Chủ Nhật, 8/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Người phiên dịch, người giám định và vấn đề tính hợp pháp của chứng cứ

Chứng cứ phải có 3 thuộc tính, đó là tính xác thực, tính hợp pháp và tính liên quan. Trong ba thuộc tính nói trên, tính xác thực được coi như điều kiện “cần” của chứng cứ và hai thuộc tính còn lại được coi như điều kiện “đủ” của chứng cứ. Tính xác thực là thuộc tính khách quan vốn có của chứng cứ, nó đòi hỏi người thu thập chứng cứ phải phát hiện ra, thu giữ chúng và tôn trọng tính xác thực của chúng, không được áp đặt quan điểm chủ quan về tính xác thực của chứng cứ, trong khi đó, tính hợp pháp là một thuộc tính phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ của người có trách nhiệm, quyền hạn. Nếu như một tình tiết tuy xác thực nhưng lại được thu thập bằng biện pháp không hợp pháp thì tình tiết này không có giá trị chứng minh về tội phạm và người phạm tội. Đây là một đòi hỏi nghiêm ngặt của quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự, bởi lẽ quá trình chứng minh trong tố tụng hình sự là quá trình xác định sự thật khách quan về sự việc phạm tội, một sự kiện pháp lý đã xảy ra, thậm chí đã xảy ra từ rất lâu. Quá trình chứng minh sự thật khách quan về vụ án hình sự đòi hỏi phải tuân theo một nguyên tắc là: Sự thật khách quan không thể được xác định bằng mọi giá; sự thật khách quan chỉ có thể được xác định bằng (thông qua) những biện pháp hợp pháp, đó là những biện pháp do pháp luật tố tụng hình sự qui định, được tiến hành theo những trình tự, thủ tục nhất định. Tuy nhiên, do chứng cứ được chứa đựng trong nhiều nguồn chứng cứ khác nhau nên việc qui định các điều kiện để một chứng cứ được coi là hợp pháp cũng rất khác nhau tuỳ thuộc vào nguồn chứng cứ chứa đựng nó. Ví dụ như nếu chứng cứ được thu thập từ nguồn vật chứng và chứng cứ này muốn hợp pháp thì việc thu thập, bảo quản vật chứng phải tuân thủ theo một trình tự, thủ tục tố tụng nhất định. Nếu chứng cứ thu được từ lời khai của người tham gia tố tụng thì việc lấy lời khai cũng phải tuân theo một thủ tục chặt chẽ. Nếu như quá trình thu thập các chứng cứ nói trên không đáp ứng các yêu cầu (điều kiện) trên thì các tình tiết thu được không có giá trị chứng minh. Từ những vấn đề nêu trên, chúng ta xem xét một số vấn đề về địa vị pháp lý của người phiên dịch và người giám định với vấn đề bảo đảm tính hợp pháp của chứng cứ.

1- Người phiên dịch với vấn đề tính hợp pháp của chứng cứ.

Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình (Điều 24 Bộ luật Tố tụng Hình sự), trong trường hợp này phải có phiên dịch. Như vậy, người phiên dịch là một trong những người tham gia tố tụng, họ có vai trò khá quan trọng trong việc bảo đảm tính xác thực và tính hợp pháp của chứng cứ. Nếu người phiên dịch dù cố ý hay vô ý phiên dịch không đầy đủ, không đúng nội dung của các thông tin trong ngôn ngữ của người tham gia tố tụng ra tiếng (hoặc chữ) Việt thì sẽ làm giảm hoặc làm mất tính xác thực của thông tin. Chính vì tầm quan trọng như vậy của người phiên dịch trong việc bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ nên pháp luật tố tụng hình sự hiện hành qui định “người phiên dịch” là người tham gia tố tụng chứ không phải là người tiến hành tố tụng. Theo pháp luật tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng là người có trách nhiệm chứng minh, do vậy họ không thể đồng thời làm thêm nhiệm vụ của người phiên dịch vì như vậy sẽ không bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Nói cách khác, để bảo đảm tính xác thực, tính khách quan của chứng cứ thì trong những trường hợp phải có người phiên dịch, người phiên dịch phải là một người khác, không phải là người tiến hành tố tụng của vụ án đó. Cũng cần chú ý rằng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, khái niệm người tiến hành tố tụng luôn gắn liền với một vụ án cụ thể chứ không có khái niệm người tiến hành tố tụng nói chung, do vậy một Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán không có nghĩa sẽ đương nhiên là người tiến hành tố tụng của mọi vụ án mà chỉ khi người đó được phân công giải quyết một vụ án hình sự cụ thể thì sẽ là người tiến hành tố tụng của vụ án đó.

Trong thực tiễn hoạt động tư pháp hiện nay ở nhiều nơi, nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu có tình trạng thiếu người phiên dịch, vì vậy cơ quan tiến hành tố tụng đã trưng dụng cả những chiến sỹ Công an, thậm chí cả các Điều tra viên để làm người phiên dịch ngôn ngữ của người dân tộc ít người. Trường hợp này, đặt ra vấn đề những tình tiết do người phiên dịch này cung cấp có hợp pháp hay không? Trong vấn đề này chúng tôi cho rằng cần chú ý phân biệt, nếu người phiên dịch này vừa làm nhiệm vụ phiên dịch, lại vẫn được phân công làm Điều tra viên hay Kiểm sát viên để tiến hành tố tụng trong vụ án đó thì trường hợp này không hợp pháp và đương nhiên các tình tiết do người phiên dịch này cung cấp không có giá trị chứng minh; còn nếu người phiên dịch này tuy là cán bộ, chiến sỹ Công an hay Kiểm sát viên nhưng không được phân công làm người tiến hành tố tụng trong vụ án đó thì các tình tiết do người phiên dịch này cung cấp về nguyên tắc vẫn có thể sử dụng làm chứng cứ. Trong trường hợp này, người chiến sỹ Công an hay cán bộ Kiểm sát đó sẽ tham gia tố tụng với vai trò là người tham gia tố tụng, họ sẽ có những quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, người tham gia tố tụng. Họ có thể bị Toà án triệu tập tham gia phiên toà để xác định tính chân thực của những thông tin mà họ đã phiên dịch. Cơ sở pháp lý để xác định họ có phải là người tiến hành tố tụng hay không là ở chỗ họ có quyết định phân công làm người tiến hành tố tụng hay không?

2- Người giám định với vấn đề tính hợp pháp của chứng cứ

Theo qui định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004, người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định và được các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trưng cầu theo qui định của pháp luật. Việc trưng cầu giám định là một hoạt động tố tụng cần thiết để kết luận về phương diện khoa học những vấn đề phát sinh trong quá trình chứng minh. Những kết luận về phương diện khoa học sẽ là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, kết luận về phương diện pháp lý các vấn đề của vụ án hình sự. Việc giám định có thể do một cá nhân người giám định thực hiện và chịu trách nhiệm cá nhân về kết luận giám định của mình hoặc có thể do hội đồng giám định thực hiện theo nguyên tắc kết luận theo đa số nhưng tôn trọng và bảo lưu quan điểm khác biệt của các thành viên trong hội đồng. Nếu theo các qui định pháp luật hiện hành như trên thì các chứng cứ trong kết luận giám định chỉ có giá trị chứng minh nếu người giám định này là do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trưng cầu, điều này đồng nghĩa với việc nếu như kết luận giám định do người tham gia tố tụng tự mình “nhờ” hoặc “thuê” giám định thì không được chấp nhận là nguồn chứng cứ để chứng minh. Trên thực tế đã có vụ án do bản án của Toà án tuyên bị cáo có tội và áp dụng hình phạt với họ căn cứ vào kết luận giám định do người tham gia tố tụng hình sự “nhờ” một cơ quan có chức năng giám định kết luận nên bản án đó đã bị Viện kiểm sát kháng nghị giám đốc thẩm theo hướng huỷ bản án để điều tra lại. Người giám định phải là người do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trưng cầu, đây là qui định hiện hành của pháp luật tố tụng hình sự nên buộc người tiến hành tố tụng phải nghiêm chỉnh tuân theo. Tuy nhiên đây là qui định mà chúng tôi cho rằng cần được xem xét lại bởi lẽ nếu như chúng ta tôn trọng tính “độc lập” và “tự chịu trách nhiệm” về kết luận giám định của người giám định hoặc Hội đồng giám định thì việc người giám định hoặc Hội đồng giám định đó do ai mời hoặc do ai trưng cầu không có ý nghĩa thực tế và không thể qui định tính hợp pháp của chứng cứ trong kết luận giám định. Mặt khác, theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thì người tham gia tố tụng có quyền cung cấp chứng cứ cho các cơ quan tiến hành tố tụng; người bào chữa có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết có liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác (Điểm d khoản 2 Điều 58 BLTTHS). Chúng tôi cho rằng, điều quan trọng là người giám định hoặc Hội đồng giám định được mời hoặc được trưng cầu phải có thẩm quyền do pháp luật qui định; kết luận giám định phải dựa trên những cơ sở khách quan và việc giám định được thực hiện bằng những phương pháp khoa học, mặt khác phải qui định rõ trách nhiệm của người giám định đối với kết luận giám định của mình, trong đó có trách nhiệm hình sự đối với hành vi cố ý kết luận giám định sai sự thật.

Một vấn đề tiếp theo đặt ra khi sử dụng chứng cứ từ kết luận giám định, đó là: Theo qui định tại Điều 159 BLTTHS thì “việc giám định lại phải do người giám định khác tiến hành”. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh Giám định tư pháp thì việc giám định lại vẫn có thể do người giám định trước đó tiến hành. Trước hết cần xác định bản chất của trường hợp giám định lại. Theo khoản 1 Điều 33 Pháp lệnh Giám định tư pháp thì: “Việc giám định lại được thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong trường hợp có nghi ngờ về kết quả giám định hoặc có mâu thuẫn giữa các kết luận giám định về cùng một vấn đề cần giám định”. Theo qui định này, giám định lại có nghĩa là do kết quả giám định trước đó bị nghi ngờ là có sai lầm về nội dung nên cần thực hiện lại việc giám định về vấn đề cần giám định đó (chứ không phải về vấn đề khác). Đây là trường hợp có “xung đột” giữa qui phạm pháp luật của quy phạm trong văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn với qui phạm trong văn bản pháp luật có hiệu lực thấp hơn. Trong trường hợp này, về nguyên tắc chúng ta phải áp dụng qui phạm của văn bản có hiệu lực cao hơn. Như vậy, trong các trường hợp cần trưng cầu giám định lại thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải trưng cầu người giám định khác hoặc hội đồng giám định. Đồng thời theo khoản 2 và khoản 3 Điều 33 Pháp lệnh Giám định tư pháp thì trong trường hợp có mâu thuẫn giữa giữa kết luận giám định lần đầu và kết luận giám định lại về cùng một vấn đề cần giám định thì việc giám định lại lần thứ hai phải do Hội đồng giám định thực hiện. Hội đồng giám định do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ quản lý về lĩnh vực cần giám định quyết định thành lập… Trong trường hợp Hội đồng giám định nêu trên đã thực hiện giám định lại lần thứ hai thì không thực hiện giám định lại nữa, trừ trường hợp đặc biệt do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định. Khi áp dụng qui định này cần chú ý kết luận giám định của Hội đồng giám định lần cuối cùng không có nghĩa sẽ đương nhiên có giá trị cao hơn các kết luận khác. Việc sử dụng bản kết luận giám định nào để chứng minh là do quyền của cơ quan và người tiến hành tố tụng theo nguyên tắc chứng cứ phải xác thực, khách quan, hợp pháp, phù hợp với nhau, phản ánh đúng sự thực khách quan về vụ án hình sự.

Khi thực hiện hoạt động tố tụng mời người phiên dịch để dịch các ngôn ngữ khác, dịch cử chỉ của người câm điếc ra tiếng Việt hoặc dịch các quyết định pháp lý từ tiếng Việt ra ngôn ngữ mà người tham gia tố tụng sử dụng (ví dụ như dịch bản cáo trạng ra tiếng Anh để giao cáo trạng cho bị can, bị cáo là người nước ngoài) hoặc khi trưng cầu giám định thì theo nguyên tắc chung đối với các hoạt động tố tụng trong vụ án hình sự và theo Điều 39 Pháp lệnh Giám định tư pháp, việc chi trả kinh phí do các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự chịu trách nhiệm; kinh phí này được lấy từ ngân sách Nhà nước. Các khoản kinh phí này là loại kinh phí đặc thù theo dự toán hàng năm của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Hiện nay, về lý luận cũng như thực tiễn, bên cạnh hoạt động giám định tư pháp theo qui định của BLTTHS và Pháp lệnh Giám định tư pháp, trong tố tụng hình sự còn xuất hiện hoạt động định giá tài sản tuân theo qui định của BLTTHS và Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02 tháng 3 năm 2003 của Chính phủ. Đây là hai loại hoạt động khác nhau. Theo Nghị định số 26 nêu trên, có hai loại Hội đồng định giá, loại thứ nhất là Hội đồng thường xuyên, được thành lập theo qui định tại các Điều 5, 6 và Hội đồng đặc biệt được thành lập theo vụ việc căn cứ theo Điều 7 của Nghị định. Dù ở loại hội đồng nào thì quyền và nghĩa vụ của Hội đồng cũng như của các thành viên đều tuân theo qui định chung tại các Điều 8, 9 và 10 của Nghị định này. Cơ quan tiến hành tố tụng có quyền yêu cầu Hội đồng định giá thường xuyên tiến hành định giá tài sản trong vụ án hình sự cụ thể hoặc yêu cầu thành lập Hội đồng định giá cho từng vụ việc. Hội đồng định giá tài sản cho từng vụ việc sẽ chấm dứt hoạt động khi định giá xong vụ việc đó. Cơ quan tiến hành tố tụng có yêu cầu định giá phải trả chi phí định giá tài sản. Chi phí định giá được lấy từ ngân sách Nhà nước, theo dự toán hàng năm của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Kết luận của Hội đồng định giá tài sản về giá trị của tài sản sẽ là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự giải quyết các vấn đề có liên quan đến tài sản trong vụ án hình sự, ví dụ như vấn đề định khung hình phạt liên quan đến định lượng về giá trị tài sản, vấn đề bồi thường thiệt hại về tài sản.v.v. Khi định giá tài sản, Hội đồng định giá tài sản phải dựa vào các căn cứ định giá tài sản qui định tại Điều 13 của Nghị định số 26. Trong trường hợp cần định giá lại tài sản, cơ quan tiến hành tố tụng cần tuân thủ đúng qui định tại Điều 21 của Nghị định này. Theo khoản 2 của Điều 21, trong trường hợp có mâu thuẫn về kết luận định giá lần đầu và kết luận định giá lại về giá của tài sản cần định giá thì việc định giá lại lần thứ hai phải do Hội đồng định giá tài sản ở Trung ương thực hiện. Kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản ở Trung ương là kết luận cuối cùng. Theo qui định này phát sinh một vướng mắc là: Hiểu như thế nào về giá trị pháp lý của Kết luận định giá lại lần thứ hai của Hội đồng định giá Trung ương? Đây là kết luận có giá trị cuối cùng, đương nhiên huỷ bỏ các kết luận trước đó hay đây chỉ là kết luận cuối cùng theo nghĩa không tiến hành định giá lại nữa, còn việc sử dụng kết luận định giá nào để làm cơ sở chứng minh về vụ án hình sự vẫn là quyền của cơ quan tiến hành tố tụng? Nếu theo nghĩa tự của từ “cuối cùng” và vận dụng tương tự trong các qui định khác, ví dụ như trong các qui định về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo thì “kết luận cuối cùng” được hiểu là kết luận có hiệu lực thi hành, tức là kết luận có giá trị pháp lý cao nhất. Tuy nhiên nếu vận dụng trong trường hợp này để sử dụng kết luận định giá tài sản thì e là không hợp lý vì kết luận của Hội đồng định giá tài sản là nguồn chứng cứ, khi sử dụng và đánh giá chứng cứ phải tuân theo nguyên tắc chung, không thể có sự áp đặt chủ quan. Nếu hiểu rằng kết luận định giá tài sản lại của Hội đồng định giá tài sản ở Trung ương là kết luận cuối cùng có hiệu lực thì có áp đặt quan điểm chủ quan hay không? Đây là vướng mắc cần có hướng dẫn thống nhất của cơ quan có thẩm quyền./. 

ThS. Nguyễn Nông - Nguyên Phó Tổng biên tập Tạp chí Kiểm sát VKSNDTC

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác