Chủ Nhật, 8/12/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Cần có văn bản hướng dẫn thống nhất về tư cách bị can theo quy định của BLTTHS

Với những quy định như trên, thực tiễn thi hành pháp luật đã xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau, chưa thống nhất xung quanh “khái niệm” tư cách bị can được xác định từ thời điểm nào cho đầy đủ và chính xác? Tư cách bị can được xác lập từ khi có quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra hay từ khi có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát?

Quan điểm thứ nhất cho rằng, căn cứ vào khoản 1 Điều 49 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khi một người có quyết định khởi tố về hình sự thì người đó được coi là bị can. Bởi trên thực tế, sau khi Cơ quan điều tra có quyết định khởi tố bị can, mặc dù chưa có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng quyết định đó đã phát sinh hiệu lực pháp luật, cụ thể, nhiều trường hợp quyết định đó đã được tống đạt cho bị can và Điều tra viên đã tiến hành hỏi cung bị can theo quy định tại Điều 131 Bộ luật Tố tụng Hình sự “việc hỏi cung bị can phải do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can…”. Do vậy, người đó đã bị áp dụng các biện pháp theo trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng Hình sự với tư cách là bị can.

Quan điểm thứ hai lại cho rằng, một người được coi là bị can khi người đó có quyết định khởi tố về hình sự của Cơ quan điều tra và quyết định đó phải được Viện kiểm sát phê chuẩn. Quan điểm này lý giải, theo quy định tại khoản 4 Điều 126 của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn thì mới có hiệu lực pháp luật. Do đó, Cơ quan điều tra chỉ được áp dụng các biện pháp theo trình tự, thủ tục tố tụng đối với một người được coi là bị can khi quyết định khởi tố đã được Viện kiểm sát phê chuẩn.

Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật, nhận thức về mặt lý luận và từ thực tiễn công tác, tôi có một số ý kiến trao đổi về việc xác định tư cách bị can như sau: Theo tôi, một người được gọi là bị can (tư cách pháp lý đầy đủ) phải hội tụ đủ hai điều kiện:

- Điều kiện thứ nhất “Điều kiện cần”: Là người đó đã có quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra.     

- Điều kiện thứ hai “Điều kiện đủ”: Quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn.

Khi Cơ quan điều tra tiến hành khởi tố bị can, thì lúc này, tư cách bị can mới chỉ đáp ứng được điều kiện đủ, do vậy lúc này người đó chưa phải là bị can; mà người đó chỉ được coi là bị can khi quyết định khởi tố bị can được Viện kiểm sát phê chuẩn, sự phê chuẩn của Viện kiểm sát đối với quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra quy định tại khoản 4 Điều 126 Bộ luật Tố tụng Hình sự là bắt buộc, vì nếu Viện kiểm sát không phê chuẩn thì quyết định đó phải được huỷ bỏ và không phát sinh hiệu lực pháp luật. Vì vậy, quy định sự phê chuẩn của Viện kiểm sát ngoài việc đảm bảo trình tự, thủ tục, tính có căn cứ của quyết định khởi tố bị can, nó còn bao hàm đến việc xác định thời điểm một người được coi là bị can (kể từ khi có quyết định phê chuẩn của Viện kiểm sát). Theo tôi, việc nhận thức như vậy mới có cơ sở lý luận và hiểu đúng tinh thần quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, qua đó, khẳng định trong khoảng thời gian quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra khi chưa có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát thì chưa phát sinh hiệu lực pháp luật, do vậy, người đó chưa phải là bị can.

Thực tiễn áp dụng pháp luật trong thời gian qua ở nhiều địa phương cho thấy, hầu hết các quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra dù chưa có sự phê chuẩn của Viện kiểm sát nhưng Cơ quan điều tra đã áp dụng các trình tự, thủ tục tố tụng và biện pháp ngăn chặn đối với người đó theo tư cách là bị can. Điều đó vô hình chung đã dẫn đến việc áp dụng không đúng các quy định của pháp luật, xâm phạm đến quyền tự do của công dân.

Xin trích dẫn ví dụ sau: Trong một vụ án “đánh bạc”, Cơ quan điều tra bắt quả tang các đối tượng đang có hành vi đánh bạc và ra lệnh tạm giữ hình sự trong thời hạn ba ngày, đến hết ngày tạm giữ thứ ba thấy có đủ căn cứ, tài liệu chứng minh hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố các bị can về tội \"đánh bạc\", đồng thời thay đổi biện pháp ngăn chặn, áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị can theo quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Hình sự và chuyển hồ sơ vụ án sang Viện kiểm sát đề nghị xét phê chuẩn các quyết định khởi tố bị can.

Khi tiếp nhận hồ sơ vụ án, Viện kiểm sát cho rằng, việc Cơ quan điều tra áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị can là không đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do các quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra chưa được sự phê chuẩn của Viện kiểm sát, nên những người này chưa phải là bị can, mặt khác tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: “Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn có thể được áp dụng đối với bị can…”.      

Để nhận thức đúng và thống nhất đối với khái niệm này, tôi đề nghị bổ sung vào khoản 1 Điều 49 Bộ luật Tố tụng Hình sự cụm từ “và đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn”. Như vậy khái niệm bị can sẽ được hiểu đầy đủ như sau: “Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự và đã được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn”.

Do còn nhiều nhận thức khác nhau trong cách hiểu và áp dụng pháp luật, rất mong có sự hướng dẫn, bổ sung kịp thời của Liên ngành tư pháp Trung ương, đảm bảo việc thực thi pháp luật được thống nhất./.

Nguyễn Chí Cường - VKSND huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi