa thành niên phạm tội được quy định như sau:

1. Bắt người chưa thành niên phạm tội

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự có thể chia biện pháp bắt người chưa thành niên phạm tội thành: Bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội để tạm giam; bắt người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp khẩn cấp; bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Trong đó:

- Bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội để tạm giam là bắt người sau khi có lệnh tạm giam hoặc quyết định của cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Căn cứ bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội để tạm giam được quy định tại Điều 80 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Để bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi để tạm giam phải có đủ các điều kiện cần và đủ sau đây: Một là, có lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam của những người có thẩm quyền; hai là, người chưa thành niên bị bắt để tạm giam phải là bị can, bị cáo phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Để bắt bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi cũng phải có đủ các điều kiện cần và đủ nêu trên; trong đó, điều kiện thứ nhất giống như đối với người chưa thành niên phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Còn điều kiện thứ hai là, người chưa thành niên phạm tội bị bắt để tạm giam phải là bị can, bị cáo phạm tội về tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Tại khoản 3 Điều 80 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định “không được bắt người vào ban đêm, trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này”. Theo chúng tôi, khoản 3 quy định thừa nội dung được bắt người trong trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã vào ban đêm. Để hoàn chỉnh pháp luật, chúng tôi đề nghị sửa lại quy định tại khoản 3 Điều 80 Bộ luật Tố tụng Hình sự theo hướng bỏ cụm từ “trừ trường hợp bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang hoặc bắt người đang bị truy nã quy định tại Điều 81 và Điều 82 của Bộ luật này”.

- Bắt người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp khẩn cấp là bắt người đang chuẩn bị thực hiện tội phạm hoặc sau khi thực hiện tội phạm thì bỏ trốn, cản trở việc điều tra khám phá tội phạm. Theo quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì có ba căn cứ bắt người trong trường hợp khẩn cấp sau đây: Một là, khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;hai là, khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; ba là, khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ. Nhưng theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì: Chỉ được bắt khẩn cấp người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; chỉ được bắt khẩn cấp người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng do cố ý, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Quy định tại khoản 2 Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự trái với quy định tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự và không thể áp dụng khoản 2 Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự để bắt khẩn cấp người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm nghiêm trọng do cố ý. Mặt khác, tại điểm b khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự không quy định tội phạm mà người chưa thành niên vừa thực hiện thì bị người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm trông thấy là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Và tại điểm c khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng không quy định dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người chưa thành niên bị tình nghi thực hiện tội phạm là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm cũng cho thấy, không thể xác định được ngay các tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hay tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Do vậy, nếu căn cứ vào quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì không thể bắt khẩn cấp người chưa thành niên phạm tội khi có các căn cứ quy định tại các điểm b và c khoản 1 Điều 81 Bộ luật Tố tụng Hình sự; nếu như thế, thì sẽ rất khó khăn cho việc điều tra vụ án. Đây cũng chính là một lý do cần thiết phải sửa đổi quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

- Bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã được thực hiện theo quy định tại Điều 82 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Việc Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định việc bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã phải theo quy định tại hai điều luật này là rất mâu thuẫn và tạo nên tính không khả thi của luật. Bởi lẽ, Điều 82 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định chỉ được bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã khi có một trong bốn căn cứ sau đây: Một là, đang thực hiện tội phạm; hai là, ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện; ba là, đang thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm thì bị phát hiện nên đã bỏ chạy và bị đuổi bắt; bốn là, đang có lệnh truy nã. Còn theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì chỉ được bắt người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ được bắt người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Người có thẩm quyền bắt người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã là bất kỳ ai. Họ không thể biết được các tội phạm mà người bị bắt là tội phạm nào (tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng). Nếu phải có đủ căn cứ quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì quy định về việc bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã sẽ mất đi ý nghĩa kịp thời phát hiện và xử lý tội phạm. Việc nghiên cứu sửa đổi quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về việc bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang theo hướng bỏ quy định về loại tội mà người bị bắt quả tang thực hiện. Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua. Nghiên cứu thực tiễn áp dụng biện pháp bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang trong thời gian qua cho thấy, tất cả các trường hợp bắt người chưa thành niên phạm tội quả tang được thực hiện khi có một trong những căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 82 Bộ luật Tố tụng Hình sự mà không cần phải có căn cứ quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Và tất cả đều không bị coi là vi phạm thủ tục tố tụng hình sự. Cơ quan Công an, Uỷ ban nhân dân nhận người bị bắt đều lập biên bản và giải người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

\'\'
 

Hội thảo thủ tục TTHS đối với người chưa thành niên - những vướng mắc và đề xuất, kiến nghị

Mặt khác, xét về tính chất, căn cứ, thủ tục thì bắt người đang có lệnh truy nã khác hẳn việc bắt người phạm tội quả tang, bởi lẽ: Bắt người đang có lệnh truy nã là bắt người mà trước đây đã có lệnh bắt hoặc đã bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thậm chí đang thi hành án phạt tù thì bỏ trốn. Họ có thể là bị can, bị cáo tại ngoại nhưng trốn tránh hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của Viện kiểm sát, Toà án. Đối với họ Cơ quan điều tra đã tự mình hoặc theo yêu cầu của Viện kiểm sát, Toà án ra quyết định truy nã. Quyết định truy nã do Thủ trưởng Cơ quan điều tra ký; trong đó, ghi rõ họ tên, tuổi, nơi trú quán, đặc điểm để nhận dạng người bị truy nã, dán ảnh kèm theo (nếu có) và tội phạm mà người đó đã bị khởi tố, truy tố, bị đưa ra xét xử hoặc bị kết án. Quyết định truy nã được thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phát hiện, bắt và giữ người bị truy nã. Cho nên, việc nghiên cứu tách việc bắt người đang bị truy nã ra khỏi Điều 82 Bộ luật Tố tụng Hình sự và xây dựng thành một điều luật độc lập không phải là không có lý do. Theo chúng tôi cần xây dựng một điều luật độc lập quy định về việc bắt người đang bị truy nã như sau:

“Điều ... Bắt người đang bị truy nã

1. Đối với người đang bị truy nã thì bất kỳ người nào cũng có quyền bắt, tước vũ khí của người bị bắt và giải ngay đến cơ quan Công an, Viện kiểm sát hoặc Uỷ ban nhân dân nơi gần nhất. Các cơ quan này phải lập biên bản và giải ngay người bị bắt đến Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Sau khi nhận người bị bắt và lấy lời khai của người đó, Cơ quan điều tra phải ra lệnh tạm giam và giải ngay người đó đến trại tạm giam nơi gần nhất, đồng thời phải thông báo cho cơ quan đã ra lệnh truy nã biết. Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra lệnh truy nã phải ra quyết định đình nã và trong thời hạn không quá ba mươi ngày phải đến nhận người bị truy nã.

Thời hạn tạm giam người bị bắt theo lệnh truy nã là không quá ba mươi ngày”.

2. Tạm giữ người chưa thành niên phạm tội

Tạm giữ người chưa thành niên phạm tội được quy định tại Điều 86 và Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Theo quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì tạm giữ là biện pháp ngăn chặn có thể áp dụng đối với người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc đối với người bị bắt theo quyết định truy nã nhằm ngăn chặn tội phạm, ngăn chặn người bị bắt trốn tránh việc điều tra; để xác minh tội phạm và để quyết định việc truy cứu trách nhiệm hình sự (khởi tố bị can) đối với họ. Tại thời điểm ra quyết định tạm giữ, người có thẩm quyền không thể biết chính xác người bị tạm giữ phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; do vậy, sẽ là thừa và khó thực hiện khi tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: Chỉ được tạm giữ người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Và chỉ được tạm giữ người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 86 Bộ luật Tố tụng Hình sự trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

3. Tạm giam bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội

Việc tạm giam bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội phụ thuộc vào độ tuổi của người chưa thành niên, loại tội phạm mà người đó thực hiện. Theo quy định tại Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự, thì chỉ được tạm giam người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng. Chỉ được tạm giam người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có đủ căn cứ quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự, trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.

Về thời hạn tạm giam bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội được quy định tại các Điều 120, 166, 177, 228, 243, 250 và Điều 287 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tại các Điều 120, 166, 177 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội phụ thuộc vào tội phạm mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên bị khởi tố, truy tố, bị đưa ra xét xử. Cụ thể như sau: Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng (Điều 120). Thời hạn tạm giam bị can để truy tố là hai mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, ba mươi ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra (khoản 1 Điều 166). Thời hạn tạm giam bị can, bị cáo để chuẩn bị xét xử là ba mươi ngày, đối với tội phạm ít nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm nghiêm trọng, hai tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng, ba tháng đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ án. Vấn đề đặt ra là trong vụ án có cả người đã thành niên, người chưa thành niên phạm tội và họ bị khởi tố, truy tố, bị đưa ra xét xử về các tội phạm khác nhau, thì thời hạn tạm giam được tính theo bị can, bị cáo phạm tội nặng nhất hay tính theo từng bị can, bị cáo về tội mà họ bị khởi tố, truy tố, bị đưa ra xét xử. Theo chúng tôi, thì thời hạn tạm giam đối với từng bị can, bị cáo (trong đó có cả bị can, bị cáo là người chưa thành niên phạm tội) được tính theo quy định về tội mà họ bị khởi tố, truy tố, bị đưa ra xét xử. Do vậy, khi thời hạn tạm giam bị can, bị cáo là người chưa thành niên (phạm tội nhẹ hơn) đã hết nhưng vẫn chưa ra được kết luận điều tra, cáo trạng, quyết định đưa vụ án ra xét xử hoặc tổ chức phiên toà sơ thẩm, thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà có thể gia hạn tạm giam bị can, bị cáo (phạm tội nhẹ hơn) theo quy định tại các Điều 120, 166, 177 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều 228 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định việc bắt tạm giam bị cáo sau khi tuyên án như sau: Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà bị phạt tù nhưng đến ngày kết thúc phiên toà thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp: Bị cáo bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo; thời gian tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn bị cáo đã bị tạm giam. Trong trường hợp bị cáo không bị tạm giam nhưng bị phạt tù thì họ chỉ bị bắt tạm giam để chấp hành hình phạt khi bản án đã có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam ngay bị cáo nếu có căn cứ cho thấy bị cáo có thể trốn hoặc tiếp tục phạm tội. Thời hạn tạm giam bị cáo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Thời hạn tạm giam để chuẩn bị xét xử phúc thẩm đối với bị cáo là người chưa thành niên được quy định tại Điều 243 Bộ luật Tố tụng Hình sự phụ thuộc vào cấp Toà án xét xử phúc thẩm vụ án. Cụ thể: Toà án cấp tỉnh có quyền ra lệnh tạm giam đến 60 ngày; Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự Trung ương có quyền ra lệnh tạm giam đến 90 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án. Đối với bị cáo đang bị tạm giam mà đến ngày mở phiên toà thời hạn tạm giam đã hết, nếu xét thấy cần tiếp tục tạm giam để hoàn thành việc xét xử, thì Toà án ra lệnh tạm giam cho đến khi kết thúc phiên toà. Đối với bị cáo đang bị tạm giam bị xử phạt tù mà đến ngày kết thúc phiên toà thời hạn tạm giam đã hết thì Hội đồng xét xử ra quyết định tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án, trừ trường hợp: Bị cáo bị xử phạt tù, nhưng được hưởng án treo; thời gian tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn bị cáo đã bị tạm giam. Đối với bị cáo không bị tạm giam, nhưng bị xử phạt tù thì Hội đồng xét xử có thể ra quyết định bắt tạm giam bị cáo ngay sau khi tuyên án, trừ các trường hợp được hoãn chấp hành hình phạt tù theo quy định tại Điều 261 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; thời hạn tạm giam là bốn mươi lăm ngày, kể từ ngày tuyên án. Tại các Điều 250 và 287 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định thời hạn tạm giam khi Toà án cấp phúc thẩm, Hội đồng giám đốc thẩm huỷ bản án đối với người chưa thành niên phạm tội để điều tra hoặc xét xử lại là “cho đến khi Viện kiểm sát hoặc Toà án thụ lý lại vụ án”.

Xung quanh việc áp dụng biện pháp tạm giam có một vấn đề được đặt ra trong thực tiễn cần nghiên cứu là có áp dụng biện pháp tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội không bị tạm giam, bỏ trốn hoặc không có lai lịch rõ ràng hay không? Theo chúng tôi, thì hành vi bỏ trốn của người chưa thành niên phạm tội không bị tạm giam là hành vi trốn tránh, gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử. Nhân thân người chưa thành niên phạm tội (không có lai lịch rõ ràng) đã chứa đựng những yếu tố gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố và xét xử. Nếu không áp dụng biện pháp tạm giam đối với họ, thì trong một số trường hợp không thể giải quyết được vụ án. Mặt khác, đối với người bị bắt theo quyết định truy nã mà lại thả để họ lại trốn và lại truy nã thì là một vòng luẩn quẩn, tốn công, tốn của. Nhưng để có căn cứ tạm giam người chưa thành niên phạm tội trong các trường hợp này, thì cần nghiên cứu sửa đổi quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Điều 303 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần sửa đổi theo hướng chỉ quy định về việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với người chưa thành niên phạm tội như sau:

“Điều ... áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên phạm tội.

1. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm) đối với người chưa thành niên phạm tội được thực theo quy định tại các Điều 80, 81, 82, 86, 91, 92 và Điều 93 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ và theo thủ tục quy định tại Điều 88 Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã hoặc không có lai lịch rõ ràng;

b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

3. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể bị tạm giam nếu có đủ căn cứ và theo thủ tục quy định tại Điều 88 Bộ luật này, nhưng chỉ trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng do cố ý, phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã hoặc không có lai lịch rõ ràng;

b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

4. Việc thay đổi, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn được thực hiện như quy định chung đối với người đã thành niên”./.

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát in số 06/2007

Thông tin về tác giả: Thạc sỹ Luật học, Thẩm phán Tòa án quân sự Trung ương


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi