Thứ Năm, 21/11/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Đề xuất sửa đổi, bổ sung một số điều Bộ luật Tố tụng Hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

Một là, về vấn đề khởi tố vụ án, khởi tố bị can 

Tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra; quyết định khởi tố của Hội đồng xét xử phải được gửi tới Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc điều tra. Việc quy định như vậy dường như làm cho Toà án mất đi tính khách quan trong việc “đứng giữa” để xem xét kết quả tranh tụng tại phiên toà giữa Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhân chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp… trong xét xử vụ án hình sự, và Toà án dường như \"vượt rào\" sang làm công việc khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu bảo đảm việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn pháp luật quy định. Như vậy, Toà án không phải là trọng tài, nhưng là chủ thể đứng giữa để xem xét tranh tụng tại phiên toà giữa Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp… trong xét xử vụ án hình sự. Điều này càng khẳng định, những hành vi tố tụng liên quan đến hoạt động công tố thuộc trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát chứ không phải của Toà án. Do vậy, sửa đổi Bộ luật Tố tụng Hình sự lần này nên bỏ quy định trên tại Điều 104 Bộ luật Tố tụng Hình sự mà chỉ nên quy định: “Hội đồng xét xử yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên toà mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra; yêu cầu khởi tố của Hội đồng xét xử được gửi cho Viện kiểm sát để xem xét, quyết định việc khởi tố”.

Hai là, vấn đề thay đổi tội danh trong quyết định khởi tố bị can tại Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên, việc bổ sung quyết định khởi tố bị can thì không có gì phải bàn vì bị can phạm nhiều tội chứ không phải một tội. Riêng đối với việc thay đổi quyết định khởi tố bị can thì cần phải bàn thêm. Nếu như khởi tố vụ án hình sự là khởi tố về một sự việc, sự kiện, hành vi phạm tội nên nếu khởi tố chưa chính xác cũng không ảnh hưởng gì. Còn khởi tố bị can là khởi tố về một con người bị nghi thực hiện một tội phạm nên quyết định này liên quan đến hàng loạt các hành vi tố tụng đụng chạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị khởi tố như việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người đó; bị khám xét nơi ở; bị phong toả thông tin liên lạc; bị tạm đình chỉ chức vụ và không được làm những công việc nhất định... Cho nên, việc khởi tố bị can phải hết sức thận trọng bảo đảm đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tất nhiên, do giai đoạn điều tra vẫn là giai đoạn tìm kiếm, thiết lập chứng cứ mà có thể việc khởi tố bị can chưa thể chính xác ngay về tội danh nên pháp luật tố tụng hình sự quy định, “khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can” là hợp lý. Tuy nhiên, thay đổi quyết định khởi tố bị can không thể tuỳ tiện vì có nhiều loại tội phạm với tính chất, mức độ khác nhau việc Cơ quan điều tra được quyền ra quyết định thay đổi tội danh là cần thiết để phù hợp với hành vi phạm tội của bị can. Tuy nhiên, việc thay đổi tội danh chỉ nên dừng lại ở nhóm tội có cùng khách thể loại, hoặc những tội danh có những quy định về hành vi phạm tội gần nhau mà ban đầu Cơ quan điều tra khó có thể định tội chính xác. Do vậy, Điều 127 Bộ luật Tố tụng Hình sự cần sửa đổi theo hướng:

- Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, mà phạm tội khác có cùng khách thể thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi quyết định khởi tố bị can.

Trong trường hợp xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố, mà phạm vào tội khác không có cùng khách thể thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ điều tra đối với bị can về tội danh đã khởi tố, ra quyết định khởi tố bị can về tội danh mới để tiến hành điều tra.

- Khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can.

Ba là, vấn đề về thời hạn trong các giai đoạn của tố tụng hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung thường vi phạm những quy định về thời hạn, chủ yếu tập trung vào việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần. Trong khi Điều 119 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về thời hạn điều tra, thời hạn gia hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng và tại khoản 6 Điều 119 quy định, khi đã hết thời hạn gia hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra, nhưng Điều 166 Bộ luật Tố tụng Hình sự, khi quy định thời hạn truy tố, thời hạn gia hạn thời hạn truy tố đối với tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng thì lại không quy định. Điều này dẫn đến không ít vụ án bị kéo dài quá thời hạn truy tố, mặc dù đã được gia hạn thời hạn truy tố. Tại Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về thời hạn điều tra bổ sung. Tuy nhiên, trong Bộ luật Tố tụng Hình sự lại không quy định rõ Viện kiểm sát hoặc Toà án trả lại là Viện kiểm sát hoặc Toà án cấp nào hay Viện kiểm sát và Toà án nói chung trong quá trình giải quyết một vụ án hình sự chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần. Điều này đã dẫn đến trong thực tế giải quyết vụ án, có trường hợp Toà án có 4 lần và Viện kiểm sát có 6 lần ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung làm cho vụ án hình sự về tội danh thuộc loại ít nghiêm trọng, nhưng hơn 4 năm chưa giải quyết xong, ảnh hưởng đến về quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo. Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng không quy định rõ, khi hết thời hạn điều tra bổ sung mà không hoàn thành được yêu cầu điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát, Toà án có quyền ra quyết định đình chỉ vụ án hình sự hay không nên vụ án thường bị \"đùn đẩy\" qua lại giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và làm cho vụ án hình sự bị kéo dài không có cách giải quyết dứt điểm.

Từ những hạn chế, bất cập trên cho thấy cần thiết sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự về thời hạn trong các giai đoạn tố tụng hình sự theo hướng:

- Khi hết thời hạn truy tố mà Viện kiểm sát không ra được quyết định: Truy tố bị can ra trước Toà án bằng bản cáo trạng; hoặc quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát phải ra quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án;

- Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá hai tháng; nếu do Toà án trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá một tháng. Viện kiểm sát hoặc Toà án chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung không quá hai lần. Nếu quá thời hạn này mà Viện kiểm sát không ra được quyết định truy tố bị can trước Toà án bằng bản cáo trạng, hoặc Toà án không ra được quyết định đưa vụ án ra xét xử thì tuỳ thuộc vào hồ sơ vụ án đang ở cơ quan nào, cơ quan đó phải ra quyết định đình chỉ vụ án.

Bốn là, về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự.

Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về những biện pháp ngăn chặn là cần thiết, bảo đảm cho hoạt động tố tụng được thuận lợi và ngăn chặn người phạm tội tiếp tục phạm tội. Để tránh sự lạm dụng trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn, Bộ luật Tố tụng Hình sự không chỉ quy định chung về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn, mà còn có những căn cứ áp dụng trong từng biện pháp cụ thể. Tuy nhiên, thực tế áp dụng các biện pháp ngăn chặn cho thấy có nhiều vấn đề cần được bổ sung, sửa đổi vào Bộ luật Tố tụng Hình sự. Cụ thể:

- Căn cứ quy định áp dụng biện pháp ngăn chặn còn rất chung chung hiểu thế nào cũng được nên đã tạo những cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng lạm dụng biện pháp ngăn chặn. Giữa quy định chung về căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn và quy định cụ thể căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam mâu thuẫn nhau. Các cơ quan tiến hành tố tụng thường lựa chọn biện pháp bắt, tạm giam để \"tiện\" cho việc điều tra, truy tố, xét xử và cũng không trái với quy định của pháp luật. Nhưng nếu thực hiện như thế thì không đạt được mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn là biện pháp này chỉ áp dụng để phục vụ cho việc điều tra, truy tố, xét xử. Hay hiểu ngược lại là, nếu vẫn có thể đạt được mục tiêu điều tra, truy tố, xét xử thì không cần phải áp dụng biện pháp ngăn chặn.

- Các biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự đều có quy định về thời hạn tạm giữ, tạm giam. Trong trường hợp người bị kết án phạt tù thì thời hạn tạm giữ được trừ vào thời hạn tạm giam và thời hạn tạm giam được trừ vào thời hạn phạt tù. Tuy nhiên, đối với người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú thì lại không được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù trong trường hợp họ bị kết án phạt tù.

Thực ra, nếu so sánh thì không được chính xác, nhưng tại Điều 31 Bộ luật hình sự có quy định về hình phạt cải tạo không giam giữ. Khi người bị kết án hình phạt cải tạo không giam giữ thì họ được giao cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó. Trong khi đó, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được giao cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó. Rõ ràng, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cũng bị hạn chế các quyền công dân gần giống như hình phạt cải tạo không giam giữ. Do đó, (Điều 31 Bộ luật Hình sự quy định, người bị kết án hình phạt cải tạo không giam giữ, nếu đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ, cứ một ngày tạm giữ, tạm giam bằng ba ngày cải tạo không giam giữ), tại sao không quy định, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nếu kết bị kết án phạt tù lại không được trừ theo hướng: cứ 3 ngày cấm đi khỏi nơi cư trú bằng một ngày tù. Đây là điều bất hợp lý và cần bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự lần này theo hướng, bị can, bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, nếu kết bị kết án phạt tù được trừ: cứ 3 ngày cấm đi khỏi nơi cư trú bằng một ngày tù.

- Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về các biện pháp tạm giữ, tạm giam đều có thời hạn, tuỳ thuộc vào tính chất của tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú được áp dụng với bị can, bị cáo lại không được ghi về thời hạn nên không biết khi nào kết thúc áp dụng biện pháp ngăn chặn này. Thông thường, Cơ quan điều tra ra quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can, nhưng khi họ được chuyển sang giai đoạn truy tố, xét xử thì quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú vẫn có hiệu lực. Vì vậy, một lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú được sử dụng suốt trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Không có trường hợp nào cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng lại ra quyết định huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn này. Thực tế đã xảy ra trường hợp bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú vì bị nghi phạm tội về một tội phạm ít nghiêm trọng. Nhưng đã hơn 5 năm và qua nhiều lần điều tra bổ sung, truy tố, xét xử, sau đó lại điều tra bổ sung nên cho đến nay vẫn bị áp dụng biện pháp ngăn chặn này bằng một quyết định của Cơ quan điều tra.

Như vậy, cần thiết quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự về thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú trong từng giai đoạn tố tụng (giống như thời hạn tạm giam), để khi chuyển giai đoạn tố tụng, thì cơ quan tiến hành tố tụng khác quyết định có hay không áp dụng biện pháp ngăn chặn này.

Năm là, về tranh luận tại phiên toà sơ thẩm

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, việc tranh luận tại phiên toà bảo đảm tính dân chủ, khách quan và minh bạch hơn. Tuy nhiên, việc tranh luận trong phiên toà sơ thẩm còn chưa đáp ứng yêu cầu. Nhiều vụ án không có luật sư tham gia. Trách nhiệm và năng lực của Kiểm sát viên, người bào chữa còn bất cập. Có phiên toà chưa thực sự dân chủ, quyền bào chữa của bị cáo, người bào chữa, người tham gia tố tụng chưa được tôn trọng. Số lượng án sơ thẩm bị huỷ, cải sửa ở cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm hàng năm vẫn còn nhiều. Nguyên nhân của tình trạng trên có nhiều, nhưng nguyên nhân cơ bản và quan trọng là do Bộ luật Tố tụng Hình sự chưa quy định một cách chặt chẽ, rõ ràng về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Bên cạnh đó có nguyên nhân về đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh luận cho các chức danh tư pháp như Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư chưa đáp ứng yêu cầu.

Vì vậy, việc nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW được đặt ra ưu tiên số một trong tiến trình cải cách tư pháp. Chúng ta vẫn tiếp tục theo mô hình tố tụng thẩm vấn nhưng tiếp thu có chọn lọc những yếu tố hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng nhằm tăng tính dân chủ, đảm bảo hơn tính khách quan khi giải quyết án. Cần bổ sung vào Bộ luật Tố tụng Hình sự những nội dung mới nhằm tăng cường tính tranh tụng: Trước hết, pháp luật về chức năng buộc tội cần sửa lại theo hướng Viện kiểm sát có quyền, có trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo, chịu trách nhiệm chính trong hoạt động điều tra và trong việc buộc tội bị cáo tại phiên toà.

Song song đó, pháp luật về chức năng bào chữa cần được tăng cường hơn theo hướng mở rộng phạm vi người bào chữa (trợ giúp viên pháp lý); mở rộng phạm vi bào chữa bắt buộc (đối với nghi can bị xử lý về tội lên đến 15 năm tù). Luật cũng cần mở rộng phạm vi thu thập chứng cứ và quy định rõ các biện pháp thu thập chứng cứ của người bào chữa. Đồng thời, quy định cụ thể các trường hợp và hình thức tham gia của người bào chữa trong các hoạt động điều tra (không chỉ là hỏi cung); hoàn chỉnh các thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa, gặp nghi can đang bị tạm giam... nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người bào chữa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

Pháp luật về chức năng xét xử cũng cần được sửa lại theo hướng Toà án là hạt nhân của các cơ quan tư pháp, độc lập với bên buộc tội và bên bào chữa. Vì vậy, những quy định nào không phù hợp với nội dung của chức năng xét xử cần được sửa lại cho phù hợp. Chẳng hạn, không nên giao cho Toà án xét hỏi chính tại phiên toà./.         

Thạc sĩ Phạm Thị Thuỳ - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác