Thứ Tư, 14/11/2018
Hotline: 0966538999. Email: quangcaotccsnd@gmail.com
Một số vướng mắc trong thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 ở giai đoạn xét xử phúc thẩm và kiến nghị sửa đổi, bổ sung

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 đã tạo ra hành lang pháp lý quan trọng cho các cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự, quy định tương đối chặt chẽ quyền, nghĩa vụ của các cơ quan THTT, người THTT, người tham gia tố tụng; bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức, công dân, giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật.

Tuy nhiên, từ thực tiễn áp dụng BLTTHS năm 2003 đã nảy sinh không ít những vướng mắc, bất cập, nhất là trong giai đoạn xét xử phúc thẩm các vụ án hình sự. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình tội phạm, trước yêu cầu của cải cách tư pháp, Viện thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng (Viện Phúc thẩm 2) nhận thấy cần đề xuất sửa đổi, bổ sung một số nội dung sau:

Thứ nhất, việc gửi bản án sơ thẩm để đảm bảo thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm.

Theo quy định tại các Điều 232, 234 BLTTHS thì: “Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ thẩm”. “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày, kể từ ngày tuyên án”. Tuy nhiên, tại Điều 229 BLTTHS lại quy định: “Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày tuyên án, Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, người bào chữa; gửi bản án cho người bị xử vắng mặt, cơ quan Công an cùng cấp; thông báo bằng văn bản cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị cáo cư trú hoặc làm việc”.

Như vậy, BLTTHS hiện hành có quy định về thẩm quyền, thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát (VKS) cấp trên trực tiếp, nhưng không quy định thời hạn mà Toà án cấp sơ thẩm phải gửi bản án cho VKS cấp này nên trong thực tiễn đã xảy ra không ít khó khăn trong việc thực hiện quyền kháng nghị của Viện kiểm sát cấp phúc thẩm. Để giải quyết vấn đề này, ngành Kiểm sát đã có quy định mang tính nội bộ đó là sau khi nhận được bản án hoặc quyết định của Toà án, VKS cấp sơ thẩm phải sao gửi ngay cho VKS cấp trên trực tiếp. Tuy nhiên, trong thực tế đã có rất nhiều bản án khi được gửi đến VKS cấp trên trực tiếp thì đã hết thời hạn kháng nghị phúc thẩm. Thực trạng trên xảy ra do nhiều lý do khác nhau, trong đó không loại trừ khả năng VKS cấp sơ thẩm biết rõ bản án sơ thẩm có vi phạm nhưng vì lý do nào đó không muốn kháng nghị nên đã không gửi bản án cho VKS cấp trên trực tiếp, hoặc trì hoãn đến khi hết thời hạn kháng nghị mới gửi.

Chúng tôi cho rằng, khi pháp luật đã thừa nhận quyền kháng nghị của VKS cấp trên trực tiếp như một chủ thể độc lập thì phải tạo điều kiện để chủ thể này thực hiện quyền kháng nghị của mình. Cụ thể là, phải quy định rõ trong BLTTHS là Toà án cấp sơ thẩm phải gửi bản án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm. Vì vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung Điều 229 BLTTHS từ: “… Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp…” thành: “... Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án, Toà án cấp sơ thẩm phải giao bản án cho bị cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp…”.

Thứ hai, quy định cụ thể hơn về thời điểm kết thúc kháng cáo, kháng nghị.

Theo quy định tại Điều 234 BLTTHS hiện hành thì “Thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án… Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày kể từ ngày tuyên án”. Điều 96 quy định “Thời hạn mà Bộ luật này quy định tính theo giờ, ngày và tháng… khi tính thời hạn theo ngày thì thời hạn sẽ kết thúc vào lúc 24 giờ ngày cuối cùng của thời hạn”. Như vậy, dù ngày cuối cùng của thời hạn là ngày làm việc hay ngày nghỉ thì thời hạn kháng cáo, kháng nghị cũng sẽ kết thúc vào lúc 24 giờ của ngày đó. Có một thực tế là những năm gần đây, khi Nhà nước quy định tuần làm việc là 5 ngày, các dịp nghỉ lễ cũng nhiều hơn trước đây thì có rất nhiều trường hợp đã gặp khó khăn trong việc kháng cáo, kháng nghị khi thời hạn cuối cùng rơi vào các ngày nghỉ. Giải quyết vấn đề này, tại Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 05/2005) hướng dẫn như sau: “Nếu ngày cuối cùng của thời hạn là ngày nghỉ cuối tuần (thứ bảy, chủ nhật) hoặc ngày nghỉ lễ thì thời hạn kết thúc tại thời điểm kết thúc ngày làm việc đầu tiên theo ngày nghỉ đó”. Có thể dễ dàng nhận thấy hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là không phù hợp với quy định của BLTTHS như đã nêu trên. Trong trường hợp này phải áp dụng văn bản có hiệu lực cao hơn đó là BLTTHS. Tuy nhiên, nếu xét về nội dung thì hướng dẫn trên là hợp lý nhằm đảm bảo triệt để hơn quyền kháng cáo của bị cáo, quyền kháng cáo của đương sự và quyền kháng nghị của VKS. Chúng tôi đề nghị bổ sung vào BLTTHS cách xác định thời điểm kết thúc kháng cáo, kháng nghị khi thời hạn cuối cùng rơi vào các ngày nghỉ để đảm bảo tính hiệu lực của văn bản và tạo sự thống nhất trong nhận thức và áp dụng pháp luật.

Thứ ba, quy định việc gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cấp phúc thẩm.

Để đảm bảo việc thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại các phiên toà phúc thẩm, VKS cấp phúc thẩm phải nghiên cứu hồ sơ vụ án, tuy nhiên, BLTTHS hiện hành không quy định Toà án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ cho VKS cấp phúc thẩm. Liên quan vấn đề này, tại Nghị quyết số 05/2005 của Hội đồng Thẩm phán có hướng dẫn như sau: “Bộ luật Tố tụng hình sự không quy định Toà án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp. Tuy nhiên để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu hồ sơ vụ án để tham gia phiên toà phúc thẩm thì Toà án cần chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp”. Chúng tôi cho rằng, để tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, trong BLTTHS cần phải có một điều quy định việc Toà án cấp phúc thẩm phải gửi hồ sơ cho VKS cùng cấp và quy định về thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp. Khi “luật hoá” vấn đề này cần phải sửa đổi cụm từ “Toà án cần chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp” trong Nghị quyết số 05/2005 thành “Toà án phải chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát cùng cấp”.

Thứ tư, sửa đổi về trình tự xét hỏi và nội dung phát biểu của Kiểm sát viên.

Theo quy định tại Điều 207 BLTTHS năm 2003 thì trình tự xét hỏi là: “Chủ tọa phiên toà hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự”.

Trong bối cảnh cải cách tư pháp hiện nay, trách nhiệm buộc tội thuộc về VKS nên chúng tôi đề nghị sửa đổi Điều 207 theo hướng Kiểm sát viên tiến hành hỏi trước, Chủ tọa phiên toà sẽ điều hành để các chủ thể tiến hành việc xét hỏi, Hội đồng xét xử sẽ tiến hành xét hỏi sau cùng để khẳng định nội dung vụ án, bổ sung các tình tiết cần thiết nhằm phục vụ cho việc ra phán quyết.

Đối với việc Kiểm sát viên trình bày lời luận tại phiên toà sơ thẩm, và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm theo quy định tại Điều 217 và Điều 247 BLTTHS năm 2003 chỉ mới quy định Kiểm sát viên phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, chưa quy định việc Kiểm sát viên phát biểu về việc tuân theo pháp luật của những người THTT và những người tham gia tố tụng. Để khẳng định chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp của VKS trong tố tụng hình sự, nên bổ sung nội dung phát biểu của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật của những người THTT và những người tham gia tố tụng trong các giai đoạn xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vào các Điều 217 và Điều 247 BLTTHS.

Thứ năm, quy định cụ thể hơn về giới hạn xét xử trong giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Phạm vi xét xử phúc thẩm đã được đề cập tại các Điều 248, 249, 250 của BLTTHS hiện hành, trong đó có một số nội dung thiếu cụ thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, đó là:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 249 BLTTHS hiện hành thì “Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn…”. Vấn đề được đặt ra ở đây là “điều khoản Bộ luật Hình sự về tội nặng hơn” mà Toà án cấp phúc thẩm được quyền áp dụng có nằm trong một giới hạn nào đó hay không thì hiện có nhiều quan điểm khác nhau.

Có quan điểm cho rằng, việc Toà án cấp phúc thẩm được áp dụng điều khoản nặng hơn đối với bị cáo đã được quy định rõ ràng tại Điều 249 BLTTHS, trong chương “Thủ tục xét xử phúc thẩm” cũng không có bất cứ một quy định nào về giới hạn của việc áp dụng này, do đó, khi có kháng cáo, kháng nghị, nếu thông qua xét xử mà Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo vào một khoản nặng hơn trong cùng một điều luật đã xét xử sơ thẩm hoặc phạm vào một tội khác nặng hơn tội đã xét xử sơ thẩm thì Toà án có thể tuyên bị cáo phạm tội đó và quyết định hình phạt mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn nào, có như vậy mới khắc phục được những sai sót của bản án sơ thẩm (tất nhiên là phải đảm bảo các điều kiện khác, chẳng hạn quyền bào chữa của bị cáo). 

Chúng tôi cho rằng, trong quá trình giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm thì bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, thủ tục phúc thẩm là xem xét lại bản án sơ thẩm, do đó, khi quyết định áp dụng điều luật của Bộ luật hình sự (BLHS) thì Toà án cấp phúc thẩm có thể áp dụng điều khoản về tội nặng hơn nhưng phải nằm trong phạm vi xét xử sơ thẩm.

Thực tiễn xét xử cũng đã xảy ra nhiều vụ án mà các cơ quan THTT có cách hiểu và vận dụng khác nhau. Một nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến thực tế đó là trong BLTTHS chỉ quy định giới hạn xét xử tại Điều 196 trong phần “xét xử sơ thẩm” mà không quy định giới hạn xét xử trong phần “xét xử phúc thẩm”. Vì vậy, để hạn chế sự tuỳ tiện của Toà án trong việc áp dụng pháp luật, nên bổ sung thêm vào khoản 3 Điều 249 BLTTHS từ “áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn” thành “áp dụng điều khoản BLHS về tội nặng hơn nhưng không được vượt quá phạm vi xét xử quy định tại Điều 196 Bộ luật này”.

Một vấn đề khác liên quan đến phạm vi xét xử phúc thẩm đó là Toà án cấp phúc thẩm có quyền chuyển từ án treo sang hình phạt tù (giam) hay không, hiện BLTTHS không quy định vấn đề này, thực tiễn đã có nhiều cách hiểu và vận dụng khác nhau, đã có nhiều trường hợp Toà án cấp phúc thẩm sửa án không cho bị cáo được hưởng án treo. Để tạo cơ sở pháp lý cho Toà án cấp phúc thẩm trong việc khắc phục việc Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo không đúng, cần thiết phải bổ sung thẩm quyền cho Toà án cấp phúc thẩm vào trong việc sửa bản án sơ thẩm với nội dung không cho bị cáo hưởng án treo.

Một vấn đề nữa có liên quan đến phạm vi xét xử phúc thẩm đó là việc áp dụng hình phạt bổ sung. Tại Điều 249 BLTTHS năm 2003 quy định về “sửa bản án sơ thẩm” thì không có quy định nào đề cập đến việc Toà án cấp phúc thẩm có quyền áp dụng thêm hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Một thực tế đã gây ra nhiều ý kiến khác nhau đó là đối với những vụ án mà cấp sơ thẩm không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, sau xét xử sơ thẩm VKS kháng nghị hoặc bị hại kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm áp dụng hình phạt bổ sung, nếu xét thấy kháng nghị, kháng cáo có căn cứ thì Toà án phúc thẩm có thể áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo hay không? Để tạo cơ sở pháp lý cho Toà án cấp phúc thẩm trong việc khắc phục sai sót của bản án sơ thẩm đề nghị bổ sung nội dung này vào Điều 249. Như vậy, khoản 3 Điều 249 BLTTHS sẽ được sửa đổi thành: “Trong trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị hoặc người bị hại kháng cáo yêu cầu thì Toà án cấp phúc thẩm có thể tăng hình phạt, áp dụng điều khoản Bộ luật Hình sự về tăng nặng hơn; chuyển từ hình phạt tù cho hưởng án treo sang hình phạt tù; áp dụng hoặc tăng hình phạt bổ sung”.

Thứ sáu, bổ sung thêm căn cứ huỷ án sơ thẩm.

Tại khoản 1 Điều 250 BLTTHS năm 2003 về Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án để điều tra lại, không quy định việc “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố” làm căn cứ để huỷ án sơ thẩm, nhưng trong thực tiễn xét xử đã có rất nhiều bản án sơ thẩm đã bị huỷ do vi phạm trong hoạt động điều tra, truy tố như vi phạm về việc tham gia của người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS; vi phạm trong việc lấy lời khai, hỏi cung bị can chưa thành niên từ 14 đến dưới 16 tuổi, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần theo quy định tại khoản 2 Điều 306 BLTTHS; vi phạm trong khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, đối chất, nhận dạng, thu giữ vật chứng.v.v. Để đảm bảo việc xử lý vụ án được đúng đắn, khách quan, Toà án cấp phúc thẩm cần phải huỷ án đối với các trường hợp trên để điều tra, xét xử lại. Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không quy định việc “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố” làm căn cứ để huỷ án sơ thẩm là một thiếu sót cần được khắc phục. 

Đề nghị bổ sung khoản 1 Điều 250 BLTTHS thành: “Toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để điều tra lại khi nhận thấy việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được hoặc có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố”

Thứ bảy, bổ sung quy định về gửi bản án phúc thẩm.       

Theo quy định hiện hành thì bản án phúc thẩm của Tòa án, mặc dù có hiệu lực ngay sau khi ban hành nhưng nó cũng là một đối tượng của hoạt động kiểm sát. Nếu phát hiện những sai sót trong bản án đó, VKS có quyền kiến nghị, nếu phát hiện có những vi phạm nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án thì VKS có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Để làm được điều này, VKS phải có bản án phúc thẩm. Đối với VKS cấp phúc thẩm đây là một thành phần bắt buộc phải có mặt tại phiên toà phúc thẩm thì việc có bản án là điều rất cần thiết, việc VKS phúc thẩm nghiên cứu bản án phúc thẩm chí ít cũng là để xem bản án có đúng với nội dung đã tuyên ở phiên toà hay không. Tuy nhiên, tại Điều 254 BLTTHS hiện hành không quy định Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án phúc thẩm cho VKS cấp phúc thẩm. Thời gian qua việc các Tòa án cấp phúc thẩm gửi bản án cho VKS cấp phúc thẩm chủ yếu dựa trên quan hệ phối hợp giữa hai ngành Toà án và Viện kiểm sát, với cách làm như vậy thì tình trạng không gửi hoặc gửi chậm bản án phúc thẩm là không thể tránh khỏi. Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi kiến nghị sửa đổi Điều 254 BLTTHS như sau: “Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày tuyên án hoặc kể từ ngày ra quyết định, Tòa án cấp phúc thẩm phải gửi bản án hoặc quyết định phúc thẩm cho VKS cùng cấp, người kháng nghị, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Công an nơi đã xét xử sơ thẩm, người kháng cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo...”.

Phan Văn Sơn - Viện trưởng Viện phúc thẩm 2, VKSNDTC

Nguồn: Tạp chí Kiểm sát số 21/2012


Gửi cho bạn bè

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Nghiên cứu - trao đổi