Chủ Nhật, 22/9/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Bàn về quy định thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự và thay đổi quyết định khởi tố bị can

Để khắc phục vấn đề trên, Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-VKSTC-BCA-BQP ngày 07/9/2005, của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an và Bộ Quốc phòng về quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (sau đây gọi tắt là Thông tư liên tịch số 05) đã quy định về các trường hợp áp dụng hai chế định này. Tuy nhiên, qua nghiên cứu các quy định trên của Thông tư liên tịch số 05 và so sánh với thực tiễn công tác, chúng tôi thấy nếu thực hiện như vậy, sẽ nảy sinh nhiều mâu thuẫn và các hệ quả pháp lý phức tạp. Với mục đích trao đổi nhận thức và đóng góp ý kiến góp phần hoàn thiện các chế định pháp luật nêu trên, chúng tôi xin nêu một số vấn đề xung quanh việc áp dụng các quy định này để bạn đọc và đồng nghiệp tham khảo.

Tại Mục 8.2 của Thông tư quy định như sau: “Chỉ thay đổi quyết định khởi tố vụ án trong trường hợp thay đổi tội danh. Không áp dụng việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án nếu qua điều tra xác định được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố”. Và tại Mục 11.1 của Thông tư quy định: \"Trường hợp thay đổi quyết định khởi tố bị can thì phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự… Cần lưu ý là không thay đổi quyết định khởi tố bị can trong trường hợp điều tra xác minh được hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố đối với bị can”.

Theo chúng tôi, quy định như trên của Thông tư liên tịch số 05 là không những chưa đúng với quy định tại Điều 106 và 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự, mà còn làm nảy sinh những hậu quả pháp lý phức tạp khác. Trong thực tiễn quy định như vậy chỉ đem lại tác dụng không đáng kể cho hoạt động điều tra, đó là giảm bớt thao tác ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can đối với một trong hai trường hợp cần thay đổi. Xin dẫn chứng như sau:

Tại khoản 1 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Khi có căn cứ xác định tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội xảy ra hoặc còn có tội phạm khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự”. Khoản 1 Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can”.

Rõ ràng, căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố vụ án là tội phạm đã khởi tố không đúng với hành vi phạm tội đã xảy ra, căn cứ để thay đổi quyết định khởi tố bị can là hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã khởi tố. Nội dung “không đúng” và “không phạm” mà các điều luật đề cập trong thực tiễn nằm ở một trong hai trường hợp là không đúng, không phạm về tội danh (tội danh khác) hoặc không đúng, không phạm về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng). Vì vậy, việc thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can, không chỉ được áp dụng trong trường hợp hành vi phạm tội của bị can không đúng tội danh đã khởi tố, mà phải được áp dụng cả trong trường hợp hành vi phạm tội của bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố.

Mặt khác, quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can là căn cứ trực tiếp của nhiều quyết định và hoạt động tố tụng khác của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Vì vậy, khi các quyết định khởi tố vụ án và khởi tố bị can bị thay đổi thì những quyết định cũng như các hoạt động tố tụng phát sinh từ các quyết định khởi tố cũ có thể bị mất đi hoặc thay đổi, cũng có thể phát sinh những quyết định và hoạt động tố tụng mới. Do vậy, việc thay đổi đúng và kịp thời các quyết định khởi tố vụ án cũng như quyết định khởi tố bị can có ý nghĩa quan trọng, quyết định sự chính xác của các quyết định và hiệu quả của hoạt động tố tụng tiếp theo trong quá trình điều tra vụ án.

Như vậy, nếu chỉ quy định thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can trong trường hợp thay đổi về tội danh (như quy định của Thông tư liên tịch số 05) là không đúng với tinh thần của các điều luật. Tuy nhiên, vấn đề trên sẽ là không đặt ra nếu như việc không thay đổi các quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định khởi tố bị can trong trường hợp hành vi của bị can phạm vào tội nặng hơn hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố, không để lại những hậu quả pháp lý phức tạp sau đây:

Thứ nhất: Không có căn cứ xác lập hoặc huỷ bỏ quyền yêu cầu khởi tố vụ án và rút yêu cầu của người bị hại (hoặc người đại diện…) cũng như quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án, trong các vụ án chỉ được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.

Để thấy rõ vấn đề trên, chúng ta xem xét các tình huống sau:

Tình huống 1: Theo yêu cầu và kết quả giám định thương tích của người bị hại, Cơ quan điều tra khởi tố vụ án và bị can theo Khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh), nhưng sau khi trưng cầu giám định lại, thương tích của bị hại là 61%. Như vậy, hành vị của bị can đã phạm vào khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, nếu căn cứ quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can thì quyền tiến hành tố tụng (yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu) đối với vụ án là của người bị hại. Ngược lại, nếu căn cứ vào hành vi phạm tội của bị can thì quyền quyết định tiến hành tố tụng là của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Theo quy định của Thông tư liên tịch số 05, trường hợp này không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án.Tuy nhiên, nếu không thay đổi quyết định khởi tố vụ án sẽ không có căn cứ pháp luật để loại trừ quyền yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu của người bị hại. Đồng thời, cũng không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Tình huống 2: Trong trường hợp ngược lại, vụ án được khởi tố theo khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự, nhưng kết quả trưng cầu giám định lại, thương tích của bị hại là 60%. Như vậy, hành vi phạm tội của bị can thuộc khoản 1 Điều 105 Bộ luật Hình sự.

ở tình huống này, lại nảy sinh vấn đề ngược lại và theo quy định của Thông tư liên tịch số 05, trường hợp này cũng không phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án. Tuy nhiên, nếu không thay đổi quyết định khởi tố vụ án sẽ không có căn cứ pháp luật để xác lập quyền yêu cầu khởi tố và rút yêu cầu của người bị hại. Đồng thời, cũng không có căn cứ pháp luật để loại trừ quyền quyết định việc tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án.

Thứ hai: Mâu thuẫn về căn cứ pháp luật trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Đối với một hành vi phạm tội, điều, khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can phải thống nhất và là căn cứ pháp luật để áp dụng biện pháp ngăn chặn. Trong nhiều trường hợp bị can không phạm vào khoản như đã khởi tố mà không thay đổi quyết định khởi tố vụ án và quyết định khởi tố bị can, sẽ gây ra những mâu thuẫn pháp luật khi cần áp dụng biện pháp ngăn chặn.

Trở lại tình huống 1 như đã nêu ở trên cho thấy: Hành vi của bị can phạm vào khoản 2 Điều 105 Bộ luật Hình sự, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 5 năm tù và là tội phạm nghiêm trọng. Do vậy, theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự, bị can có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam. Tuy nhiên, nếu áp dụng biện pháp này, sẽ nảy sinh mâu thuẫn là bị can chỉ bị khởi tố ở khoản 1, tội phạm có mức cao nhất của khung hình phạt là đến 2 năm tù và theo quy định tại Điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì trường hợp này lại không được áp dụng biện pháp tạm giam.

Thứ ba: Phức tạp trong việc xác định thời hạn điều tra và việc chấp hành quy định về thời hạn điều tra.

Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: Trong quyết định khởi tố vụ án hình sự phải ghi rõ điều khoản của Bộ luật Hình sự được áp dụng. Việc ghi rõ điều khoản của Bộ luật Hình sự trong quyết định khởi tố vụ án là căn cứ để xác định hành vi phạm tội bị khởi tố là tội phạm gì, thuộc loại nào (ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng) và đến lượt nó, loại tội phạm được xác định trong quyết định khởi tố vụ án sẽ là căn cứ để xác định thời hạn điều tra vụ án.

Thời hạn điều tra sẽ chi phối hoạt động tố tụng và là căn cứ để Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát quyết định các vấn đề quan trọng khác như: Xác định thời hạn điều tra, tạm đình chỉ điều tra, kết thúc điều tra hoặc gia hạn thời hạn điều tra khi hết thời hạn điều tra.

Như vậy, nếu việc khởi tố vụ án không đúng khoản trong cùng một tội danh mà không được thay đổi sẽ nảy sinh một số vấn đề là: Nếu thời hạn điều tra vụ án được xác định theo tội phạm áp dụng trong quyết định khởi tố vụ án, sẽ không phù hợp với hành vi phạm tội của bị can và ngược lại; đồng thời sẽ khó thống nhất trong việc xác định thời điểm hết thời hạn điều tra và có thể kéo theo những “trục trặc” khác giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát, và vì vậy, làm giảm hiệu quả công tác của từng cơ quan cũng như quan hệ phối hợp giữa hai cơ quan.

Ngoài những vấn đề trên, quy định đã nêu của Thông tư liên tịch số 05 còn có thể làm nảy sinh những vấn đề phức tạp trong việc xác định thẩm quyền điều tra của Cơ quan điều tra các cấp, cũng như việc đảm bảo quyền bào chữa của bị can trong trường hợp hành vi của bị can phạm vào tội có mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, trong khi bị can chỉ bị khởi tố ở khoản nhẹ hơn. Đồng thời, với quy định như vậy đã tạo điều kiện cho tình trạng áp dụng pháp luật không đúng và phổ biến hiện nay là Cơ quan điều tra chỉ quyết định khởi tố vụ án cũng như khởi tố bị can theo điều của Bộ luật Hình sự chứ không ghi căn cứ theo khoản nào của điều luật ấy.

Những mâu thuẫn nêu trên, theo chúng tôi, sẽ không nảy sinh nếu trong hoạt động thực tiễn, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát thực hiện đúng quy định tại Điều 106 và 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Vì vậy, chúng tôi đề nghị sửa đổi nội dung của Thông tư liên tịch số 05, theo hướng quy định phải thay đổi quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can trong trường hợp thay đổi tội danh cũng như qua xác minh hành vi phạm tội của bị can phạm vào tội nặng hoặc nhẹ hơn trong cùng một tội danh đã khởi tố./.

ThS. Huỳnh Quốc Hùng - Viện kiểm sát quân sự Trung ương

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi