Thứ Tư, 14/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp và sửa đổi, bổ sung chế định chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự

1. Sửa đổi, bổ sung Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm thực hiện chủ trương của Đảng về phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự có hai loại thẩm quyền thường được sử dụng và có quan hệ chặt chẽ với nhau là thẩm quyền QLHC và thẩm quyền tố tụng (TQTT). Thẩm quyền QLHC được giao cho người có chức vụ trong các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) thực hiện để tổ chức, quản lý, điều hành, phân công, kiểm tra, đôn đốc người được giao nhiệm vụ THTT đối với vụ án (như Điều tra viên (ĐTV), Kiểm sát viên (KSV) và Thẩm phán (TP)), được thực hiện bằng phương pháp quyền uy - phục tùng. Thẩm quyền tố tụng là quyền hạn của người THTT được thực hiện một cách độc lập theo trình tự, thủ tục tố tụng và phải tự chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi và quyết định của mình. Các thẩm quyền tố tụng chịu sự điều chỉnh và phải tuân thủ các quy định của pháp luật tố tụng hình sự (TTHS) trong khi các thẩm quyền QLHC chịu sự điều chỉnh và phải tuân theo luật hành chính.

Thẩm quyền tố tụng phải được độc lập và đó là nhu cầu khách quan của hoạt động tố tụng, nhằm thực thi công lý theo một trình tự, thủ tục nhất định, gắn liền với một sự kiện, hành vi pháp lý cụ thể, với từng con người trong những tình huống cụ thể. Mỗi người có thẩm quyền tố tụng đều có vị trí và phận sự riêng, họ phải được độc lập để hành xử công việc theo pháp luật và chịu trách nhiệm cá nhân về hành vi, quyết định của mình, không bị chi phối của thẩm quyền khác, nhất là đối với TP. “Đối với Thẩm phán thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp... Thẩm phán độc lập không thuộc về tôi cũng không thuộc về Chính phủ... Thẩm phán xem xét hành động của tôi trên cơ sở một đạo luật nhất định”(1).

Thẩm quyền tố tụng độc lập với thẩm quyền QLHC nhưng giữa hai thẩm quyền này có mối quan hệ biện chứng, tương tác lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, thẩm quyền QLHC có tác động thúc đẩy hoặc kìm hãm việc thực hiện các thẩm quyền tố tụng. Nếu người có chức vụ quản lý phân biệt rõ ranh giới, phạm vi giữa hai thẩm quyền này sẽ tạo điều kiện cho quá trình tố tụng được tiến hành trôi chảy, xử lý vụ án được khách quan, kịp thời, toàn diện và đúng đắn. Nếu sử dụng thẩm quyền QLHC lấn át thẩm quyền tố tụng sẽ phát sinh tình trạng làm thay, bao biện, biến người THTT thành những “cỗ máy” chỉ biết làm theo, thụ động, không phát huy trách nhiệm, dựa dẫm. Sau khi được phân công thụ lý vụ án, ĐTV, KSV, TP phải được độc lập thực hiện các hành vi theo quy định của pháp luật TTHS, nếu lãnh đạo dùng mệnh lệnh hành chính chi phối hoạt động tố tụng của những người này thì sẽ hạn chế, làm mất đi tính độc lập của họ trong việc tìm kiếm, đánh giá sự thật khách quan của vụ án hình sự.

Thẩm quyền tố tụng cũng tác động đến chất lượng, hiệu quả của việc thực hiện thẩm quyền QLHC, nếu người bị quản lý mà không chấp hành đầy đủ, đúng các mệnh lệnh, quyết định, chỉ thị hành chính của người có thẩm quyền QLHC, tất yếu phát sinh tình trạng “vô chính phủ”, “trên bảo dưới không nghe” và như vậy sẽ hạn chế chất lượng hoạt động của cơ quan THTT. Nhà nước không thể kiểm soát hết mọi hành vi phạm tội xảy ra trong đời sống xã hội, nhưng có thể và phải kiểm soát được hành vi của cán bộ, nhân viên tư pháp và những quyền cơ bản của công dân phải được bảo đảm mà trong TTHS luôn tồn tại mâu thuẫn giữa đấu tranh chống tội phạm với bảo đảm quyền công dân, quyền con người theo các chuẩn mực quốc tế(2).

Trong Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) hiện hành, việc phân định thẩm quyền hành chính tư pháp và thẩm quyền tố tụng chưa rõ ràng, còn bất cập. Người đứng đầu các cơ quan tiến hành tố tụng (Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra (CQĐT), Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát (VKS), Chánh án, Phó Chánh án Tòa án) vừa là người có thẩm quyền hành chính vừa là một chức danh tư pháp có nhiều quyền hạn tố tụng nhất theo quy định tại các Điều 34, 36 và 38 BLTTHS. Trái lại, ĐTV, KSV là nhân vật trung tâm, trực tiếp tiến hành hầu hết các hành vi tố tụng thì quyền năng tố tụng rất hạn chế theo quy định tại các Điều 35, 37 BLTTHS; ngoài quyền quyết định triệu tập bị can và những người tham gia tố tụng khác thì không có quyền quyết định tố tụng đối với vụ án.

Về Cơ quan điều tra: Theo quy định của pháp luật hiện hành thì hệ thống CQĐT nước ta hiện nay chủ yếu nằm trong bộ máy hành chính nhà nước (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng). Người giữ cương vị Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT đồng thời là người lãnh đạo đơn vị (Phó Giám đốc Công an tỉnh, Trưởng Công an huyện là Thủ trưởng CQĐT). Điều tra viên trong Công an, Quân đội là sĩ quan lực lượng vũ trang chịu sự điều chỉnh của quan hệ mệnh lệnh, chỉ huy, cấp dưới phục tùng cấp trên theo cấp hàm và chức vụ. Sự giao thoa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm tố tụng, dẫn đến ôm đồm trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT, đồng thời đã hạn chế tính độc lập, tính tự chịu trách nhiệm của ĐTV; thực chất đội ngũ ĐTV hiện nay chỉ với tư cách là trợ lý, người giúp việc của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT(3).

Thực tiễn cho thấy, quy định tại Điều 34 về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT và Điều 35 về quyền hạn của ĐTV trong BLTTHS hiện hành có những bất cập trong tổ chức và hoạt động điều tra như sau:

Thứ nhất, khi Thủ trưởng CQĐT vắng mặt, một Phó Thủ trưởng được Thủ trưởng uỷ nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, tức là ủy nhiệm cả thẩm quyền QLHC và thẩm quyền tố tụng và Phó Thủ trưởng chịu trách nhiệm trước Thủ trưởng về nhiệm vụ được giao (Điều 34) là chưa phù hợp vì thực hiện quyền hạn tố tụng trước hết phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Bên cạnh đó trong thực tế, việc ủy nhiệm này thường được ủy nhiệm thường xuyên, vì Thủ trưởng CQĐT với tư cách người đứng đầu chủ yếu làm công tác QLHC, ít trường hợp trực tiếp tổ chức, điều hành công tác điều tra vụ án hình sự.

Thứ hai, hàng ngày lãnh đạo CQĐT quyết định và ký hầu hết các văn bản, quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền CQĐT nhưng chủ yếu trên cơ sở báo cáo, đề xuất của ĐTV, không có điều kiện nghiên cứu, thẩm định hồ sơ, như vậy thực tế là thẩm quyền QLHC đang có sự lấn át TQTT của các chức danh tư pháp; ĐTV hầu như không có quyền quyết định tố tụng.

Thứ ba, Điều 35 của BLTTHS chỉ quy định quyền hạn chung của ĐTV mà chưa có sự phân hóa quyền hạn tố tụng giữa các loại ĐTV (sơ cấp, trung cấp, cao cấp) là bất hợp lý.

Về Viện kiểm sát: Xuất phát từ nguyên tắc “Tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát”, khi tiến hành tố tụng, KSV không độc lập như TP; KSV vừa phải tuân theo pháp luật, vừa phải thực hiện sự chỉ đạo của Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS. Các quyết định tố tụng của VKS là quyết định của Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng, được thực hiện trên cơ sở báo cáo, đề xuất của KSV. Kiểm sát viên chỉ độc lập thực hiện các hành vi công tố và kiểm sát các hoạt động tố tụng, không có quyền ra bất cứ quyết định tố tụng nào thuộc thẩm quyền của VKS.

Về Tòa án: Trong giai đoạn xét xử, Chánh án, Phó Chánh án còn quá nhiều quyền quyết định tố tụng như quyết định việc tạm giam, gia hạn thời hạn xét xử và xét duyệt án trước khi xét xử đã ảnh hưởng đến tính độc lập của TP vì Chánh án, Phó Chánh án đã định sẵn tội danh và mức án, dường như TP chỉ còn diễn tại phiên tòa để hợp thức; nếu phát sinh vấn đề mới thì phải dừng hoặc hoãn phiên tòa báo cáo lại, xin ý kiến.

Chính vì quy định thẩm quyền QLHC và thẩm quyền tố tụng trong BLTTHS còn chưa rõ ràng, đan xen nhau dẫn đến việc giải quyết vụ án bị ách tắc, kéo dài do ĐTV, KSV, TP phải báo cáo, chờ đợi Lãnh đạo xem xét, quyết định tất cả các vấn đề của vụ án. Vì vậy, “Phân định rõ thẩm quyền QLHC với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong việc thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình” như yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra(4) cũng là một trong những “giải pháp đẩy nhanh quá trình tố tụng về vụ án”(5) là hết sức cần thiết.

Để phân định thẩm quyền QLHC với TQTT, tăng quyền hạn cho ĐTV, KSV, TP cần có quan điểm đánh giá, nhìn nhận cho đúng vị trí, trách nhiệm pháp lý của họ là những nhân vật trung tâm, thực hiện hầu hết các hoạt động TTHS để mạnh dạn trao những thẩm quyền tố tụng nhất định để họ chủ động thực thi công vụ một cách kịp thời với trách nhiệm cao. Người đứng đầu các cơ quan tố tụng chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý, điều hành hoạt động tố tụng, nên cần giảm thiểu TQTT để tăng quyền hạn tố tụng cho ĐTV, KSV, TP. Như vậy là nhằm đề cao tính độc lập trong tổ chức và hoạt động tư pháp. Tính độc lập tư pháp không phải chung chung mà phải có địa chỉ cụ thể, đó là tính độc lập của từng chức danh, bảo đảm quyền hạn đi đôi với trách nhiệm, quyền hạn càng lớn thì trách nhiệm càng cao. Tuy nhiên, phải tính đến thực tế hiện nay do năng lực, phẩm chất nghề nghiệp của ĐTV, KSV, TP nước ta chưa đủ khả năng để có thể giao cho họ toàn quyền quyết định tố tụng đối với vụ án như các nước phát triển, mà theo chúng tôi, cần phải có lộ trình tiến hành từng bước.

Với những nhận thức trên, cần sửa đổi các quy định của BLTTHS về thẩm quyền QLHC và quyền hạn tố tụng theo hướng:

Một là, người đứng đầu các cơ quan THTT chủ yếu thực hiện chức năng QLHC như tổ chức, điều hành, phân công, thay đổi cán bộ THTT, kiểm tra hoạt động tố tụng, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tố tụng. Vì tính chất độc lập xét xử thì không nên giao bất cứ một thẩm quyền tố tụng nào cho Chánh án, Phó Chánh án Tòa án các cấp. Hoạt động tố tụng xét xử và quyết định giải quyết vụ án chỉ thuộc về TP. Đối với lãnh đạo CQĐT, VKS chỉ thực hiện các thẩm quyền tố tụng có tính chất quyết định đối với vụ án (truy tố, đình chỉ vụ án), quyết định việc bắt, tạm giam, rút hoặc hủy bỏ quyết định trái pháp luật của cấp dưới.

Hai là, cấp phó trong các cơ quan THTT chỉ thực hiện thẩm quyền QLHC khi được cấp trưởng uỷ quyền để quản lý, điều hành, kiểm tra hoạt động tố tụng của cấp dưới khi Thủ trưởng vắng mặt, còn về mặt tố tụng họ phải có chức danh độc lập; do đó, khi ký các quyết định tố tụng thuộc thẩm quyền thì không phải là ký thay cấp trưởng.

Ba là, các thẩm quyền tố tụng khác giao cho ĐTV, KSV thực hiện. Tuy nhiên, không thể giao quyền chung như luật hiện hành vì quyền phải đi đôi với năng lực, phẩm chất nghề nghiệp và trách nhiệm. Theo đó, cần giao quyền hạn tố tụng tương ứng với từng thứ bậc ĐTV, KSV, TP (sơ cấp, trung cấp, cao cấp, Kiểm sát viên VKSNDTC, Thẩm phán TANDTC).

Từ những định hướng này, việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS hiện hành về phân định thẩm quyền QLHC với trách nhiệm tư pháp cụ thể như sau:

* Sửa đổi nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên: Có ý kiến cho rằng, nếu còn đặt CQĐT trong cơ cấu hành pháp, thì nguy cơ thẩm quyền QLHC vẫn chi phối thẩm quyền tố tụng vì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT kiêm nhiệm cả chức vụ hành chính (như Trưởng, Phó Trưởng Công an huyện, Phó Giám đốc Công an tỉnh đồng thời là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT cấp huyện, cấp tỉnh). Để khắc phục vấn đề này, người đứng đầu CQĐT phải là một chức danh tố tụng độc lập, không kiêm nhiệm chức vụ hành chính để tập trung làm nhiệm vụ chỉ đạo, điều hành công tác điều tra tội phạm. Nhưng có ý kiến cho rằng, khi bước chân vào hoạt động tố tụng thì quan hệ giữa ĐTV với lãnh đạo CQĐT là quan hệ tố tụng. Điều tra viên phải được độc lập hơn so với quy định hiện hành mới bảo đảm hoạt động điều tra được tiến hành một cách chủ động, nâng cao trách nhiệm cá nhân của họ trong việc điều tra vụ án. Theo đó, phải tăng quyền hạn tố tụng cho ĐTV được ra một số quyết định tố tụng. Có ý kiến xuất phát từ thực tiễn năng lực, trình độ của đội ngũ ĐTV hiện nay ở nước ta cho rằng, không nên tăng quyền hạn cho ĐTV vì sẽ dẫn đến việc tuỳ tiện, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Có ý kiến đề xuất xây dựng chức danh Dự thẩm viên có trách nhiệm chính trong tổ chức hoạt động điều tra từ đầu đến khi kết thúc điều tra. Thẩm quyền của Dự thẩm viên tương tự như thẩm quyền của Thủ trưởng CQĐT ở nước ta. Các ĐTV hoặc trợ lý điều tra chỉ là người giúp việc cho Dự thẩm viên trong điều tra vụ án(6). Thủ trưởng CQĐT nói chung, hoặc Viện trưởng VKS (Viện công tố) chỉ là người QLHC và phân công điều tra, điều hành công tác điều tra.

Trong điều kiện chưa tổ chức được hệ thống CQĐT độc lập, tách khỏi Bộ, ngành QLHC và chưa thể xây dựng được đội ngũ Dự thẩm viên như một số nước, để phân định TQHC với quyền hạn tố tụng trong hoạt động điều tra thì không nên giao cho người đứng đầu CQĐT kiêm nhiệm chức vụ hành chính; theo đó Trưởng, Phó Công an huyện, Phó Giám đốc Công an tỉnh không đồng thời là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng CQĐT. Đồng thời, tăng quyền hạn tố tụng cho ĐTV phù hợp với trình độ, năng lực, phẩm chất nghề nghiệp từng loại ĐTV theo hướng:

- Điều tra viên sơ cấp không được thụ lý chính trong việc điều tra vụ án hình sự, chỉ thực hiện một số hoạt động điều tra theo sự phân công của ĐTV trung cấp thụ lý chính vụ án;

- Điều tra viên trung cấp trở lên mới được giao thụ lý chính trong việc điều tra vụ án hình sự, tiến hành tất cả các hoạt động điều tra như quy định của BLTTHS hiện hành và giao thêm quyền được ra một số quyết định tố tụng (ra quyết định trưng cầu giám định, khám người, khám địa điểm; thu giữ thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện, kê biên tài sản; khai quật tử thi, cấp giấy chứng nhận người bào chữa, xử lý vật chứng);

- Điều tra viên cao cấp ngoài các quyền hạn của ĐTV trung cấp, còn có quyền quyết định tố tụng như ra lệnh bắt khẩn cấp, khám xét chỗ ở, chỗ làm việc, ra quyết định tạm giữ, đề nghị gia hạn điều tra; tạm đình chỉ điều tra vụ án; cho bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm.

* Sửa đổi nhiệm vụ, quyền hạn của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Có ý kiến cho rằng, nếu tăng quyền hạn cho Kiểm sát viên là vi phạm nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát, các quyết định tố tụng của VKS phải do Viện trưởng hoặc Phó Viện trưởng ban hành; đồng thời, xuất phát từ thực trạng năng lực của đội ngũ KSV hiện nay, những người theo loại ý kiến này đề nghị giữ quyền hạn của KSV như quy định hiện hành. Quan điểm này đã sai lầm ở chỗ coi quyền hạn của VKS chỉ thuộc về lãnh đạo, còn KSV theo đó chỉ là người giúp việc. Ngược lại, có ý kiến cho rằng, tăng quyền hạn tố tụng cho KSV là thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, để lãnh đạo VKS tập trung làm nhiệm vụ quản lý, điều hành. Kiểm sát viên là người trực tiếp THTT thì phải có quyền quyết định cụ thể, chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước Lãnh đạo Viện. Chẳng hạn, tại phiên tòa, nếu có căn cứ để thay đổi cáo trạng thì KSV tham gia phiên tòa phải được quyền thay đổi, không có lý do gì cứ giữ nguyên quan điểm truy tố để luận tội bị cáo. Theo đó, trong BLTTHS cần có quy định mở rộng tính độc lập của KSV và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân thời gian tới cần đổi mới nguyên tắc “tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành Kiểm sát” cho phù hợp với xu thế cải cách tư pháp. Quan điểm này mới nêu được sự cần thiết phải tăng quyền hạn cho KSV nhưng chưa có phương án giải quyết vấn đề. Có ý kiến khác cho rằng, việc tăng quyền hạn tố tụng cho KSV là thực hiện yêu cầu cải cách tư pháp và tăng quyền hạn tố tụng cho KSV theo cấp bậc KSV sơ cấp, trung cấp, KSV cao cấp và Kiểm sát viên VKSNDTC. Căn cứ vào yêu cầu cải cách tư pháp, khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn, cần đổi mới nhiệm vụ và quyền hạn của người đứng đầu VKS và KSV theo hướng:

- Trong TTHS, Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS các địa phương chủ yếu làm nhiệm vụ phân công, điều hành, chỉ đạo hoạt động tố tụng; kiểm tra việc rút, huỷ bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của KSV; chỉ quyết định những vấn đề quan trọng như áp dụng biện pháp tạm giam, quyết định truy tố, đình chỉ vụ án. Viện trưởng, các Phó Viện trưởng VKSNDTC chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý, điều hành tổ chức và hoạt động TTHS trong toàn Ngành; chỉ đạo tổng kết thực tiễn xét xử và ra chỉ thị về đường lối công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp; kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị bản án tử hình.

- Kiểm sát viên sơ cấp chỉ được thực hiện một số hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử theo sự phân công của KSV trung cấp, KSV cao cấp;

- Kiểm sát viên trung cấp trở lên mới được phân công thụ lý chính vụ án, có quyền phê chuẩn việc bắt khẩn cấp, gia hạn tạm giữ; gia hạn điều tra vụ án; áp dụng các biện pháp ngăn chặn trừ biện pháp tạm giam; yêu cầu khởi tố vụ án, yêu cầu khởi tố bị can hoặc trực tiếp khởi tố vụ án, khởi tố bị can yêu cầu điều tra; quyết định trưng cầu giám định; cấp giấy chứng nhận người bào chữa; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; xử lý vật chứng.

- Kiểm sát viên cao cấp có quyền hạn như KSV trung cấp và giao thêm quyền tạm đình chỉ vụ án, phục hồi truy tố, chuyển vụ án để điều tra, truy tố theo thẩm quyền.

- Kiểm sát viên VKSNDTC sẽ chỉ còn khoảng 17 người, có quyền hạn tố tụng như Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKS cấp tỉnh (quyết định việc bắt, việc tạm giam, việc truy tố, quyết định đình chỉ vụ án) đối với những vụ án do cấp trung ương thụ lý.

* Phân định thẩm quyền hành chính và quyền hạn tố tụng của các chức danh trong Tòa án theo hướng tăng quyền cho Thẩm phán: Pháp luật quy định khi xét xử TP và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật là để đề cao yếu tố khách quan, vô tư, không bị ràng buộc, ảnh hưởng từ bên ngoài. Người TP chỉ căn cứ vào sự thật và pháp luật để xét xử, vì công lý, dứt khoát khi quyết định cần phải đúng. Tuy nhiên, trên thực tế, TP khi xét xử vẫn chưa độc lập, còn bị chi phối bởi cơ chế báo cáo, duyệt án trước khi xét xử. Khi bàn về việc tăng quyền cho TP thì có một số ý kiến sau:

Có ý kiến cho rằng, lãnh đạo Tòa án nghe báo cáo án, định hướng đường lối xét xử là để thực hiện nhiệm vụ tổ chức xét xử mà luật đã quy định, cũng là để đảm bảo thống nhất đường lối xét xử, còn TP thay mặt Tòa án chịu trách nhiệm cuối cùng về quyết định của một bản án. Điều đó phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về trách nhiệm của người đứng đầu đối với toàn bộ hoạt động của cơ quan. Quan điểm này có sự nhầm lẫn giữa tổ chức hoạt động xét xử với tư cách là thẩm quyền hành chính với việc định hướng đường lối xét xử mà bản chất là TQTT. Ngược lại, có ý kiến cho rằng, pháp luật quy định khi xét xử, TP độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, còn lãnh đạo Tòa án có nhiệm vụ tổ chức xét xử thì đó là thẩm quyền QLHC, do vậy, phải phân định rõ ràng thẩm quyền QLHC với quyền hạn tố tụng theo hướng tăng quyền cho TP để không vi phạm nguyên tắc độc lập xét xử của TP.

Căn cứ vào chủ trương cải cách tư pháp của Đảng ta và để khắc phục những tồn tại, vướng mắc trong hoạt động tố tụng của Tòa án, cần đổi mới nhiệm vụ và quyền hạn của người đứng đầu Toà án và TP theo hướng:

- Quy định Chánh án, Phó Chánh án Tòa án các địa phương chủ yếu làm nhiệm vụ tổ chức, phân công, điều hành công tác xét xử của Tòa án; kiểm tra, huỷ bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật của TP trong giai đoạn chuẩn bị xét xử.

- Quy định TP được phân công Chủ tọa phiên tòa, có tất cả các quyền hạn tố tụng của Chánh án, Phó Chánh án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử như áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ biện pháp tạm giam, cấp giấy chứng nhận người bào chữa, gia hạn thời hạn xét xử vụ án. Tại phiên tòa, cùng với các thành viên khác của Hội đồng xét xử, điều hành việc xét xử và quyết định việc ra bản án, quyết định về vụ án.

- Chánh án, các Phó Chánh án TANDTC chủ yếu làm nhiệm vụ quản lý, điều hành tổ chức và hoạt động TTHS trong toàn Ngành; chỉ đạo tổng kết thực tiễn xét xử và ra chỉ thị về đường lối xét xử các vụ án hình sự. Kháng nghị hoặc quyết định không kháng nghị bản án tử hình.

2. Sửa đổi, bổ sung chế định chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng hình sự

Trong quá trình đi tìm và xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự, các ĐTV, KSV và TP, các Luật sư luôn phải tiếp xúc với các chứng cứ. Điều tra viên, KSV và TP, Luật sư giỏi phải là người hiểu biết sâu sắc, có khả năng thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong vụ án hình sự. Những sai lầm trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến các trường hợp oan, sai, bỏ lọt tội phạm và người phạm tội có nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu và trước hết bắt nguồn từ chứng cứ và quá trình thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ. Trong đấu tranh phòng, chống tội phạm phải bảo đảm sự công bằng, ai có hành vi phạm tội tất yếu không tránh khỏi hình phạt, nhưng không được làm oan người vô tội. Điều đó, luôn đặt ra nhu cầu đổi mới, hoàn thiện chế định chứng cứ trong TTHS.

Khoản 1 Điều 64 BLTTHS hiện hành định nghĩa “Chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội cũng như các tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án”. Khoản 2 Điều 64 quy định chứng cứ được xác định bằng “Vật chứng; lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; kết luận giám định, biên bản về hoạt động điều tra, xét xử và các tài liệu, đồ vật khác”.

Quy định trên cho thấy, chứng cứ trong TTHS nước ta có một số đặc điểm sau: 1) Chứng cứ là những gì có thật; 2) Chứng cứ được thu thập theo trình tự do BLTTHS quy định; 3) Chỉ có các cơ quan tố tụng mới có quyền thu thập, đánh giá chứng cứ, những người khác không có quyền thu thập, đánh giá chứng cứ; 4) Chứng cứ được xác định từ những nguồn khác nhau nhưng chưa có quy định nguồn chứng cứ điện tử. Thực tiễn áp dụng cho thấy, chế định về chứng cứ trong BLTTHS hiện hành còn bộc lộ những tồn tại, vướng mắc, bất cập sau:

- Khái niệm “những gì có thật” còn chưa rõ ràng, dẫn đến thực tiễn còn nhận thức khác nhau, có người hiểu “những gì có thật” là “những thông tin có thật”, có người  hiểu “những gì có thật” là “những tài liệu, đồ vật thực tế”, từ đó có sự nhầm lẫn giữa chứng cứ và nguồn chứng cứ.

- Quy định chứng cứ chỉ “được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định” là chưa phù hợp với thực tế cả về biện pháp và thời điểm thu thập chứng cứ. Thực tế cho thấy, ngoài các biện pháp tố tụng, CQĐT, VKS còn áp dụng các biện pháp hợp pháp khác để thu thập chứng cứ hoặc tiếp nhận các tài liệu do thanh tra, kiểm tra của các cơ quan, tổ chức chuyển đến. Có những trường hợp, đã lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại trước khi khởi tố vụ án, nhưng sau đó vẫn phải lấy lại lời khai những người này, làm cho quá trình điều tra kéo dài, phức tạp thêm, nhiều khi không thể thực hiện do không tìm được người bị hại, người làm chứng hoặc trong trường hợp họ đã chết.

- Chỉ các cơ quan THTT mới là chủ thể thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ là không công bằng giữa các chủ thể thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS, người bào chữa cần được thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ để chống lại sự buộc tội.

- Quy định về nguồn chứng cứ được ghi nhận, thể hiện chủ yếu bằng tài liệu, vật chứng, chưa thừa nhận các phương tiện điện tử (ghi âm, ghi hình, đĩa điện tử) để lưu giữ, ghi nhận những “dấu vết điện tử” liên quan đến hành vi phạm tội là chưa phù hợp với thực tiễn, các đối tượng phạm tội triệt để lợi dụng các thành tựu của công nghệ thông tin để gây án, che giấu tội phạm.

Chứng cứ là phương tiện của việc chứng minh, xác định các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Nhờ vào chứng cứ mà các sự kiện thực tế được xác định, khẳng định và đồng thời cũng loại trừ, phủ định những gì không có thật, không xảy ra trong hiện thực, “Chứng cứ được xem là phương tiện để xác định chân lý, chứng cứ không tạo ra chân lý và không biến chân lý thành phi lý, bởi vì chân lý hay phi lý là ở chỗ sự việc có phù hợp với thực tế khách quan hay không”(7). Còn quá trình chứng minh về thực chất và nói chung, suy cho cùng là quá trình giải quyết chứng cứ, mọi giai đoạn TTHS đều được mở ra và kết thúc từ vấn đề chứng cứ, xuất phát từ chứng cứ.

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về chân lý và con đường nhận thức chân lý, khoa học luật TTHS các nước đi theo con đường XHCN đã xác định chứng cứ là những tài liệu thực tế, là những gì có thật để chứng minh tính chân lý của vụ án, “Chứng cứ trong tố tụng hình sự, trước hết đó là những sự thật mà dựa vào đó người ta có thể kết luận được sự thật khác. Căn cứ vào tính chất đó, thì các chứng cứ trong tố tụng hình sự trước hết là những sự thật của vận động khách quan”. Các Luật gia Xô-viết trước đây cho rằng muốn làm rõ được khái niệm chứng cứ cần thiết phải xác định được những dấu hiệu cơ bản của nó. Dấu hiệu cơ bản đầu tiên của chứng cứ là “những tài liệu thực tế, những tài liệu thực tế này được dùng làm phương tiện để xác định các sự kiện và các tình tiết khác”, là tính xác thực của chứng cứ; dấu hiệu cơ bản thứ hai của chứng cứ đó là “tài liệu thực tế xác định các tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”, là tính liên quan của chứng cứ; dấu hiệu cơ bản thứ ba là “chứng cứ phải được thể hiện dưới các hình thức TTHS mà luật đã quy định”, có nghĩa là chứng cứ phải đảm bảo tính hợp pháp. Các Luật gia phương Tây cũng thừa nhận các thuộc tính xác thực, hợp pháp và liên quan của chứng cứ, rằng “Chứng cứ là vật hợp pháp được đưa ra trước Tòa nhằm chứng minh tính xác thực của các sự kiện đã được điều tra”(8), “Chứng cứ là cái để chứng minh sự tồn tại hay không tồn tại của một sự việc liên quan đến vụ án. Chứng cứ bao gồm: Lời khai người làm chứng, các tài liệu, vật chứng ...”(9), “Tất cả những gì có thể chứng minh hành vi phạm tội thì được coi là chứng cứ”(10).

Như vậy, trong quan niệm của các luật gia trên thế giới chỉ khái niệm chứng cứ với các thuộc tính xác thực, hợp pháp và liên quan; không nêu chứng cứ được thu thập theo trình tự, thủ tục gì và không đưa chủ thể đánh giá, sử dụng chứng cứ vào trong khái niệm chứng cứ.

Trong quá trình ghi nhận chứng cứ vụ án, ĐTV, KSV phải bảo đảm tính khách quan và củng cố vững chắc giá trị pháp lý của các nguồn chứng cứ. “Dĩ nhiên là bức tranh không thể lột tả hết được đối tượng và người họa sỹ không tài nào vẽ được hết mẫu vật của mình(11). Vì lẽ đó, việc sử dụng các biện pháp ghi nhận chứng cứ cần phải được phối hợp với nhau nhằm phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế của mỗi biện pháp, tạo khả năng lưu giữ đầy đủ, củng cố các chứng cứ cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ án. Luật TTHS nhiều nước quy định, ngoài các biên bản ghi lời khai, còn được chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, quay phim. Đây là một kinh nghiệm tiên tiến phải được nghiên cứu, tiếp thu, tạo cơ sở pháp lý để mở rộng nguồn chứng cứ, ghi nhận một cách sinh động kết quả các hoạt động điều tra. Cũng như Việt Nam, Luật TTHS nhiều nước không quy định việc sử dụng các tài liệu trinh sát làm chứng cứ để giải quyết vụ án hình sự: “Trong quá trình chứng minh, nghiêm cấm việc sử dụng kết quả hoạt động truy nã nghiệp vụ, nếu những kết quả này không đáp ứng những yêu cầu của việc chứng minh mà BLTTHS quy định”; “Mọi biên bản hoặc báo cáo chỉ có giá trị chứng cứ nếu có hình thức hợp pháp và nếu người lập biên bản hoặc làm báo cáo, đã lập biên bản hoặc làm báo cáo khi thực hiện chức vụ của mình về những sự việc thuộc thẩm quyền của mình và chính mình trông thấy, nghe thấy hoặc đã xác nhận sự việc đó”(12). Vì vậy, không thể quy định các biện pháp trinh sát để thu thập chứng cứ, vì chứng cứ là phương tiện chứng minh tội phạm trước pháp luật, nên biện pháp thu thập chứng cứ phải công khai, hợp pháp.

Trên tinh thần đó, khái niệm chứng cứ cần sửa đổi trong BLTTHS như sau: Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập hợp pháp, được các chủ thể trong quá trình tố tụng dùng để xác định sự thật khách quan của vụ án hình sự.

Để chứng minh sự thật khách quan của vụ án hình sự, đòi hỏi cơ quan THTT phải thu thập và sử dụng đồng bộ, tổng thể các chứng cứ được phản ánh trong các lời khai và các dấu vết, vật chứng. Chứng cứ tinh thần và chứng cứ vật chất đều quan trọng, không xem nhẹ loại chứng cứ nào. Chứng cứ vật chất có giá trị chứng minh cao do tính khách quan và xác thực của nó. Lời khai của người làm chứng, bị can có thể gian dối hoặc nhầm lẫn, nhưng dấu vết, vật chứng thì tự nó nói lên những thông tin về sự kiện thực tế, mặc dù loại chứng cứ vật chất có thể được giả tạo nhưng dễ bị chứng cứ khác phủ nhận, bác bỏ dễ dàng hơn loại chứng cứ lời khai. Thực tiễn cho thấy, nhiều hoạt động phạm tội đã lợi dụng thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, của kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế để gây án và che giấu tội phạm một cách tinh vi, xảo quyệt, do đó nhu cầu thu thập chứng cứ vật chất dưới dạng thông tin điện tử có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc khám phá và giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.

Trước nhu cầu khám phá tội phạm và giải quyết vụ án hình sự hiện nay đặt ra nhu cầu phải mở rộng nguồn chứng cứ theo hướng ngoài vật chứng, lời khai, biên bản các hoạt động điều tra, xét xử và các đồ vật, tài liệu do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp, kết luận giám định, thì băng ghi âm, ghi hình và những dấu vết điện tử được thu thập hợp pháp, công khai theo quy định của pháp luật cũng được coi là nguồn chứng cứ. Theo đó, cần hoàn thiện nguồn chứng cứ trong BLTTHS theo hướng: Ngoài vật chứng, biên bản các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, tài liệu do các cơ quan, tổ chức cung cấp, thì còn là băng ghi âm, ghi hình, các dấu vết điện tử (khi tiến hành hoạt động điều tra, ngoài việc lập biên bản, có thể ghi âm, ghi hình. Các băng, đĩa, thẻ, điện tử… ghi nhận dấu vết của tội phạm, là công cụ hoặc đối tượng tác động của tội phạm được thu giữ có ý nghĩa vật chứng).

Về đánh giá chứng cứ (Điều 66 của BLTTHS), mới chỉ nêu những vấn đề có tính nguyên tắc trong việc đánh giá tính hợp pháp, tính xác thực và liên quan đến vụ án, chưa xác định các tiêu chí chấp nhận và loại trừ chứng cứ. Luật mới chỉ quy định chung: Không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án trình bày, nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó (các Điều 67, 68, 69, 70) và “lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ, nếu phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án”, “không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để kết tội (Điều 72) hoặc những tình tiết liên quan đến vụ án được ghi trong các tài liệu, đồ vật do cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp có thể được coi là chứng cứ (Điều 78).

Kinh nghiệm pháp luật nước ngoài về đánh giá chứng cứ trước hết là chỉ ra những tiêu chí chấp nhận và loại trừ chứng cứ. Luật TTHS một nước Châu Á ghi nhận nguyên tắc cho phép Tòa án tuyên bố những chứng cứ thu thập được bằng những biện pháp trái pháp luật là không có giá trị trước Tòa án: Bất cứ tài liệu nào, văn bản, lời khai nào phục vụ cho việc chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo đều có thể được chấp nhận, trừ trường hợp các chứng cứ đó được thu thập qua việc dụ dỗ, hứa hẹn, dọa bằng các biện pháp bất hợp pháp(13). Lời khai bị can không được chấp nhận hoặc sử dụng nếu Tòa án thấy rằng việc đưa ra lời khai là do bị xúi giục, đe dọa hoặc hứa hẹn người có thẩm quyền sẽ chiếu cố hình phạt hoặc để người đó tin rằng nếu mình khai ra thì sẽ thuận tiện rất nhiều hoặc sẽ tránh được tai họa giáng xuống đầu; hoặc quy định tài liệu không được chấp nhận là chứng cứ nếu người lập tài liệu bị chết, mất tích, không thể có tài liệu khác kiểm chứng. “Nói chung, lời thú tội của bị cáo không được coi là chứng cứ, tuy nhiên bất kỳ một thông tin nào do bị cáo đưa ra, kể cả lời thú tội sẽ được chấp nhận nếu lời thú tội đó giúp tìm ra sự thật liên quan đến việc phạm tội”.

Vì vậy, cần sửa đổi Điều 66 BLTTHS về đánh giá chứng cứ theo hướng:

- Xác định rõ chứng cứ phải có đầy đủ ba thuộc tính: Tính xác thực, tính hợp pháp và tính liên quan. Các thuộc tính này có quan hệ biện chứng với nhau hợp thành một thể thống nhất tạo nên chứng cứ, trong đó tính xác thực và tính liên quan là mặt nội dung của chứng cứ, tính hợp pháp thể hiện hình thức của chứng cứ. Nếu một trong những thuộc tính đó không được bảo đảm thì tài liệu, đồ vật tuy có liên quan đến vụ án nhưng không có giá trị pháp lý, không trở thành chứng cứ của vụ án.

- Bổ sung quy định về bốn tiêu chí loại trừ chứng cứ như sau: (1) Không được áp đặt, suy đoán chủ quan để cho rằng tình tiết, sự kiện nào đó là có thật nếu không ghi nhận, phản ánh được; (2) Những gì có thật nhưng không liên quan đến vụ án thì cũng không phải là chứng cứ của vụ án; (3) Những gì có thật và liên quan đến vụ án, nhưng thu thập bằng các biện pháp trái luật (như mớm cung, bức cung, nhục hình đối với bị can) cũng không có ý nghĩa chứng minh; (4) Không được dùng các tài liệu trinh sát làm chứng cứ để giải quyết vụ án.

 

TS. Đỗ Văn Đương - Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 21/2012

Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi