Thứ Ba, 19/6/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Trao đổi về một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003

Trước những yêu cầu của cải cách tư pháp, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, Bộ luật Tố tụng Hình sự cũng đã bộ lộ một số mặt hạn chế, chưa đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong tình hình mới. Qua công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự và thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự có một số qui định đã bộc lộ bất cập hoặc do chưa có sự giải thích, hướng dẫn nên có nhiều khó khăn, vướng mắc trong nhận thức và áp dụng.

Thứ nhất, theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng Hình sự: thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra… Việc gia hạn điều tra được quy định như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng; tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn hai lần không quá năm tháng; tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn hai lần không quá tám tháng. Như vậy, thời hạn điều tra đối với tội phạm ít nghiêm trọng tối đa không quá 04 tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng tối đa không quá 08 tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa không quá 12 tháng.

Trong khi đó, tại Điều 120 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về thời hạn tạm giam để điều tra; theo đó, thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra… Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau: Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng; tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn hai lần không quá ba tháng; tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn hai lần không quá năm tháng. Như vậy, thời hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng tối đa không quá ba tháng; đối với tội phạm nghiêm trọng tối đa không quá sáu tháng; đối với tội phạm rất nghiêm trọng tối đa không quá chín tháng.

Với các quy định nói trên, thời hạn điều tra vụ án và thời hạn tạm giam bị can để điều tra không giống nhau: Thời hạn tạm giam ngắn hơn thời hạn điều tra. Từ đó, dẫn đến trường hợp vụ án chưa điều tra xong thì thời hạn tạm giam bị can đã hết. Do đó, Cơ quan điều tra phải thay đổi biện pháp ngăn chặn, hoặc khi hết thời hạn tạm giam mà điều tra chưa xong thì Cơ quan điều tra vẫn ban hành kết luận điều tra, sau đó Viện kiểm sát trả hồ sơ thì điều tra bổ sung…

Thứ hai, Điều 224 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định “Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm”. Thực tế, việc áp dụng quy định này trong thời gian qua ở Phú Yên cho thấy: Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm luôn chỉ có ba Thẩm phán, chưa có phiên toà phúc thẩm nào có Hội thẩm tham gia vào thành phần Hội đồng xét xử. Sở dĩ có tình trạng như vậy là vì Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định “trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm” nhưng đến nay thế nào là trường hợp cần thiết thì chưa có cơ quan có thẩm quyền nào giải thích. Có ý kiến cho rằng, trường hợp cần thiết ở đây là khi xét thấy vụ án phức tạp, có nhiều bị cáo, có liên quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo… Cũng có ý kiến khác cho rằng, những vụ án có yếu tố nước ngoài thì cần có Hội thẩm tham gia. Tuy nhiên, hiện nay ở các Toà án cấp tỉnh còn có Hội thẩm tham gia vào thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm; còn ở các Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Hà Nội, Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh thì không có Hội thẩm. Đây là vấn đề còn vướng mắc.

Thứ ba, Điều 313 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định về quyết định của Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra đối với những vụ án mà người thực hiện hành vi phạm tội không có năng lực trách nhiệm hình sự: “Sau khi nhận được hồ sơ vụ án và bản kết luận điều tra, Viện kiểm sát có thể ra một trong những quyết định sau đây :

1. Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án;

2. Đình chỉ vụ án và quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh;

3. Truy tố bị can trước Tòa án”.

Theo qui định nói trên thì Viện kiểm sát sau khi kết thúc điều tra không có quyền trả hồ sơ để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung. Như vậy là bất hợp lý. Điều 314 Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định Tòa án có quyền trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra lại hoặc điều tra bổ sung. Vậy, đối với những vụ án mà Tòa án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát thì Viện kiểm sát phải xử lý như thế nào? Đây là vấn đề thực tế hiện nay còn vướng mắc.

Bộ luật Tố tụng Hình sự đã có hiệu lực thi hành hơn sáu năm, có rất nhiều quy định chưa được giải thích, hướng dẫn để thống nhất thực hiện. Trong khi chưa sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị các cơ quan có thẩm quyền kịp thời giải thích Bộ luật Tố tụng Hình sự và ban hành các thông tư hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nhằm đảm bảo cho việc nhận thức và áp dụng pháp luật được thống nhất./.

Hồ Ngọc Thảo

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát Online

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi