Thứ Tư, 14/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Sửa đổi, bổ sung các quy định về thời hạn tố tụng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003

Việc quy định thời hạn tố tụng hợp lý, khoa học, góp phần quan trọng đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án nhưng cũng đảm bảo đủ thời gian cần thiết để thực hiện các hành vi tố tụng nhằm phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý nghiêm minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, đồng thời không làm oan người vô tội và bảo đảm quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự, đặc biệt là quyền của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, thực tiễn qua 9 năm thi hành Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2003 cho thấy có nhiều tồn tại, hạn chế trong các quy định về thời hạn tố tụng hình sự, chưa phù hợp với thực tiễn. Việc nhận diện, làm rõ những bất cập, hạn chế này trong pháp luật tố tụng hình sự hiện hành là cơ sở quan trọng để đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật trong thời gian tới, góp phần trực tiếp vào việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luật tố tụng hình sự, vào công cuộc xây dựng và hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự theo yêu cầu cải cách tư pháp.

1. Hoàn thiện các quy định về tiêu chí xác định thời hạn, cách tính thời hạn và thời điểm tính thời hạn

Một trong những hạn chế lớn nhất của chế định thời hạn tố tụng trong BLTTHS năm 2003 là việc phân định thời hạn điều tra, truy tố, xét xử và thời hạn tạm giam chủ yếu dựa trên tiêu chí phân loại tội phạm được quy định trong Bộ luật Hình sự, nên trên thực tế, có nhiều vụ án thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng nhưng tính chất đơn giản, có thể kết thúc trong thời hạn ngắn hơn rất nhiều so với loại án ít nghiêm trọng. Trong khi đó, nhiều vụ án ít nghiêm trọng, nhưng tính chất phức tạp, không thể hoàn thành trong thời hạn luật định nên nhiều trường hợp vi phạm thời hạn luật định, làm ảnh hưởng đến quyền của bị can, bị cáo. Các tiêu chí liên quan đến tính chất phức tạp của vụ án, quy mô tội phạm, địa bàn xảy ra tội phạm, năng lực, trình độ chuyên môn của người tiến hành tố tụng, thực trạng cơ sở vật chất, kỹ thuật của các cơ quan tư pháp… chưa được chú trọng trong việc thiết kế các quy định về thời hạn tố tụng. Do đó, các quy định hiện hành một mặt tạo tâm lý “chần chừ” của các chủ thể tiến hành tố tụng đối với những vụ án về tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng nhưng thuộc trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ ràng, mặt khác, tạo ra những áp lực trong hoạt động tố tụng đối với các vụ án ít nghiêm trọng nhưng có tính chất phức tạp, có nhiều bị can tham gia. Do vậy, việc sửa đổi BLTTHS trong thời gian tới, bên cạnh việc căn cứ vào tiêu chí phân loại tội phạm, cần tính đến tổng thể các tiêu chí nêu trên, tính đến mức độ kết hợp giữa các tiêu chí bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, thúc đẩy tiến trình phát hiện và xử lý tội phạm, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người trong tố tụng hình sự.

Quy định khi tính thời hạn theo ngày, thì thời hạn sẽ hết vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn tại đoạn 2 khoản 1 Điều 96 của BLTTHS là chưa hợp lý và chưa công bằng, vì thời hạn này, không phải là số 24 giờ tròn cho các ngày trong thời hạn mà thường lớn hơn một số giờ nhất định. Hơn nữa, thời điểm 24 giờ trong ngày, không phải là thời gian làm việc nên không có ý nghĩa thực tế đối với quá trình giải quyết vụ án hình sự. Do vậy, cần sửa đổi thời hạn này theo hướng khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ hết vào giờ trùng trong ngày cuối cùng của thời hạn.

Ngoài các thời hạn tính theo giờ, ngày và tháng, trong BLTTHS hiện hành còn quy định một số trường hợp thời hạn được tính theo năm. Tuy nhiên, quy định tại khoản 1 Điều 96 của BLTTHS lại chưa đề cập đến loại thời hạn này, nên cần sửa đổi, bổ sung Điều luật này theo hướng quy định thời hạn được tính theo giờ, ngày, tháng và năm; quy định khi tính thời hạn theo năm thì thời hạn hết vào ngày trùng, tháng trùng trong năm cuối cùng của thời hạn.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 176 của BLTTHS năm 2003 thì thời hạn chuẩn bị xét xử được tính kể từ ngày Thẩm phán được phân công Chủ tọa phiên toà nhận được hồ sơ vụ án. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 không quy định trong thời gian bao lâu, kể từ khi Toà án nhận được hồ sơ vụ án thì Chánh án phải phân công Thẩm phán làm Chủ tọa phiên toà. Thực tiễn cho thấy, thời hạn khi hồ sơ vụ án chuyển sang Toà án, sau đó chuyển cho Chánh án để phân công Thẩm phán chủ tọa phiên toà được áp dụng không thống nhất, có nơi được thực hiện trong ngày, nhưng cũng có nơi được thực hiện trong tuần. Do vậy, cần sửa đổi Điều luật này theo hướng quy định về thời điểm bắt đầu tính thời hạn chuẩn bị xét xử là kể từ khi Toà án nhận được hồ sơ vụ án.

Tại Điều 234 của BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày tuyên án là chưa công bằng, vì trong thực tế có bản án được tuyên án vào thời gian cuối ngày nhưng cũng có bản án được tuyên án vào thời gian đầu ngày; quy định thời điểm tính thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày là không hợp lý, vì thực tiễn thi hành BLTTHS thời gian qua cho thấy, do Viện kiểm sát cấp trên không tham gia phiên toà sơ thẩm, không tiếp xúc với hồ sơ vụ án mà chỉ nghe báo cáo của Viện kiểm sát cấp dưới và có nhiều trường hợp sau khi nhận được bản án, quyết định sơ thẩm thì đã gần hết thời hạn kháng nghị nên đã không bảo đảm thời gian cho Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp nghiên cứu vụ án, thực hiện quyền kháng nghị. Do vậy, cần sửa đổi Điều 234 theo hướng quy định thời hạn kháng cáo tính từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án; quy định thời điểm tính thời hạn kháng nghị kể từ ngày Viện kiểm sát cấp trên nhận được bản án, quyết định sơ thẩm.

2. Tăng thời hạn đối với một số loại thời hạn tố tụng nhằm giảm áp lực cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và đảm bảo tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Qua tổng kết thực tiễn 9 năm thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy: Tại đoạn 2 khoản 2 Điều 103 của BLTTHS quy định thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tối đa là hai tháng là chưa phù hợp, nhất là các tố giác, tin báo về tội phạm về tham nhũng, kinh tế, chức vụ, có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm, hay đối với trường hợp đối tượng đang ở nước ngoài, vắng mặt tại nơi cư trú hoặc cần trưng cầu giám định. Điều này dẫn đến tình trạng là các Cơ quan điều tra lựa chọn những tin nào dễ hơn thì làm trước và tin nào khó thì làm sau hoặc loại bỏ những tin phức tạp không tiến hành thẩm tra, xác minh. Do vậy, để bảo đảm thời gian kiểm tra, xác minh các thông tin, tài liệu làm cơ sở cho việc ra quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự thì cần tăng thời hạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố tối đa là ba tháng.

Tại Điều 126 của BLTTHS quy định trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can, Viện kiểm sát phải quyết định phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can là quá ngắn, gây áp lực đối với Viện kiểm sát trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trên thực tế đã xảy ra trường hợp, để tránh việc phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can không có căn cứ vững chắc có thể làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, có Viện kiểm sát đã lựa chọn giải pháp an toàn hơn (mặc dù luật không cho phép) đó là chưa phê chuẩn mà yêu cầu Cơ quan điều tra bổ sung chứng cứ, tài liệu để tiếp tục nghiên cứu, xem xét phê chuẩn sau. Do vậy, để đảm bảo cho Viện kiểm sát có đủ thời hạn cần thiết để thực hiện đầy đủ, hiệu quả thẩm quyền phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra, có đủ thời gian để nghiên cứu, xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nhất là đối với những vụ án phức tạp, có nhiều bị can tham gia thì cần tăng thời hạn Viện kiểm sát phê chuẩn hoặc huỷ bỏ quyết định khởi tố bị can từ ba ngày lên thành năm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định khởi tố bị can.

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định thời hạn Cơ quan điều tra gửi bản kết luận điều tra cho bị can, người bào chữa là hai ngày; thời hạn Viện kiểm sát giao các quyết định được ban hành trong giai đoạn truy tố cho bị can là ba ngày là chưa phù hợp, nhất là đối với những vụ án phức tạp, vụ án có nhiều bị can, có bị can ở xa hoặc cư trú ở những tỉnh miền núi, giao thông đi lại khó khăn, việc giao, gửi bản kết luận điều tra, bản cáo trạng cho bị can thường mất nhiều thời gian nên khó có thể thực hiện được trong thời hạn luật định. Nhiều địa phương và trong hầu hết các vụ án đều vi phạm thời hạn giao nhận bản kết luận điều tra, bản cáo trạng, dẫn tới tình trạng phải biến hoá bằng cách khi giao được các văn bản này cho bị can mới ghi ngày ban hành cho phù hợp thời hạn luật định. Để bảo đảm tính khả thi của việc quy định thời hạn cơ quan tiến hành tố tụng giao các tài liệu, quyết định tố tụng, cần sửa đổi Điều 162 và Điều 166 của BLTTHS theo hướng “trong trường hợp đặc biệt, việc giao các tài liệu, quyết định tố tụng phải được thực hiện trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày ra quyết định”.

Thực tiễn 9 năm thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy, số vụ án áp dụng thủ tục rút gọn ít, chiếm tỷ lệ rất thấp trên tổng số vụ án đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn. Nguyên nhân cơ bản của hiện trạng này là chúng ta chưa có nhận thức chính xác về thủ tục rút gọn. Thủ tục rút gọn phải được thể hiện trên cả hai phương diện: Rút gọn về thủ tục và rút gọn về thời hạn. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 được ban hành mới chỉ tập trung rút gọn về thời hạn và thực tế đã chứng minh thời hạn tiến hành tố tụng đối với vụ án áp dụng thủ tục rút gọn được BLTTHS quy định quá ngắn, chưa bảo đảm có đủ thời gian để cơ quan tiến hành tố tụng hoàn tất các thủ tục tố tụng nên nhiều vụ án đã áp dụng thủ tục rút gọn nhưng sau đó phải quay trở về áp dụng thủ tục thông thường. Để bảo đảm tính khả thi của thủ tục rút gọn, bên cạnh việc sửa đổi các thủ tục tố tụng, cần sửa đổi Điều 321, Điều 323 và Điều 324 của BLTTHS năm 2003 theo hướng: Tăng thời hạn điều tra đến mười tám ngày; tăng thời hạn truy tố đến năm ngày; tăng thời hạn xét xử đến mười năm ngày, trong đó thời hạn chuẩn bị xét xử là mười ngày, thời hạn xét xử là năm ngày. Đồng thời, với việc sửa đổi thời hạn điều tra, truy tố, xét xử trong thủ tục rút gọn, cần sửa đổi, bổ sung thời hạn tạm giữ, tạm giam tại Điều 322 và Điều 324 để bảo đảm việc điều tra, truy tố, xét xử theo hướng trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định tạm giữ có thể gia hạn tạm giữ, nhưng không quá ba ngày; thời hạn tạm giam để điều tra, truy tố không được quá hai mươi ba ngày; thời hạn tạm giam để đảm bảo việc xét xử không quá mười năm ngày.

Đoạn 1 Điều 329 của BLTTHS năm 2003 quy định thời hạn giải quyết khiếu nại của Viện kiểm sát cùng cấp đối với những khiếu nại đã được Thủ trưởng Cơ quan điều tra giải quyết nhưng người khiếu nại vẫn khiếu nại tiếp là bảy ngày. Thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 cho thấy, việc quy định thời hạn như vậy là quá ngắn, không bảo đảm để thẩm tra, xem xét các tài liệu của vụ án, nhất là đối với các vụ án về kinh tế, tài chính, có nhiều tài liệu, chứng cứ, cần có thời gian để thẩm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các tài liệu. Do đó, cần quy định thời hạn giải quyết khiếu nại trong trường hợp này là mười ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại.

3. Rút ngắn một số thời hạn tố tụng để đảm bảo đẩy nhanh việc giải quyết vụ án hình sự

Thực tiễn thi hành BLTTHS thời gian qua cho thấy, việc quy định thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm (bao gồm cả thời hạn mở phiên toà) tại Điều 176 là tương đối dài. Thực tế, có vụ án về tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng nhưng tình tiết đơn giản, rõ ràng, không cần thiết phải kéo dài thời hạn chuẩn bị xét xử, ngược lại, có những vụ án về tội ít nghiêm trọng nhưng tính chất phức tạp, có nhiều bị can tham gia... lại cần thiết có thời gian để nghiên cứu hồ sơ, tài liệu. Hơn nữa, chúng ta đang nghiên cứu để thể chế hoá chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà nên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, các bên buộc tội và gỡ tội phải hoạt động tích cực hơn để thực hiện các chức năng tố tụng của mình, Toà án phải giữ vai trò trung lập hơn, giảm tính chủ động, tích cực trong quá trình xét xử nên không nhất thiết phải quy định thời hạn chuẩn bị xét xử dài như hiện nay. Do đó, cần sửa đổi thời hạn chuẩn bị xét xử theo hướng rút ngắn xuống còn ba mươi ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, bốn mươi lăm ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và rút ngắn thời hạn mở phiên toà kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Quy định thời hạn Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho người bị xử vắng mặt trong thời hạn mười ngày tại Điều 229 của BLTTHS là tương đối dài, ảnh hưởng đến quyền kháng cáo của bị cáo, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát. Để bảo đảm quyền kháng cáo của bị cáo, quyền kháng nghị của Viện kiểm sát, cần sửa đổi theo hướng rút ngắn thời hạn này xuống còn năm ngày.

Tại Điều 283 của BLTTHS quy định thời hạn xét xử giám đốc thẩm chung cho Toà án các cấp là bốn tháng, kể từ ngày nhận được kháng nghị là tương đối dài, làm ảnh hưởng quyền lợi của người bị kết án và những người có liên quan đến kháng nghị. Bởi xuất phát từ tính chất của giám đốc thẩm là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm pháp luật trong việc xử lý vụ án nên khi nghiên cứu, tiến hành giám đốc thẩm Toà án chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được Toà án cấp dưới sử dụng để kết tội bị cáo, không yêu cầu điều tra bổ sung nên không mất nhiều thời gian. Trong giai đoạn giám đốc thẩm, Toà án cũng chỉ có nhiệm vụ xem xét kháng nghị có căn cứ hay không có căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận. Tham khảo pháp luật tố tụng của một số nước cho thấy, thời hạn xét xử giám đốc thẩm được quy định ngắn hơn quy định BLTTHS của Việt Nam rất nhiều, như BLTTHS Liên bang Nga quy định thời hạn xét xử giám đốc thẩm ở Toà án tối cao Cộng hoà liên bang Nga là một tháng, ở các Toà án cấp dưới không quá 15 ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị (Điều 377). Do vậy, cần rút ngắn thời hạn xét xử giám đốc thẩm xuống còn sáu mươi ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị; đồng thời, bổ sung quy định gia hạn không quá ba mươi ngày cho thời hạn này đối với những vụ án giám đốc thẩm phức tạp, hoặc do nguyên nhân khách quan mà không thể tiến hành xét xử giám đốc thẩm trong thời hạn luật định.

4. Sửa đổi một số quy định để bảo đảm tính thống nhất, tính khả thi của một số thời hạn tố tụng

Với mong muốn đẩy nhanh việc điều tra, kết thúc việc điều tra trong thời hạn tạm giam đối với vụ án có bị can bị tạm giam thông qua việc quy định thời hạn tạm giam ngắn hơn thời hạn điều tra, nhưng thực tiễn áp dụng BLTTHS thời gian qua cho thấy, có nhiều vụ án có tính chất phức tạp, đông bị can tham gia... Cơ quan điều tra không thể kết thúc việc điều tra trong thời hạn tạm giam. Trong trường hợp này, khi hết thời hạn tạm giam, Cơ quan điều tra không thể trả tự do cho bị can vì dễ dẫn đến tình trạng bị can được thả sẽ bỏ trốn, huỷ bỏ tài liệu, chứng cứ, gây khó khăn cho việc điều tra. Cho nên, hầu hết các Cơ quan điều tra đã chọn phương án không vi phạm pháp luật là khi hết thời hạn tạm giam, dù chưa hoàn tất công việc điều tra nhưng vẫn kết thúc điều tra và chuyển hồ sơ sang Viện kiểm sát, sau đó Viện kiểm sát trả lại hồ sơ và yêu cầu điều tra bổ sung để có tiếp thời hạn điều tra và tạm giam bị can. Nhằm khắc phục những mâu thuẫn, vướng mắc trên, để bảo đảm hiệu quả công tác điều tra tội phạm, cần sửa đổi BLTTHS theo hướng quy định thời hạn điều tra bằng thời hạn tạm giam.

5. Quy định rõ một số loại thời hạn để tránh tình trạng lạm dụng hoặc áp dụng tuỳ tiện

Một số thời hạn quy định trong BLTTHS năm 2003 còn chung chung, chưa có tính xác định, dễ dẫn đến cách vận dụng tuỳ tiện như quy định người ra lệnh bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho gia đình người bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết (Điều 85); quy định Toà án gửi ngay các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án cho Viện kiểm sát (Điều 182). Việc quy định thời hạn mang tính tuỳ nghi, không có định lượng cụ thể về khoảng thời gian xác định đã dẫn đến tình trạng tuỳ tiện, kéo dài quá trình giải quyết vụ án hình sự từ phía các cơ quan chức năng, trong nhiều trường hợp làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của công dân. Để tránh sự tuỳ tiện, lạm dụng hoặc kéo dài thời gian giải quyết vụ án, bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cần quy định rõ thời hạn thông báo ngay, gửi ngay là bao nhiêu ngày để thực tiễn áp dụng được thống nhất, theo đó cần sửa đổi Điều 85 BLTTHS như sau: Người ra lệnh bắt, Cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải thông báo ngay cho gia đình người đã bị bắt, chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó cư trú hoặc làm việc biết trong thời hạn không quá hai mươi bốn giờ, kể từ khi bắt được người này; sửa đổi khoản 3 Điều 182 của BLTTHS như sau : “3. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp trong thời hạn không quá ba ngày, kể từ ngày ra quyết định”.

6. Bổ sung một số loại thời hạn mà Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 chưa có quy định nhằm xác định rõ trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, đồng thời đẩy nhanh tiến độ giải quyết vụ án

Bộ luật Tố tụng Hình sự và Pháp lệnh Giám định tư pháp chưa qui định thời hạn để cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu giám định cũng như thời hạn tiến hành giám định nên đã làm ảnh hưởng nhất định tới thời hạn giải quyết vụ án, nhất là đối với các vụ án mà kết quả giám định là căn cứ trực tiếp xác định bị can, bị cáo có tội hay không có tội, nên nhiều trường hợp phải tạm đình chỉ điều tra do hết thời hạn luật định mà vẫn chưa có kết quả giám định. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị nêu rõ: “... Quy định chặt chẽ, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn trưng cầu và thực hiện giám định...”. Do vậy, để thể chế hoá Nghị quyết của Đảng, nhằm giải quyết vướng mắc trong thực tiễn và phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, BLTTHS cần bổ sung quy định về thời hạn trưng cầu giám định và thời hạn thực hiện giám định. Thời hạn trưng cầu giám định có thể được tính từ sau khi xét thấy vụ án cần phải có kết luận giám định hoặc sau khi có quyết định khởi tố vụ án. Đối với thời hạn giám định, tuy khó có thể quy định một mức thời hạn cụ thể cho việc giám định tư pháp đối với tất cả các loại việc nhưng có thể quy định chung một thời hạn giám định, đồng thời, bổ sung quy định gia hạn thời hạn giám định để thực tiễn áp dụng được linh hoạt cho mọi trường hợp giám định.

Việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự trong nhiều vụ án là hết sức cần thiết, kết luận định giá của Hội đồng định giá tài sản là chứng cứ rất quan trọng để giải quyết các vụ án hình sự có yếu tố chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 cũng chưa có quy định về định giá tài sản nên cần bổ sung quy định về loại thời hạn này trong lần sửa đổi BLTTHS sắp tới.

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 không quy định thời hạn cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm dẫn đến cách hiểu và vận dụng trên thực tiễn là có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn này cho đến khi kết thúc giai đoạn tố tụng. Do vậy, cần phải bổ sung quy định về thời hạn áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm tại Điều 91, Điều 92 và Điều 93 của BLTTHS để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo, đồng thời tránh cách hiểu và vận dụng chưa đúng đắn trong thực tiễn hiện nay.

Tại khoản 1 Điều 258 của BLTTHS năm 2003 quy định người bị kết án được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước là thể hiện thái độ thận trọng, tôn trọng quyền được sống của công dân. Tuy nhiên, điều luật lại không quy định thời hạn Chủ tịch nước xét đơn xin ân giảm, dẫn đến tình trạng số người bị kết án tử hình đang chờ Chủ tịch nước xét đơn xin ân giảm trong các trại tạm giam còn rất lớn. Trong thời gian chờ đợi, không ít người bị kết án tìm cách chống đối, tự sát, bỏ trốn... gây nhiều khó khăn, căng thẳng, phức tạp cho công tác giam giữ. Vì vậy, chúng tôi đề xuất bổ sung quy định về thời hạn xét đơn xin ân giảm của Chủ tịch nước tại khoản 1 Điều 258 của BLTTHS năm 2003 như sau: “Trong thời hạn một năm, Chủ tịch nước phải ra quyết định ân giảm hoặc quyết định bác đơn xin ân giảm”.

Tại Điều 259 của BLTTHS năm 2003 và Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định về thẩm quyền, thủ tục thi hành hình phạt tử hình. Tuy nhiên, BLTTHS không có quy định về thời hạn ra quyết định thi hành hình phạt tử hình. Đây là thiếu sót của pháp luật, dẫn đến cách hiểu và vận dụng không thống nhất trong thực tiễn. Tham khảo kinh nghiệm các nước (Đức, Pháp, Nhật Bản…) cho thấy, pháp luật tố tụng các nước này đều có quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án tử hình. Do vậy, cần bổ sung thời hạn Chánh án Toà án đã xét xử sơ thẩm ra quyết định thi hành hình phạt tử hình để bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, ngày càng xảy ra nhiều vụ án có yếu tố nước ngoài, quá trình giải quyết vụ án cần có sự tương trợ tư pháp của phía nước ngoài hoặc yêu cầu nước ngoài dẫn độ tội phạm. Tuy nhiên, việc chưa có quy định riêng về thời hạn tố tụng đối với những vụ án hình sự phải yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp hoặc dẫn độ tội phạm đã gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, dẫn đến thực tế vi phạm thời hạn tố tụng tương đối phổ biến đối với loại án này. Do vậy, cần bổ sung thời hạn giải quyết các vụ án có yêu cầu nước ngoài tương trợ hoặc dẫn độ tội phạm theo hướng tăng thời hạn giải quyết các vụ án này so với các vụ án thông thường.

Ngoài các thời hạn nêu trên, cần nghiên cứu, bổ sung các loại thời hạn sau: Thời hạn Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trả lời, giải quyết yêu cầu, đề nghị của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bào chữa; thời hạn Viện kiểm sát, Toà án trả lời cơ quan, tổ chức cá nhân về việc không kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; thời hạn đưa ra thi hành bản án, quyết định áp dụng thủ tục rút gọn...

ThS. Hoàng Anh Tuyên - Viện Khoa học kiểm sát, VKSNDTC

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 08/2012

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi