Thứ Tư, 19/6/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số vấn đề lý luận về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

Khi xác định một sự việc xảy ra có dấu hiệu của tội phạm, thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án hình sự; Thủ trưởng đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và Thủ trưởng các cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân đội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra ra quyết định khởi tố vụ án trong những trường hợp được quy định tại Điều 111 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại là trường hợp do tính chất của vụ án và vì lợi ích của người bị hại, các cơ quan có thẩm quyền nói trên không tự ý quyết định việc khởi tố vụ án hình sự, mà việc khởi tố vụ án được thực hiện theo yêu cầu của người bị hại. Quy định việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chính là tạo điều kiện cho người bị hại được cân nhắc, tính toán việc khởi tố vụ án hình sự có gây bất lợi cho họ hay không? Đương nhiên, những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chỉ trong giới hạn Nhà nước và xã hội chấp nhận được để bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội và không làm oan người vô tội.

Trước khi có Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, người bị hại không được pháp luật quy định có quyền yêu cầu khởi tố vụ án hình sự, mà thậm chí trong nhiều trường hợp người bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hoặc miễn hình phạt một cách có tình, có lý cho người phạm tội, cũng không được Tòa án chấp nhận. Lúc đó, quan niệm phổ biến không chấp nhận việc khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu khởi tố của người bị hại là: Quan hệ pháp luật hình sự là quan hệ giữa Nhà nước và người phạm tội, trong đó với tính chất là người bảo vệ lợi ích của toàn xã hội, Nhà nước có quyền khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu, tham khảo pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới và tổng kết thực tiễn xét xử ở nước ta, trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, nhà làm luật đã chính thức ghi nhận những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại tại Điều 88 quy định: “Những vụ án về các tôi phạm được quy định tại khoản 1 Điều 109; đoạn 1 khoản 1 Điều 112; đoạn 1 khoản 1 Điều 113; khoản 1 Điều 116; khoản 1 Điều 117 và Điều 126 Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại.

… Trong trường hợp cần thiết, tuy người bị hại rút yêu cầu, Viện kiểm sát hoặc Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án”.

Trong Bộ luật Hình sự năm 1985, các tội \"cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác\", tội \"hiếp dâm\", tội \"làm nhục người khác\", tội \"vu khống\" là thuộc nhóm các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; tội \"xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh\" thuộc nhóm các tội xâm phạm những quyền tự do dân chủ của công dân. Nói cách khác, những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại chỉ được áp dụng đối với trường hợp hành vi phạm tội có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp, tội phạm ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng định khung hình phạt và thuộc hai nhóm tội và các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; các tội xâm phạm những quyền tự do dân chủ của công dân.

Thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 cho thấy, khoản 2 Điều 88 gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, vì chưa quy định cụ thể trường hợp nào là trường hợp cần thiết để Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án khi người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố vụ án hình sự hoặc trường hợp sau một thời gian rút yêu cầu khởi tố, thì người bị hại có quyền làm lại đơn yêu cầu các cơ quan tiến hành tố tụng phục hồi điều tra hay không?

Khắc phục tình trạng này, Điều 105 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định: “1. Những vụ án về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật Hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức”.

Như vậy, so với quy định tương ứng về khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã có một số điểm mới sau đây:

Thứ nhất, bổ sung quy định khi có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

Thứ hai, quy định rõ người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức.

Thứ ba, để bảo đảm thống nhất với quy định về người bị hại tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Điều 105 cũng đã quy định: Trong trường hợp người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất thì người đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố vụ án hình sự.

Thứ tư, ngoài các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại đã được quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã bổ sung thêm 5 trường hợp về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (khoản 1 Điều 105), tội \"cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng\" (khoản 1 Điều 106), tội \"vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác\" (khoản 1 Điều 108), tội \"vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính\" (khoản 1 Điều 109), tội \"cưỡng dâm\" (khoản 1 Điều 113).

Khoản 3 Điều 51 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 còn quy định: “Trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa”.

Những quy định về các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đánh dấu bước tiến bộ về kỹ thuật lập pháp tố tụng hình sự nước ta theo hướng phân định rõ hơn những vụ án công tố và những vụ án tư tố. Tuy nhiên, trong Bộ luật này vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm tư tố và chưa quy định cụ thể về trình tự, thủ tục đối với những vụ án tư tố.

Nghiên cứu những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự của một số nước trên thế giới cho thấy, các nước quy định rất khác nhau. Chẳng hạn: Điều 20 Bộ luật Tố tụng Hình sự của Liên bang Nga quy định: “1. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được thực hiện, việc truy tố hình sự bao gồm cả việc buộc tội trước Tòa án được thực hiện theo thủ tục công tố, công - tư và tư tố. 2. Các vụ án hình sự về các tội phạm được quy định tại các Điều 115, 116, khoản 1 Điều 129 và Điều 130 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga được coi là các vụ án tư tố. Các vụ án này chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp người bị hại và bị can thỏa thuận được với nhau thì vụ án phải bị đình chỉ. Việc thỏa thuận chỉ được thực hiện trước khi Tòa án tiến hành nghị án để tuyên án.

3. Các vụ án hình sự về các tội phạm quy định tại khoản 1 các Điều 131, 136, 137, 138, 139, 146, 147 và Điều 145 Bộ luật Hình sự Liên bang Nga được coi là các vụ án công - tư tố. Các vụ án này chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại nhưng không thể bị đình chỉ khi có thỏa thuận giữa người bị hại và bị can; trừ những trường hợp quy định tại Điều 25 Bộ luật này.

4. Kiểm sát viên cũng như dự Thẩm viên hoặc nhân viên điều tra ban đầu sau khi được sự đồng ý của Kiểm sát viên, có quyền khởi tố vụ án hình sự về bất kỳ tội phạm nào được nêu tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mặc dù không có yêu cầu của người bị hại, nếu như tội phạm đó xâm hại đến người đang ở trong tình trạng bị lệ thuộc hoặc do những nguyên nhân khác mà người đó không có khả năng sử dụng các quyền của mình.

5. Các vụ án hình sự, trừ những vụ án về những tội phạm quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này được coi là các vụ án công tố”(1).

Điều 246 Bộ luật này còn quy định: “1. Sự tham gia của người buộc tội trong quá trình xét xử là bắt buộc.

2. Sự tham gia của Công tố viên là bắt buộc trong quá trình xét xử những vụ án công tố và công - tư tố.

3. Đối với những vụ án tư tố thì người bị hại thực hiện việc buộc tội trong quá trình xét xử”(2).

Từ sự phân tích ở trên cho thấy, những quy định về các trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga có một số điểm khác biệt so với quy định tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự của nước ta như sau:

Thứ nhất, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm được thực hiện, các vụ án hình sự được chia thành ba loại: Các vụ án công tố, các vụ án công - tư tố và các vụ án tư tố.

Thứ hai, quy định cụ thể bốn trường hợp được coi là án tư tố. Đó là các vụ án hình sự về tội gây tổn hại nặng cho sức khỏe do vượt quá giới hạn phòng vệ cần thiết hoặc vượt quá giới hạn cần thiết để bắt giữ người phạm tội, tội cố ý gây tổn hại nhẹ cho sức khỏe, tội \"đưa người trái pháp luật vào bệnh viện tâm thần\", tội \"vu khống\"; các vụ án này chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ.

Thứ ba, quy định cụ thể tám trường hợp được coi là án công - tư tố. Đó là các vụ án hình sự về tội \"làm nhục người khác\", tội \"dâm ô\", tội \"xâm phạm quyền bình đẳng của công dân\", tội \"xâm phạm quyền bất khả xâm phạm về cuộc sống riêng\", tội \"xâm phạm bí mật thư từ, nói chuyện điện thoại, thư tín, điện báo hay các thông tin khác\", tội \"từ chối nhận vào làm việc không có căn cứ hoặc buộc thôi việc không có căn cứ phụ nữ đang có thai hoặc phụ nữ nuôi con dưới 3 tuổi\", tội \"xâm phạm quyền tác giả và các quyền có liên quan\", tội \"xâm phạm quyền sáng chế, phát minh\"; các vụ án này chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại nhưng không thể bị đình chỉ khi có thỏa thuận giữa người bị hại và bị can; trừ những trường hợp đình chỉ vụ án hình sự do các bên tự hòa giải được quy định tại Điều 25 Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga.

Thứ tư, quy định cụ thể về thủ tục buộc tội đối với từng loại vụ án như: Công tố viên thực hiện việc buộc tội trong quá trình xét xử đối với những vụ án công tố và công - tư tố, còn đối với những vụ án tư tố thì người bị hại thực hiện việc buộc tội trong quá trình xét xử.

Khác với pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, đối với Nhật Bản, các trường hợp khởi tố vụ án hình sư theo yêu cầu của người bị hại được quy định tại nhiều điều luật trong Bộ luật Hình sự. Điều 135 Bộ luật này quy định: “Các tội phạm quy định tại chương các tội xâm phạm bí mật (tội \"bóc thư tín đã được niêm phong\", tội \"tiết lộ bí mật\") chỉ được khởi tố theo đơn yêu cầu của người bị hại”(3); Điều 180 quy định: “Việc phạm các tội quy định tại các Điều 176 (tội \"khiêu dâm bằng cưỡng bức\"), Điều 177 (tội \"hiếp dâm\"), Điều 178 (tội khiêu dâm bằng cưỡng bức và hiếp dâm), chỉ được khởi tố theo đơn yêu cầu của người bị hại”(4); Điều 232 quy định: “1. Các tội phạm quy định tại chương này (tội \"nói xấu người khác\", tội \"sỉ nhục người khác\") chỉ bị khởi tố theo đơn yêu cầu của người bị hại.

2. Khi người làm đơn yêu cầu là Hoàng đế, Nữ hoàng, Hoàng hậu góa, Hoàng Thái hậu góa hoặc người thừa kế ngôi Hoàng đế và Thủ tướng Chính phủ thì những người đó đều nhân danh cá nhân hoặc khi người làm đơn yêu cầu là Vua hoặc Tổng thống của nước ngoài, là người đại diện của nước ngoài hữu quan, thì những người đó cũng đều nhân danh cá nhân”(5)...

Điều 235 Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản quy định cụ thể về thời hạn yêu cầu khởi tố của người bị hại: “Đối với tội phạm bị khởi tố theo đơn kiện của người bị hại, thì không được đệ đơn kiện sau khi hết thời hạn 6 tháng kể từ ngày biết được người phạm tội. Tuy vậy, điều này không áp dụng đối với đơn kiện do người đại diện của quyền lực nước ngoài nói tại khoản 2 Điều 232 Bộ luật Hình sự, đưa ra hoặc đối với đơn kiện do đại diện nước ngoài đưa ra liên quan đến các tội quy định tại Điều 230 hoặc 231 Bộ luật Hình sự, mà đại diện nước ngoài được phái đến Nhật Bản.

Đơn kiện trong trường hợp xem xét tại Điều 229 Bộ luật Hình sự Nhật Bản sẽ không có giá trị trừ khi nó được đưa ra trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày quyết định tuyên bố hôn nhân mất hiệu lực hoặc bị hủy bỏ bắt đầu có hiệu lực pháp luật”(6).

Tuy nhiên, Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản không đề cập khái niệm công tố, công - tư tố, tư tố như trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga.

Từ sự phân tích ở trên cho thấy, ở Liên bang Nga, Nhật Bản, những trường hợp khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại được quy định rộng hơn so với các trường hợp tương ứng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam. Trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga còn có những quy định cụ thể về vụ án công tố, vụ án công - tư tố và vụ án tư tố, cũng như thủ tục buộc tội đối với từng loại vụ án. Đây là những kinh nghiệm lập pháp, cần được xem xét để tiếp tục hoàn thiện chế định khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại trong luật tố tụng hình sự Việt Nam./.

TS. Trần Quang Tiệp - Tổng cục An ninh, Bộ Công an

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online  

___________________________

1 Xem: Bộ luật Tố tụng Hình sự Liên bang Nga, Nxb Prôxpec, Mátxcơva, 2001, tr. 12 (tiếng Nga).

2 Xem: Sđd, tr. 122.

3. Xem: Bộ luật Hình sự Nhật Bản, Bộ Tư pháp, người dịch: Nguyễn Văn Hoàn, người hiệu đính: Tiến sỹ Uông Chu Lưu, Hà Nội, tr.38.

4 Xem: Sđd, tr. 48 - 49.

5 Xem: Sđd, tr. 64.

6. Xem: Bộ luật Tố tụng Hình sự Nhật Bản, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội, 1993, tr.42

hm phản hồi

 

Top of Form

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi