Thứ Hai, 24/9/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Hoàn thiện thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong tố tụng hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

1. Khởi tố vụ án, khởi tố bị can được hiểu là những việc làm của cơ quan có thẩm quyền liên quan đến việc ra quyết định khởi tố vụ án (hoặc quyết định không khởi tố vụ án) và quyết định khởi tố bị can. Trong khoa học tư pháp hình sự, việc ban hành các quyết định, khởi tố vụ án, khởi tố bị can được hiểu là cơ quan có thẩm quyền tố tụng (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát) được quyền tiến hành các biện pháp điều tra để xác định có hay không có tội phạm xảy ra; nếu có tội phạm xảy ra thì ai là người đã thực hiện tội phạm và những tình tiết khác liên quan đến vụ án hình sự. Ngoài ra, việc cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can còn giúp cho cơ quan có chức năng kiểm sát, giám sát hoạt động điều tra nắm được diễn biến tình hình tội phạm và công tác điều tra tội phạm để có thể đặt ra các yêu cầu trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, truy tố, buộc tội người phạm tội, góp phần quan trọng trong công tác giữ gìn an ninh, trật tự đất nước.

Khác với nhiều quốc gia khác trên thế giới, tố tụng hình sự Việt Nam coi khởi tố vụ án là giai đoạn tố tụng, được bắt đầu kể từ khi cơ quan có thẩm quyền nhận được những thông tin tội phạm từ các nguồn khác nhau về một sự việc, sự kiện có dấu hiệu phạm tội; sau đó, các cơ quan này thẩm tra, xác minh nội dung của các thông tin này. Thời điểm kết thúc của giai đoạn khởi tố vụ án được tính từ khi ra quyết định khởi tố vụ án hình sự (trong trường hợp xác định có dấu hiệu tội phạm), hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự (khi xác định không có dấu hiệu tội phạm). Còn khởi tố bị can không phải là giai đoạn tố tụng mà chỉ là hành vi tố tụng tại giai đoạn điều tra của người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố bị can khi đã xác định được một người cụ thể có hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong pháp luật hình sự, cần phải tiến hành các hoạt động điều tra đối với họ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Điều này có nghĩa, xét về mặt thời gian, quyết định khởi tố vụ án hình sự phải có trước quyết định khởi tố bị can. Tuy nhiên, trong thực tế giải quyết vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền có thể ban hành hai quyết định này cùng một thời điểm ngay khi xác định tại sự việc, sự kiện phạm tội có dấu hiệu tội phạm thì cũng đồng thời xác định được ngay người thực hiện hành vi phạm tội. Ví dụ, trong các vụ án liên quan đến các tội về hối lộ, các tội về đánh bạc, tổ chức đánh bạc, hoặc các vụ án được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại.v.v., trong các vụ án này, thường xác định được ngay dấu hiệu tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội.

Nói chung, các hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến khởi tố vụ án, khởi tố bị can đều có những ảnh hưởng nhất định đến sự hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và cuộc sống thường ngày của công dân. Để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, cơ quan có thẩm quyền phải xác minh những thông tin về tội phạm bằng các biện pháp khác nhau (yêu cầu cơ quan, tổ chức, công dân cung cấp chứng cứ), do vậy, cũng có thể gây nên những phiền phức nhất định đối với cơ quan, tổ chức, công dân. Tương tự như vậy, khi ra quyết định khởi tố bị can đối với một con người bị nghi thực hiện một tội phạm thì sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng chính trị của người bị khởi tố, đụng chạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ như họ có thể bị bắt để tạm giam hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn khác để bảo đảm cho hoạt động điều tra; bị khám xét nơi ở, nơi làm việc; hoặc có thể bị tạm đình chỉ chức vụ mà họ đang đảm nhiệm; bị triệu tập để hỏi cung và các biện pháp điều tra khác. Cho nên, việc khởi tố nói chung và khởi tố bị can nói riêng phải hết sức thận trọng làm sao để khởi tố đúng người, đúng tội là điều quan trọng nhất. Thông thường, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can là những hành vi đầu tiên của quá trình tố tụng mà thẩm quyền ban hành các quyết định này chỉ được giao cho các cơ quan có khả năng điều tra thu thập chứng cứ chứng minh tội phạm và người phạm tội. Những cơ quan không có chức năng này thì không thể ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

2. Trong những năm vừa qua, các Cơ quan điều tra, kiểm sát đã tuân thủ những quy định về khởi tố vụ án, khởi tố bị can trong Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, góp phần quan trọng trong việc điều tra, khám phá, xử lý tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên, quá trình thực thi pháp luật cho thấy còn nhiều vấn đề bất cập trong khởi tố vụ án, khởi tố bị can dẫn đến việc để lọt tội phạm và người phạm tội, kể cả việc làm oan người vô tội. Những bất cập đó thể hiện:

- Sự quy định không thống nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật tố tụng hình sự về khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Tại Điều 13 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án. Nhưng tại nhiều quy phạm pháp luật khác, việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can còn được giao cho các cơ quan được quyền tiến hành một số hoạt động điều tra (Điều 104, Điều 111 của Bộ luật Tố tụng Hình sự). Ngay việc giao cho Tòa án có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án cũng không đúng ở chỗ: Tòa án chỉ có chức năng xét xử để xác định sự buộc tội của Viện kiểm sát đúng hay không đúng đối với người phạm tội. Thế thì tại sao lại có quyền này cho Tòa án. Chính quy định này làm ảnh hưởng đến cả quá trình tố tụng, không chỉ giai đoạn chuẩn bị xét xử (bằng việc trả hồ sơ để điều tra bổ sung), mà còn ngay tại phiên tòa xét xử, Hội đồng xét xử gần như hoàn toàn nghiêng về bên buộc tội (Viện kiểm sát) mà quên đi chức năng thiên bẩm của mình là xét xử;

- Việc khởi tố vụ án được giao cho Cơ quan điều tra ra quyết định; sau khi có quyết định khởi tố vụ án thì chuyển cho Viện kiểm sát để Viện kiểm sát thực hiện kiểm sát việc khởi tố. Đối với quyết định khởi tố bị can, Cơ quan điều tra ra quyết định và phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Quy định như vậy tưởng như chặt chẽ, nhưng thực tế, Viện kiểm sát không nắm được việc khởi tố của Cơ quan điều tra do những bất cập trong tiếp nhận và xử lý thông tin tội phạm. Theo quy định tại Điều 103 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Viện kiểm sát phải thống kê được mỗi năm, Cơ quan điều tra tiếp nhận được bao nhiêu tố giác, tin báo về tội phạm. Nhưng chính Viện kiểm sát lại không thống kê được mỗi năm, Cơ quan điều tra các cấp tiếp nhận được bao nhiêu tố giác, tin báo về tội phạm. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến việc ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án hình sự, mà còn ảnh hưởng đến việc nắm bắt tình hình tội phạm diễn ra như thế nào của Viện kiểm sát;

- Tại Điều 126 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can (có nghĩa đã có đủ chứng cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội). Trong thực tế, sau khi có quyết định khởi tố bị can thì họ mới bị khám xét nơi ở, nơi làm việc, xem xét dấu vết trên thân thể, đối chất, nhận dạng, thực nghiệm điều tra.v.v. Thế thì làm sao Cơ quan điều tra đã có đủ các chứng cứ xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội để có thể ra quyết định khởi tố bị can. Đây là điều bất hợp lý;

- Tại Điều 127 của Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, khi tiến hành điều tra, nếu có căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị can không phạm vào tội đã bị khởi tố hoặc còn hành vi phạm tội khác thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát ra quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can. Việc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố bị can đã dẫn đến sự tùy tiện của Cơ quan điều tra trong việc truy đến cùng, người có quyết định khởi tố bị can phải phạm vào một tội nào đó (bằng việc chuyển hết tội danh này sang tội danh khác);

- Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định, bị can có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan điều tra có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can thực hiện quyền bào chữa của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; người bào chữa do bị can hoặc người đại diện hợp pháp của họ lựa chọn. Tuy nhiên, trong thực tế, việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư tại giai đoạn điều tra không phải là điều đơn giản ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can, nhất là trường hợp bị can bị tạm giam. Sự cản trở hoạt động của Luật sư bào chữa chủ yếu là từ Cơ quan điều tra trong việc cấp giấy chứng nhận bào chữa cho Luật sư.

Có thể kể ra rất nhiều những bất cập trong những quy định về khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực tế áp dụng pháp luật liên quan đến vấn đề này.

3. Khởi tố vụ án, khởi tố bị can là phản ứng của nhà nước đối với tội phạm và hành vi phạm tội của người phạm tội nên xuất phát từ yêu cầu bảo vệ trật tự xã hội. Việc đổi mới thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can cần đáp ứng được những yêu cầu bảo vệ an toàn các hoạt động trong trật tự quản lý nhà nước, quản lý kinh tế và quản lý xã hội nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện, điều tra, xử lý kịp thời, nhưng phải bảo vệ được những quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến những hoạt động này của các Cơ quan điều tra, Kiểm sát.

Trên cơ sở phân tích những nội dung đã trình bày ở phần trên, cần thiết phải đổi mới thủ tục khởi tố vụ án, khởi tố bị can theo các hướng:

Thứ nhất, để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát kiểm soát được tình hình tội phạm thông qua việc tiếp nhận, xử lý những thông tin về tội phạm cần giao thêm những thẩm quyền nhất định cho Viện kiểm sát như việc tiếp nhận những thông tin về tội phạm từ các nguồn khác nhau và từ những cơ quan khác nhau (nhất là cơ quan Công an) đều phải được thông báo hàng ngày cho Viện kiểm sát. Viện kiểm sát cần tổ chức một đơn vị tiếp nhận, quản lý, theo dõi những thông tin về tội phạm. Thông qua việc quản lý, theo dõi những thông tin về tội phạm, Viện kiểm sát sẽ nắm được việc thẩm tra, xác minh những thông tin tội phạm này của Cơ quan điều tra các cấp để tránh bỏ lọt tội phạm.

Thứ hai, việc khởi tố vụ án vẫn giao cho Cơ quan điều tra như hiện nay, nhưng Viện kiểm sát phải phê chuẩn quyết định khởi tố vụ án hoặc quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra để tránh được việc lạm dụng khởi tố của Cơ quan điều tra.

Thứ ba, Viện kiểm sát phải tự mình ra quyết định khởi tố bị can chứ không để Cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can và Viện kiểm sát phê chuẩn quyết định này như hiện nay. Có thể nói, làm được điều này sẽ gắn kiểm sát với điều tra một cách chặt chẽ hơn, thực hiện được yêu cầu cải cách tư pháp.

Ngoài ra, cần mở rộng phạm vi các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra không chỉ bó hẹp ở cơ quan Hải quan, Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, Cảnh sát biển, một số cơ quan trong Công an nhân dân và Quân đội nhân dân, mà còn các cơ quan ở các ngành khác như công thương, nông nghiệp, giao thông, thông tin thể thao - du lịch, bưu chính viễn thông, kế hoạch đầu tư, giáo dục, y tế... trong các văn bản pháp luật tố tụng hình sự, trao cho các cơ quan này có thẩm quyền khởi tố vụ án khi phát hiện tội phạm xảy ra trong lĩnh vực mà mình có trách nhiệm quản lý (tất nhiên, Viện kiểm sát phê chuẩn các quyết định khởi tố của các cơ quan này). Thực hiện được điều này sẽ là phản ứng rất nhanh của Nhà nước đối với tội phạm xảy ra trong các ngành, các lĩnh vực mà không phải chờ đợi Cơ quan điều tra có thẩm quyền như đã và đang diễn ra hiện nay.


GS,TS. Đỗ Ngọc Quang

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 08/2012

 

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi