Thứ Tư, 13/11/2019
Hotline: 02466615539. Email: tccsnd@hvcsnd.edu.vn
Một số vướng mắc trong việc áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và những kiến nghị sửa đổi

Tuy nhiên, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cải cách hành chính, cải cách tư pháp theo đường lối của Đảng thì thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới. Qua tổng hợp các ý kiến thời gian qua thì thấy các ý kiến đều tập trung vào một số vấn đề vướng mắc như sau:

1. Về vấn đề bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Theo quy định tại các Điều 11, 48, 49, 50, 56, 57, 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, cũng như một số hướng dẫn của các văn bản dưới luật thì quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo cũng như thẩm quyền và trách nhiệm đã được đặc biệt chú ý. Song, thực tế áp dụng thì nảy sinh một số vướng mắc từ những quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, dẫn đến nhận thức của một số người tiến hành tố tụng trong các vụ án lại không có sự thống nhất hoặc lợi dụng những quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự để lựa chọn người bào chữa mà chính người được cấp giấy chứng nhận bào chữa lại không hề có kiến thức pháp luật hoặc có thì cũng rất hạn chế, nên chất lượng tranh tụng tại phiên tòa không cao, chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp như tinh thần của Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã đề ra.

Theo quan điểm của chúng tôi chính những quy định tại Điều 56 quy định về người bào chữa trong tố tụng hình sự hiện hành là không phù hợp và có nhiều vướng mắc khó khăn khi áp dụng trong các giai đoạn tố tụng. Bởi lẽ, từ trước tới nay thực tế xét xử các vụ án hình sự ở tỉnh Bắc Ninh thì cũng chưa có trường hợp nào bào chữa viên nhân dân tham gia bào chữa, tranh tụng tại phiên tòa. Hơn nữa, cho tới nay cũng chưa biết Bào chữa viên do cơ quan hay tổ chức nào quản lý Bào chữa viên nhân dân, cũng như tiêu chí để trở thành Bào chữa viên nhân dân thì cũng không có quy định cụ thể. Như đã nói ở phần trên thì không phải người đại diện hợp pháp nào cũng có trình độ am hiểu pháp luật để bào chữa cho người thân của họ. Thực tế xét xử tại Tòa án tỉnh Bắc Ninh, thì thấy rất nhiều vụ án, Cơ quan điều tra đã cấp giấy chứng nhận bào chữa cho bố, mẹ, vợ, chồng, anh, chị, em của bị can trong khi chính những người này cũng không hiểu họ sẽ vận dụng những quy định nào của pháp luật để bào chữa và làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Trong khi đó, tại Điều 10 của Luật Luật sư có quy định về tiêu chuẩn Luật sư là \"…có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề Luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề Luật sư…\" mới được tham gia bào chữa, chưa nói đến nếu Luật sư muốn tham gia vào các giai đoạn tố tụng thì còn phải xuất trình một số giấy tờ như thẻ Luật sư, giấy giới thiệu, đơn mời Luật sư, hợp đồng… còn người đại diện hợp pháp chỉ cần chứng minh họ là người thân thích của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là đủ. Do vậy, sự quy định như trên quả là một nghịch lý và là cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng né tránh các Luật sư trong khi một thực tế đã chứng minh \"càng né tránh Luật sư ở giai đoạn điều tra thì càng bất lợi ở giai đoạn truy tố và xét xử.

Tại khoản 1 Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự đã quy định \"người bào chữa do người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn\". Song trên thực tế, người đại diện hợp pháp cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có mời Luật sư bào chữa cũng ít khi được Cơ quan điều tra chấp nhận với lý do chưa có ý kiến của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đã thành niên. Cách vận dụng và hiểu như vậy chỉ đúng và phù hợp với trường hợp các bị can, bị cáo đang ở tại ngoại. Còn những bị can, bị cáo đang bị tạm giam thì không thể thực hiện được, vì:

- Người bào chữa chưa được cấp giấy chứng nhận thì không được phép vào trại để gặp bị can, bị cáo và gia đình của họ lại càng không được phép gặp, nhất là trong giai đoạn điều tra để họ đích thân ký giấy mời Luật sư.

- Nếu không có giấy yêu cầu đích thân của bị can thì Cơ quan điều tra lại không cấp giấy chứng nhận cho người bào chữa

Hậu quả dẫn tới là đã vô hiệu hóa, không thi hành được một quy định tiến bộ đã được ghi trong luật và phổ biến rộng rãi trong nhân dân. Tại Nghị quyết số 03 ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn tại điểm b mục 2 Phần 2 như sau: \"Đối với bị can, bị cáo là người từ đủ 18 tuổi trở lên, không có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất, thì chỉ có họ mới có quyền lựa chọn người bào chữa; do đó, trong trường hợp người thân thích của họ hoặc người khác lựa chọn (nhờ) người bào chữa cho họ, thì cần phân biệt như sau:

b.1) Nếu việc lựa chọn (nhờ)người bào chữa đã có sự đồng ý (hoặc sự ủy quyền) của bị can, bị cáo thì Tòa án xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa để họ thực hiện việc bào chữa;

b.2) Nếu việc lựa chọn (nhờ) người bào chữa chưa có sự đồng ý (hoặc không có sự ủy quyền) của bị can, bị cáo thì Tòa án yêu cầu người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người khác thực hiện việc lựa chọn người bào chữa phải hỏi ý kiến của bị can, bị cáo. Tòa án cũng có thể thông báo cho bị can, bị cáo đang bị tạm giam biết việc người thân thích của họ hoặc người khác đã lựa chọn (nhờ) người bào chữa cho họ và hỏi họ có đồng ý hay không. Nếu họ đồng ý thì Tòa ám xem xét, cấp giấy chứng nhận người bào chữa để người bào chữa thực hiện việc bào chữa\".

Có nhiều ý kiến cho rằng việc hướng dẫn như vậy là trong trường hợp hồ sơ chuyển sang Tòa án, chứ không quy định cụ thể tại Cơ quan điều tra hay Viện kiểm sát thì xử lý thế nào. Hơn nữa, việc người thân thích của bị can, bị cáo hoặc người khác khi mời người bào chữa cho bị can, bị cáo mà bị can, bị cáo đó lại đang bị tạm giam thì ai là người cấp giấy cho họ vào để gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam để thống nhất việc mời người bào chữa và thực tế cũng không đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự (Điều 48, 49, 50 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng chỉ quy định về quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa). Thực tiễn áp dụng pháp luật hiện nay, căn cứ vào các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư tham gia bào chữa cho bị can từ giai đoạn điều tra là rất khó khăn, nhất là trong trường hợp bị can đang bị tạm giam.

Tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định những trường hợp bắt buộc phải có Luật sư, quy định này là bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, song cũng thể hiện sự bất cập vì khoản 2 Điều 57 đồng thời cũng lại quy định bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền yêu cầu \"thay đổi hoặc từ chối người bào chữa\". Chính việc quy định vừa mở lại vừa đóng như vậy, dẫn tới trường hợp khi đã bị bắt giam rồi thì đa phần các bị can đều từ chối mời Luật sư, kể cả có trường hợp đã ký hợp đồng mời Luật sư trước khi bị bắt tạm giam. Hơn nữa, cũng không có điều kiện để khẳng định cách giải thích của những người tiến hành tố tụng về quyền bào chữa của những người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đến đâu, có để họ hiểu được việc mời Luật sư là quyền của họ và các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm tạo mọi điều kiện để họ thực hiện quyền đó hay không.

Một vấn đề nữa quy định về quyền của Luật sư theo quy định của điểm a, b khoản 2 Điều 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng chưa bảo đảm được quyền của các Luật sư, vì quy định như vậy nhưng trên thực tế quyền của các Luật sư hoàn toàn bị động vì nếu Luật sư được có mặt khi lấy lời khai của bị can thì chỉ được hỏi khi Điều tra viên đồng ý, cũng như quyền đề nghị Cơ quan điều tra báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can. Rõ ràng đây là quyền đề nghị, còn chấp nhận hay không lại là quyền của Cơ quan điều tra hoặc có những trường hợp được thông báo thì cũng lại với thời gian quá gấp, Luật sư lại ở quá xa không thể có mặt được, do vậy, cũng không thể có mặt khi lấy lời khai của bị can được.

2. Về các vấn đề tố tụng khác

Thứ nhất, về vấn đề xử lý vật chứng.

Mặc dù đã có các quy định tương đối cụ thể tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 41, 42 Bộ luật Hình sự. Song, những quy định này mới chỉ quy định việc xử lý vật chứng đối với các trường hợp mà vật chứng có liên quan đến việc phạm tội, để từ đó có thể xử lý bằng biện pháp tịch thu tiêu hủy, tịch thu sung công, trả lại cho người bị hại hoặc các cơ quan, tổ chức bị hành vi phạm tội xâm hại đến, nhưng trong thực tiễn hiện nay, có rất nhiều vụ án trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có thu giữ của người phạm tội có thể là tiền, vàng hoặc tài sản, giấy tờ tùy thân như trong các vụ án vi phạm về giao thông, nhưng qua quá trình xét xử thấy rằng tài sản này không liên quan đến việc phạm tội, cần trả lại cho bị cáo thì lại không có điều luật nào quy định để áp dụng, vì vậy, đề nghị vấn đề này cần phải được bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tại điểm c khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định: \"Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu sung quỹ Nhà nước\". Trong khi đó, tại điểm b khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự lại quy định: Việc tịch thu, sung quỹ Nhà nước được áp dụng đối với vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có. Việc quy định như vậy là trùng lặp và mâu thuẫn không phù hợp với quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự (vì tài sản như quy định tại Điều 76 là đã thể hiện bao gồm vật, tiền, giấy tờ trị giá bằng tiền và các quyền về tài sản).

Hiện nay, có nhiều vụ án trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đã xử lý vật chứng trước khi hồ sơ chuyển sang Viện kiểm sát hoặc Tòa án. Chính những quy định này đã gây khó khăn cho Tòa án khi cần xem xét vật chứng tại phiên tòa. Nếu theo quy định tại khoản 1 Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì việc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xử lý vật chứng là sai và tùy tiện, vì theo quy định tại khoản 1 Điều 76 thì: \"Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định, nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Tòa án hoặc Hội đồng xét xử quyết định ở giai đoạn xét xử…\". Như vậy, chỉ khi vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra thì Cơ quan điều tra mới được ra quyết định xử lý vật chứng và vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát mới được ra quyết định xử lý vật chứng. Chưa nói đến trong trường hợp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát xử lý vật chứng sai, đương sự có khiếu nại thì giải quyết như thế nào áp dụng điều khoản nào của Bộ luật Tố tụng Hình sự để giải quyết, thực tế đã xảy ra ở nhiều địa phương.

Tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự có quy định \"Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội\". Trên thực tế có những trường hợp người phạm tội dùng chính số tiền do phạm tội mà có đầu tư vào việc kinh doanh hoặc chơi xổ số trúng giải đặc biệt thì xử lý thế nào? tịch thu tất cả hay chỉ tịch thu số tiền số do phạm tội mà có, áp dụng điều khoản nào để xử lý.

            Về vấn đề tịch thu tiêu hủy vật chứng là cần thiết nếu vật chứng đó không còn giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đáng kể nhưng hiện nay cũng chưa có quy định hoặc văn bản hướng dẫn như thế nào là \"Vật chứng không có giá trị hoặc giá trị sử dụng không đáng kể\" để xử lý dẫn đến việc xử lý còn mang tính tùy tiện, không thống nhất.

            Ngoài ra còn một số ý kiến khác cho rằng, đối với vật chứng cấm lưu hành như ma túy (điểm a khoản 2 Điều 76), hiện nay chúng ta vẫn tuyên tịch thu tiêu hủy mặc dù ma túy là chất gây nghiện song ngành y tế cũng vẫn sử dụng để điều chế một số loại thuốc. Do vậy, có nên thay việc tịch thu tiêu hủy bằng biện pháp giao cho cơ quan y tế xử lý được không?

Cũng như hiện nay có nhiều trường hợp các gia đình mua xe cho con em mình sử dụng, nhưng không mang tên bị cáo mà vẫn mang tên bố hoặc mẹ, sau đó các đối tượng này sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, khi bị bắt vì lý do xe không phải tên của bị can, bị cáo nên không tuyên tịch thu mà vẫn phải trả lại xe. Việc xử lý như vậy là không nghiêm nên cần quy định đã là phương tiện để gây án thì cần tịch thu xung quỹ Nhà nước bất kể xe đó là của ai để nâng cao trách nhiệm của chủ phương tiện trong việc quản lý tài sản.

Thứ hai, vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Theo quy định tại Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì các căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung cũng đã rõ nhưng hiện nay có những vướng mắc trong vấn đề này thể hiện ở chỗ theo quy định tại khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì Viện kiểm sát hay Tòa án chỉ được trả hồ sơ cho cơ quan điều tra không quá hai lần nhưng thực tế không phải lúc nào Viện kiểm sát cũng chấp nhận việc trả hồ sơ của Tòa án, rất nhiều trường hợp sau khi nhận hồ sơ thì Viện kiểm sát lại có công văn trả lại ngay mà không thực hiện những yêu cầu của Tòa án về vấn đề trả hồ sơ. Nếu trả đến hai lần mà Viện kiểm sát vẫn không thực hiện thì đương nhiên Tòa án phải đưa vụ án ra xét xử theo quy định tại khoản 2 Điều 179 Bộ luật Tố tụng Hình sự, nhưng tại phiên tòa sau phần thẩm vấn, Hội đồng xét xử hoặc chính đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa cũng thấy rằng vụ án cần phải được điều tra bổ sung và đề nghị Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa chuyển hồ sơ để điều tra bổ sung. Trong trường hợp này, đương nhiên Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung và như vậy là trả hồ sơ lần thứ ba. Hiện Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng không có điều luật nào quy định vấn đề này, thông thường khi Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung vẫn chỉ vận dụng các quy định Tại khoản 2 Điều 199, theo chúng tôi vận dụng như vậy cũng chưa chính xác cũng như quy định tại khoản 2 Điều 199 cũng chưa đầy đủ và hợp lý, vì khoản 2 Điều 199 quy định về bản án và các quyết định của Tòa án, những vấn đề này được xem xét tại phòng nghị án và mọi vấn đề được xem xét sau phần tranh luận và đến phần nghị án nếu đã đến phần nghị án thì đương nhiên phải có việc tuyên án. Nếu muốn trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung thì Hội đồng xét hỏi phải quay trở lại phần xét hỏi và việc trả hồ sơ lần thứ ba để điều tra bổ sung như đã nói ở phần trên thì có vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 121 Bộ luật Tố tụng Hình sự không? Hơn nữa trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì phải quyết định hoãn phiên tòa mà theo quy định tại Điều 194 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì không quy định hoãn phiên tòa để trả hồ sơ điều tra bổ sung vậy áp dụng như thế nào cho đúng luật?

Thứ ba, về vấn đề án phí và giám định.

Theo quy định tại Điều 98 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì \"án phí là tất cả chi phí để tiến hành tố tụng hình sự bao gồm tiền thù lao cho người làm chứng, người bị hại, người giám định, người phiên dịch, người bào chữa trong trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng chỉ định và các khoản chi phí khác theo quy định của pháp luật; án phí dân sự trong vụ án hình sự\"Như vậy án phí dùng để chi phí rất nhiều vấn đề song cho đến nay án phí hình sự sơ thẩm hoặc phúc thẩm cũng chỉ có 50.000đ như Nghị định của Chính phủ số 70/CP ngày 12/06/1997 quy định về án phí, lệ phí Tòa án là quá bất hợp lý, trong khi những vụ án có Luật sư do Tòa án mời thì Tòa án phải trả cho họ tiền nghiên cứu hồ sơ là 60.000đ một ngày và tiền họ tham gia tại phiên tòa thêm 60.000đ nữa nếu vụ án kéo dài nhiều ngày thì đương nhiên phải trả thêm cho họ số tiền tương ứng với những ngày xét xử. Chưa nói đến việc có những vụ án Tòa án phải trả cả tiền cho người làm chứng, người giám định, người phiên dịch…

Về vấn đề giám định, đây là vấn đề hết sức quan trọng liên quan đến việc định tội danh và khung hình phạt. Song những quy định tại các Điều 60 (người giám định), Điều 155 (trưng cầu giám định), Điều 156 (việc tiến hành giám định), Điều 157 (nội dung kết quả giám định), Điều 158 (quyền của bị can và những người tham gia tố tụng đối với kết luận giám định), Điều 159 (giám định bổ sung hoặc giám định lại) lại chưa cụ thể và đầy đủ quá trình áp dụng phát sinh nhiều những vướng mắc như:

- Những trường hợp bắt buộc phải trưng cầu giám định như quy định tại điểm a, b khoản 3 Điều 155 thì phải trưng cầu giám định vào thời điểm nào? Ví dụ: đối với những vụ án cố ý gây thương tích thì phải giám định ngay khi họ nhập viện và có chứng nhận thương tích của bệnh viện hay phải đợi khi họ được ra viện. Hiện nay, việc trưng cầu giám định chỉ được thực hiện khi người bị hại đã ra viện và căn cứ để kết luận giám định hoàn toàn dựa vào chứng thương của bệnh viện và thường chỉ tiến hành sau hàng tháng khi có việc phạm tội xảy ra, mà thực tế chúng ta đều biết thương tích bắt đầu khi nhập viện và thương tích sau khi ra viện là khác nhau.

Hiện tại các kết luận của cơ quan giám định thường có tỷ lệ phần trăm sức khỏe bị mất vĩnh viễn và tỷ lệ phần trăm sức khỏe bị mất tạm thời. Đây cũng là điều bất cập, vì khi xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng chỉ căn cứ vào tổng số phần trăm sức khỏe của người bị hại bị mất để định tội và định khung hình phạt chứ không cần để ý đến tỷ lệ phần trăm sức khỏe bị mất là tạm thời hay vĩnh viễn trong khi đó theo giải thích của cơ quan giám định thì \"tỷ lệ phần trăm tạm thời là trường hợp có thể phục hồi được hoàn toàn và cũng có thể không hoặc có trường hợp tiến triển lại nặng hơn\".Thực tế đã có trường hợp người bị hại trong vụ \"vi phạm các quy định về giao thông đường bộ\"bị thương nặng khi giám định ban đầu mất tới 91% sức khỏe trong đó có 30 % là vĩnh viễn còn lại 61 % tạm thời, gây thiệt hại về tài sản là 35.000.000đ, vì vậy cấp sơ thẩm đã xét xử theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự. Nhưng sau khi xử sơ thẩm bị cáo kháng cáo theo trình tự phúc thẩm và đề nghị cho người bị hại đi giám định lại, cấp phúc thẩm đã yêu cầu người bị hại đi giám định lại và kết quả chỉ còn 30% vĩnh viễn… Và đương nhiên cũng có trường hợp sẽ nặng hơn nhưng rất ít.

Hiện tất cả các bản giám định của cơ quan giám định đều căn cứ vào các hướng dẫn tại Thông tư liên bộ số 12/TTLB ngày 26/7/1995 để kết luận về tỷ lệ thương tích. Tuy nhiên, rất nhiều trường hợp phải giám định lại và có kết quả khác với bản giám định ban đầu có thể nhẹ hơn và cũng có thể nặng hơn, thực tế áp dụng thì các cơ quan tiến hành tố tụng cứ mặc nhiên coi kết luận giám định sau phủ quyết kết luận giám định trước. Trong khi thực tế hiện nay cũng không có điều luật hay văn bản hướng dẫn nào quy định cứ bản kết luận giám định sau có giá trị loại bỏ bản kết luận giám định trước, cũng như chưa có cơ quan nào có trách nhiệm thẩm định tính đúng sai của các bản giám định dẫn đến việc áp dụng còn mang tính tùy tiện, gây bất lợi cho bị can, bị cáo hay người bị hại. Việc triệu tập người giám định tới phiên tòa hiện nay ở nhiều nơi là rất khó khăn vì theo quy định tại Điều 60 và Điều 193 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng không hề có chế tài  áp dụng đối với trường hợp người giám định được triệu tập mà cố tình không đến phiên tòa dẫn đến nhiều vụ án phải hoãn.

Thứ tưvề thủ tục xét hỏi tại phiên tòa và tranh tụng tại phiên tòa.

Như quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng Hình sự về trình tự xét hỏi tại phiên tòa, như hiện nay là không phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, vì theo quy định tại Điều 207 thì Chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm và đại diện Viện Kiểm sát hỏi như vậy đại diện Viện kiểm sát là người công bố bản Cáo trạng và có trách nhiệm bảo vệ bản Cáo trạng tại phiên tòa nhưng lại tham gia thẩm vấn sau cùng, có nhiều trường hợp Hội đồng xét xử hỏi hết cả đến khi đại diện Viện kiểm sát muốn hỏi thì không có gì để hỏi và như vậy trách nhiệm buộc tội lại thuộc về Hội đồng xét xử và Hội đồng xét xử vừa buộc tội vừa xử án như vậy là không phù hợp và không thể nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa như tinh thần của NQ 08 của Bộ chính trị được. Tại khoản 3 Điều 51 Bộ luật Tố tụng Hình sự có quy định \"trong trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại quy định tại Điều 105 của Bộ luật này thì người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội tại phiên tòa\". Nhưng tại Điều 217 quy định về trình tự phát biểu khi tranh tụng chỉ quy định \"Sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung Cáo trạng hoặc kết luận về tội nhẹ hơn...\" chứ không có chỗ nào quy định thời điểm mà người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ trình bày lời buộc tội. Mặc dù Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02/10/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn trong trường hợp này thì thì người bị hại, đại diện hợp pháp của người bị hại tham gia tranh luận theo trình tự thông thường, song hướng dẫn đó chưa giải đáp được những vướng mắc như quy định tại khoản 3 Điều 51 vì vấn đề đặt ra là họ trình bày lời buộc tội trước hay đại diện Viện kiểm sát trình bày lời buộc tội trước và bị cáo, Luật sư của bị cáo sẽ tranh luận đối với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát hay với lời buộc tội của người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại.

Thứ năm, về việc Hội đồng xét xử khởi tố vụ án.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 104 thì \"...Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố hoặc yêu cầu Viện kiểm sát khởi tố vụ án hình sự nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra\". Về vấn đề này có nhiều ý kiến cho rằng không nên quy định như vậy, vì thực tế ở Bắc Ninh cho tới nay chưa có trường hợp nào Hội đồng xét xử ra quyết định khởi tố vụ án để yêu cầu điều tra và có kiến nghị yêu cầu Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra khởi tố thì Viện kiểm sát hoặc Cơ quan điều tra cũng không khởi tố. Hơn nữa Tòa án không có chức năng điều tra do vậy nếu hội đồng xét xử có ra quyết định khởi tố vụ án để điều tra thì việc có điều tra hay không hoặc có điều tra để làm rõ việc có tội hay không có tội, phụ thuộc rất nhiều vào sự hợp tác của Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Tòa án là cơ quan xét xử để quyết định một người có tội hay không có tội lại ra quyết định khởi tố vụ án hình sự thì sau này xét xử có khách quan hay không? đây là những ý kiến cần phải xem xét.

Thứ sáu, về giới hạn xét xử.

Theo quy định tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng Hình sự thì \"Tòa án chỉ xét xử những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố và Tòa án đã quyết định đưa ra xét xử. Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố\". Theo quy định như vậy thì Tòa án không bao giờ được xử theo một tội danh khác nặng hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố. Về vấn đề này có rất nhiều ý kiến không đồng tình.

Có ý kiến đề nghị bỏ cả Điều 196, không nên quy định về giới hạn xét xử vì không phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp. Hơn nữa thực tế cũng có trường hợp có căn cứ xử bị cáo về tội nặng hơn nhưng mức hình phạt ở khung hình phạt của tội nặng hơn lại nhẹ hơn mức hình phạt ở khung hình phạt của tội nhẹ hơn.

Có ý kiến cho rằng việc quy định tại Điều 196 là làm mất tính độc lập của Hội đồng xét xử, hạn chế quyền của Tòa án và Viện kiểm sát đã quyết định tội danh thay cho quyết định của Tòa án. Thực tế hiện nay có nhiều trường hợp trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã phát hiện ra hành vi của bị cáo phải được xét xử về tội nặng hơn so với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung, song Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì Tòa án vẫn phải đưa ra xét xử và phải tuyên án theo tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố mặc dù biết là không đúng do vậy chính Hội đồng xét xử lại phải kiến nghị Tòa án cấp trên xem xét lại chính bản án của mình thậm chí chấp nhận bị hủy. Vì nếu không kiến nghị Tòa cấp trên xem xét lại bản án của chính mình thì sẽ bị hủy và lỗi hoàn toàn thuộc về Thẩm phán chủ tọa phiên tòa...

3. Về trình tự phúc thẩm

Thứ nhất, về việc xác định tư cách người tham gia tố tụng:

Qua khảo sát thực tế thì thấy cũng có nhiều quan điểm về vấn đề này như Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định quyền kháng cáo của nguyên đơn dân sự song chỉ cho họ quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án về phần bồi thường thiệt hại. Quy định như vậy là không phù hợp vì nguyên đơn dân sự là \"cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường\". Do vậy cần quy định nguyên đơn dân sự cũng có quyền kháng cáo về phần hình phạt như người bị hại mới phù hợp.

Về tư cách tham gia tố tụng đối với bị cáo đã bị kết án ở cấp sơ thẩm, nhưng họ không kháng cáo và đương nhiên phần quyết định của bản án sơ thẩm đối với họ là có hiệu lực pháp luật thậm chí có trường hợp đã có quyết định thi hành án, thì khi cấp phúc thẩm triệu tập họ tới phiên tòa với tư cách gì là bị cáo, người làm chứng hay người liên quan hiện cũng chưa có quy định.

Về vấn đề Tòa án cấp phúc thẩm chuyển án treo thành hình phạt tù giam, thực tế xét xử từ trước tới nay trong trường hợp cấp sơ thẩm cho bị cáo hưởng án treo, cấp phúc thẩm thấy phải áp dụng hình phạt tù giam mới tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên đã căn cứ vào Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự chuyển từ án treo thành án tù giam và có ý kiển cho rằng việc áp dụng Điều 249 để quyết định trong trường hợp này là không đúng vì Điều 249 chỉ quy định: Tòa án cấp phúc thẩm \"giữ nguyên mức hình phạt tù và cho hưởng án treo\"Tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng chỉ quy định \"Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Tòa án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng mức bồi thường thiệt hại nếu có kháng nghị của Viện kiểm sát và kháng cáo của người bị hại\". Như vậy, mặc dù cấp phúc thẩm cũng có thể tăng hình phạt hoặc áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn nhưng không hề có quy định \"giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng chuyển từ án treo sang án tù giam\" cả. Cần phải bổ sung thêm vào các quy định tại Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự để áp dụng pháp luật cho đúng.

4. Một số kiến nghị sửa đổi bổ sung các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Thông qua quá trình khảo sát thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 căn cứ vào các vướng mắc được rút ra từ thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chúng tôi mạnh dạn đưa ra những kiến nghị nhằm sửa đổi bổ sung một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự như sau:

Thứ nhất, về vấn đề người bào chữa.

Tại Điều 56 chỉ nên quy định người bào chữa là Luật sư chứ không nên đưa cả người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân là người bào chữa. Để đáp ứng được yêu cầu tranh tụng hiện nay, cũng cần cải cách thủ tục kết nạp Luật sư vì số lượng Luật sư của chúng ta hiện nay là rất thấp chỉ có khoảng trên dưới 4.500 Luật sư trên tổng số trên dưới 85 triệu dân thì khoảng 18.900 người dân mới có một Luật sư. Trong khi đó ở Thái Lan là 38.000 Luật sư/58 triệu dân (1/1.526); Singapore là 3.000 Luật sư/ 3 triệu dân (1/1.000); ở Mỹ là 1 triệu Luật sư /250 triệu dân (1/250); ở Nhật là 22.000 Luật sư / 100 triệu dân (1/4.546). Để bảo đảm đúng quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nên quy định \"trong mọi trường hợp thì ngoài chính bản thân người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người thành niên, không có nhược điểm về thể chất có quyền mời người bào chữa thì người thân của họ cũng có quyền mời Luật sư để bào chữa cho họ\"Kể cả khi có Luật sư rồi thì chính người bị tạm giữ, bị can, bị cáo vẫn có quyền từ chối và lựa chọn người bào chữa khác.

Đối với quy định tại khoản 2 Điều 57 quy định về những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa thì không nên quy định \"bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ vẫn có quyền thay đổi hoặc từ chối người bào chữa\"Mà phải coi đây là những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa, vì ngoài việc bào chữa cho thân chủ ra thì Luật sư còn phải có trách nhiệm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án cũng như bảo vệ pháp chế XHCN, cũng như tránh việc né tránh người bào chữa trong các giai đoạn tiền tố tụng.

Về quyền của người bào chữa nên quy định được hỏi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chứ không nên quy định\"nếu điều tra viên đồng ý\"; điểm b khoản 2 Điều 58 nên sửa là \"được Cơ quan điều tra báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can...\" chứ không nên dùng thuật ngữ \"đề nghị\" như hiện. nay.

Thứ hai, về vấn đề vật chứng và xử lý vật chứng.

Cần có quy định bổ sung vào Bộ luật Tố tụng Hình sự trong việc xử lý những vật hoặc tài sản bị thu giữ nhưng qua quá trình điều tra có đủ cơ sở để chứng minh tài sản này của người phạm tội không liên quan đến việc phạm tội để áp dụng tránh việc quyết định xử lý không áp dụng luật như hiện nay cũng như cần có văn bản hướng dẫn cụ thể thế nào là \"tài sản không có giá trị sử dụng hoặc giá trị sử dụng không đáng kể\" để áp dụng cho thống nhất.

Việc xử lý vật chứng nên có những văn bản hướng dẫn và chế tài cụ thể đối với việc xử lý vật chứng không đúng thẩm quyền của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát vì thực tế rất nhiều vụ án khi hồ sơ chuyển sang Tòa án thì vật chứng của vụ án đã được xử lý từ giai đoạn điều tra hoặc truy tố mặc dù không phải là vụ án được đình chỉ như quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Thứ ba, về vấn đề trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung.

Cần có quy định bổ xung trong Bộ luật tố tụng về thẩm quyền hoãn phiên tòa để trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ xung, không kể là trả hồ sơ lần thứ mấy tránh việc vận dụng không đúng như hiện nay.

Thứ tư, về vấn đề án phí và giám định.

Cần điều chỉnh tăng mức án phí hình sự sơ thẩm và phúc thẩm, mức quy định về án phí như Nghị định số 70 là quá thấp không còn phù hợp nữa.

Cần bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự về thời hạn trưng cầu giám định trong những trường hợp bắt buộc phải có kết luận giám định.

Cần quy định rõ cơ quan chuyên môn có quyền thẩm định tính đúng sai của các bản kết luận giám định trong trường hợp phải giám định lại hoặc giám định bổ sung, tránh trường hợp cứ mặc nhiên coi kết luận giám định sau phủ quyết giám định trước không cần biết tính đúng sai của bản kết luận đó.

Cần có văn bản hướng dẫn đường lối xử lý trong các trường hợp tỷ lệ thương tật vĩnh viễn và thương tật tạm thời, bảo đảm sự công bằng. Thực tế hiện nay về đường lối xử lý chúng ta vẫn căn cứ vào tổng tỷ lệ phần trăm sức khỏe bị mất của người bị hại để định tội, định khung và quyết định hình phạt chứ không cần xem xét tới tỷ lệ % thương tật bị mất vĩnh viễn hay tạm thời. Trong khi đó chúng ta đều biết một người bị mất 20% sức khỏe vĩnh viễn sẽ thiệt thòi hơn người bị mất 30% sức khỏe nhưng lại chỉ có 10% vĩnh viễn và 20% tạm thời.

Thứ năm, về vấn đề tranh tụng.

Để nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa như tinh thần của Nghị quyết số 08 của Bộ chính trị và tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49/NQ - TW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị cần sửa đổi Điều 207 về \"trình tự xét hỏi\" theo hướng việc xét hỏi tại phiên tòa chủ yếu do đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa hỏi, còn Hội đồng xét xử chỉ hỏi khi thấy cần thiết và các câu hỏi của Hội đồng xét xử chỉ mang tính gợi mở.

Cần có quy định bổ sung trong Bộ luật tố tụng về trình tự tranh tụng đối với người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại trong những trường hợp vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại, để việc điều hành phiên tòa được thống nhất.

Thứ sáu, về phần phúc thẩm.

Cần bổ sung quy định về tư cách tham gia tố tụng của những bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị mà phần quyết định của cấp sơ thẩm đối với họ đã có hiệu lực pháp luật và đã có quyết định thi hành án.

Cần quy định quyền kháng cáo của nguyên đơn dân sự như quyền của người bị hại.

Bổ sung thêm quy định tại Điều 249 Bộ luật Tố tụng Hình sự trong trường hợp cấp phúc thẩm giữ nguyên mức hình phạt nhưng chuyển từ án treo sang án tù giam./.

Tiến sĩ Phạm Minh Tuyên - Phó Chánh án TAND tỉnh Bắc Ninh

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác